1. Sản xuất nông nghiệp.

Sản xuất nông nghiệp tháng này tập trung chủ yếu vào việc gieo trồng và chăm sóc các loại cây vụ đông. Tính đến 15/1 cả nước đã gieo cấy được 1833 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 96,2% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 113 nghìn ha, bằng 62,1%; phía Nam 1720 nghìn ha, bằng 99,8%. Riêng các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 1458 nghìn ha, bằng 99,3% cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh đã cơ bản hoàn thành kế hoạch gieo cấy như An Giang 210 nghìn ha, đạt 98%; Đồng Tháp 198 nghìn ha, đạt 99,9%; Cần Thơ 180 nghìn ha, đạt 100%. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, các địa phương phía Nam còn thu hoạch được 681 nghìn ha lúa mùa, bằng 79,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 244 nghìn ha, bằng 62,4%.
Gieo trồng các loại cây vụ đông khác nhìn chung nhanh hơn cùng kỳ năm trước, nhất là những loại cây có giá trị kinh tế cao. Theo báo cáo của các địa phương, cũng đến thời điểm trung tuần tháng này diện tích gieo trồng ngô đạt 150 nghìn ha, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, đậu tương 30,3 nghìn ha, tăng 10,6%; lạc 27,8 nghìn ha, tăng 26,9%; thuốc lá 10,3 nghìn ha, tăng 35,5%.

2. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng này bằng 99,4% tháng 12 năm trước và tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước. Hai chỉ tiêu tương ứng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước là tăng 1,7% và tăng 21,4%; của khu vực ngoài quốc doanh giảm 1,8% và tăng 33,9%; của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,4% và tăng 15,8%.
Nhiều sản phẩm chủ yếu đã có mức sản xuất tăng khá cao so với tháng 1/2001 như: Than sạch tăng 27,4%; thủy sản chế biến tăng 51,1%; đường mật tăng 25,3%; vải lụa tăng 36,3%; xi măng tăng 29,5%; sứ vệ sinh tăng 55,5%; gạch lát tăng 46%; thép cán tăng 44,1%; ô tô lắp ráp tăng 69,5%; xe máy lắp ráp tăng 25,9%; xe đạp tăng 68,6%…
Đối với ngành công nghiệp, sản xuất tháng 1 thường thấp hơn tháng 12 năm trước mà nguyên nhân chủ yếu là do tháng đầu năm chưa ký được nhiều hợp đồng sản xuất nên hầu hết các doanh nghiệp tranh thủ bố trí tổng kết, sửa chữa bảo dưỡng thiết bị máy móc; trong khi tháng 12 năm trước lại tập trung hoàn thành kế hoạch, hoàn thành giao hàng cho các hợp đồng chưa xong nên thường có mức sản xuất cao hơn. Nhưng nếu so với tháng 1/2001 thì sản xuất công nghiệp lại có mức tăng trưởng khá cao, do những nguyên nhân sau:
– Tháng 1 năm nay không bị ảnh hưởng bởi các ngày nghỉ Tết Nguyên đán như tháng 1/2001 (Nếu loại trừ ảnh hưởng của những ngày nghỉ Tết Nguyên đán thì mức sản xuất cũng chỉ tăng khoảng 10-12%).
– Một số sản phẩm xuất khẩu trong quí IV/2001 giảm mạnh, thì nay đã có dấu hiệu tăng trở lại như: Thủy sản chế biến, hàng may mặc và một số mặt hàng thực phẩm, xe đạp, động cơ… Mặt khác, phải kể đến ngành đóng tàu đang có triển vọng tăng khá. Ngay từ đầu năm đã có nhiều hợp đồng đóng mới và sửa chữa tàu tải trọng lớn cho các khách hàng trong nước và ngoài nước được ký kết. Ngoài ra, nhiều mặt hàng tiêu dùng phục vụ Tết Nguyên đán năm nay có sự tăng trưởng khá (Đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh) do chất lượng được nâng cao, mẫu mã, chủng loại được cải tiến, hấp dẫn người tiêu dùng và ngày càng chiếm lĩnh thêm được thị phần trong nước.
Tuy nhiên, tháng 1/2002 cũng có một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó có dầu thô khai thác giảm 235 nghìn tấn (Giảm 16%). Dự kiến tháng tới sản xuất công nghiệp sẽ tăng thấp so với cùng kỳ do Tết Nguyên đán năm nay vào tháng 2, thời gian sản xuất ít hơn và vì vậy khả năng tăng trưởng 2 tháng đầu năm 2002 so với cùng kỳ năm trước chỉ vào khoảng 12-13%.
3. Đầu tư và xây dựng.

Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung thuộc vốn ngân sách Nhà nước tháng 1/2002 ước tính đạt 2249,1 tỷ đồng, bằng 10,4% kế hoạch năm, tăng 82,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó trung ương quản lý 1655,1 tỷ đồng, bằng 12,6% và tăng 92%; địa phương quản lý 594 tỷ đồng, bằng 7% và tăng 59,5%. Đến nay, tuy kế hoạch năm 2002 chưa triển khai tới cơ sở, nhưng nhiều đơn vị vẫn có việc làm vì đang tiếp tục thi công các công trình chuyển tiếp lớn như đường Hồ Chí Minh, đường hầm Hải Vân, quốc lộ 10 Quảng Ninh- Thái Bình và các công trình đắp đê ở Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam…
Nhìn chung hoạt động đầu tư và xây dựng những tháng gần đây cũng như tháng 1 năm 2002 đã có một số tiến bộ như: Việc kiểm tra tiến độ thi công cũng như chỉ tiêu được tiến hành chặt chẽ hơn; giải ngân, thanh quyết toán nhanh hơn và việc giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng có chuyển biến tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho cho các công trình giao thông, thuỷ lợi, xây dựng các khu đô thị và nhà ở đẩy nhanh được tiến độ thi công.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ ngày 1 đến ngày 21 tháng 1 năm 2002 đã cấp giấy phép cho 9 dự án với tổng số vốn đăng ký 33,6 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 23,7% về số dự án và bằng 35% về vốn đăng ký. Trong số các dự án đầu tư thì các tỉnh, thành phố phía Nam có 8 dự án với số vốn đăng ký là 33,4 triệu USD, các tỉnh phía Bắc chỉ có 1 dự án ở Hải Phòng với số vốn 0,2 triệu USD.

4. Vận tải.
Để phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân trong dịp Tết Nhâm Ngọ, ngành vận tải đã thực hiện một số biện pháp như: Kết hợp với ngành thương nghiệp đảm bảo vận chuyển đủ hàng hoá phục vụ nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa; tổ chức bán vé tầu hoả từ tháng 12 năm 2001, tăng chuyến và bổ sung toa xe; tăng chuyến bay và giảm giá vé bay đêm… Nhờ vậy, vận chuyển hành khách tháng 1 năm 2002 ước tính đạt 70,5 triệu lượt hành khách và gần 2,5 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,2% về khối lượng vận chuyển và tăng 1,7% về khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hàng hoá tháng này ước tính đạt gần 13,5 triệu tấn và 3,9 tỷ tấn.km, tăng 5,8% về tấn và tăng 2% về tấn.km so với tháng 1/2001.

5. Thương mại, giá cả và du lịch.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2002 tăng 1,1% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,9% (Lương thực tăng 4%; thực phẩm tăng 1,1%); may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,6%; đồ uống, thuốc lá và thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,4%; dược phẩm, y tế và văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,2%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,1%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,9%. Nếu so với tháng 1/2001, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1/2002 tăng 1,9%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 3,9% (Lương thực tăng 10,7%; thực phẩm tăng 1,7%); giáo dục tăng 3,7%; phương tiện đi lại, bưu điện giảm 4,9%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%; đồ dùng, dịch vụ khác tăng 2,2%; các nhóm hàng hoá và dịch vụ còn lại tăng trên dưới 1%. Chỉ số giá vàng tháng 1/2002 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 6,2% so với tháng 1/2001; chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 4%.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2002 ước tính đạt 1 tỷ USD, bằng 91,7% cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 563 triệu USD, bằng 105,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Kể cả dầu thô) xuất khẩu 437 triệu USD, bằng 78,5%. Kim ngạch xuất khẩu tháng này giảm so với tháng 1/2001 một mặt do giá cả trên thị trường thế giới của một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức giá tháng 1/2001, nhưng mặt khác còn do lượng hàng xuất khẩu trong tháng của một số mặt hàng cũng bị giảm sút: Dầu thô xuất khẩu tháng này ước tính chỉ đạt trên 1,4 triệu tấn, bằng 96,4% cùng kỳ năm trước; gạo 50 nghìn tấn, bằng 26,5%; hạt tiêu 1,4 nghìn tấn, bằng 75,6%. Những mặt hàng xuất khẩu đạt khá trong tháng này là: Hàng dệt may đạt 120 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước; hàng thuỷ sản 110 triệu USD, tăng 26,4%; giày dép 140 triệu USD, tăng 6,1%; rau quả 20 triệu USD, tăng 17,6%.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 1 ước tính đạt 1250 triệu USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 870 triệu USD, tăng 17,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 380 triệu USD, tăng 21,8%. Một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước là: Giá trị máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 29,2%; nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 12,4%; hoá chất tăng 21,7%; sản phẩm hoá chất tăng 21,5%; thuốc trừ sâu tăng 74,4%. Nhập siêu trong tháng ước tính 250 triệu USD, bằng 25% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 307 triệu USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 57 triệu USD.
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 1 ước tính đạt gần 200 nghìn lượt người, giảm 7% so với tháng 1/2001, trong đó khách đến với mục đích du lịch 106 nghìn lượt người, chiếm 53,4% tổng số khách; vì công việc 30 nghìn lượt người, chiếm 15,3%; thăm thân nhân 37 nghìn lượt người, chiếm 18,8%; mục đích khác 25 nghìn lượt người và chiếm 12,5%.

6. Một số vấn đề xã hội.
– Đời sống: Theo báo cáo của 24 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, từ đầu năm đến ngày 18/01/2002 đã có 61,6 nghìn hộ với 244,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói giáp hạt, chiếm 0,53% tổng số hộ và 0,45% tổng số nhân khẩu nông nghiệp; so với cùng kỳ năm trước giảm 49,4% về số hộ và giảm 43,5% về số nhân khẩu. Thiếu đói giáp hạt trong kỳ tập trung ở 3 tỉnh: Phú Yên 21,2 nghìn hộ với 61,2 nghìn nhân khẩu; Nghệ An 17 nghìn hộ với 80,8 nghìn nhân khẩu; Thanh Hoá 10,8 nghìn hộ với 47,7 nghìn nhân khẩu. Các địa phương đã cứu trợ cho các hộ thiếu đói giáp hạt 1563 tấn lương thực và 43 triệu đồng. Cùng với việc trợ giúp cho các hộ và nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, hầu hết các địa phương còn triển khai kế hoạch trợ cấp cho các đối tượng chính sách nhân dịp Tết Nguyên đán. Riêng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Đồng Nai đã cấp kinh phí trợ cấp cho 31 nghìn đối tượng được hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, mỗi đối tượng 100 nghìn đồng; 6203 đối tượng xã hội ở các trung tâm và cộng đồng, mỗi suất 50 nghìn đồng; trợ cấp cho 200 trại viên, học viên Trung tâm Xúc tiến Việc làm Xuân Phú, mỗi suất 15 nghìn đồng; trợ cấp cho 182 người phục vụ thương binh nặng, mỗi người 50 nghìn đồng. Ngoài ra, Đồng Nai còn tặng qùa Tết Nguyên đán cho 9 đơn vị và 92 gia đình chính sách tiêu biểu với tổng trị giá trên 27 triệu đồng.
– Dịch bệnh: Các bệnh tả, thương hàn và dịch hạch trong tháng chỉ phát sinh lẻ tẻ ở một số địa phương. Sốt xuất huyết và sốt rét tuy có giảm nhưng số lượt người mắc vẫn còn tương đối lớn. Theo báo cáo của 16/61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì trong 20 ngày đầu tháng 1/2002 có 488 lượt người bị sốt xuất huyết, tập trung ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, An Giang và Bến Tre. Cùng thời gian trên, ở 25/61 tỉnh, thành phố đã có 33,1 nghìn lượt người sốt rét. Riêng số người bị nhiễm HIV/AIDS được phát hiện vẫn tiếp tục gia tăng. Chỉ tính từ 19/12/2001 đến 18/1/2002 cả nước đã phát hiện thêm 1417 người bị nhiễm HIV (Tăng 600 người so với cùng kỳ năm trước) và 153 bệnh nhân AIDS (Tăng 11 người). Như vậy, tính đến 18/1/2002 cả nước đã phát hiện 44393 người nhiễm HIV, trong đó 6551 bệnh nhân AIDS.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ