Năm 2002 là năm thứ hai thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồng thời cũng là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội năm 2002, ngay từ đầu năm Chính phủ và các cấp, các ngành đã tích cực triển khai nhiều giải pháp kinh tế cụ thể, trong quí IV đã tạo được sự tăng trưởng ở mức cao hơn hẳn quí IV năm trước, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và các ngành du lịch, phục vụ công cộng, thương mại trong nước. Tình hình kinh tế-xã hội năm 2002 đã diễn biến theo chiều hướng tích cực. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội then chốt đều thu được những kết quả vượt trội so với năm 2001.
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Theo đánh giá lại, tổng sản phẩm trong nước cả năm 2002 tăng 7,04% so với năm 2001, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,06%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,44%; khu vực dịch vụ tăng 6,54%. Tuy mức tăng mới đạt ở mức thấp của mục tiêu kế hoạch đặt ra đầu năm (7%-7,3%) nhưng so với các nước trong khu vực và các nền kinh tế đang phát triển khác thì mức tăng 7,04% năm nay vẫn ở mức tương đối cao, chỉ sau mức tăng 7,7% của Trung Quốc. Tuy nhiên, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (tháng 11 năm 2002), các nước trong khu vực (trừ Nhật Bản vẫn tăng trưởng ở mức âm) năm 2002 đều có mức tăng trưởng cao hơn nhiều so với năm 2001: Malaysia mức tăng trưởng năm 2001 là 0,4% và năm 2002 là 3,8%; các số liệu tương ứng của Singapore là -2% và 3,8%: Thái Lan là 1,8% và 3,8%; Đài Loan là -2,2% và 3,3%; Hàn Quốc là 3% và 6,1%; Hồng Kông là 0,6% và 1,6%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có mức tăng trưởng tuy chưa bằng mức tăng năm 1999 và 2000 nhưng đã cao hơn năm 2001, khu vực dịch vụ trong 3 năm từ 2000 đến 2002 đã có dấu hiệu phục hồi ở mức tăng trưởng cao; khu vực công nghiệp và xây dựng mức tăng trưởng luôn đạt mức cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế và cao nhất trong 3 khu vực, trong đó công nghiệp ổn định ở mức tăng trưởng cao.
Trong 7,04% tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước của nước ta năm 2002 thì khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,45%; khu vực dịch vụ đóng góp 2,68%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,91%. Nếu quan sát trong 4 năm liền, mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế các năm 2000-2002 của khu vực công nghiệp tương đối cao và ổn định, của dịch vụ tăng dần, còn của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản không ổn định.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 25,43% năm 1999 xuống còn 22,99% năm 2002; các con số tương ứng của khu vực công nghiệp và xây dựng là 34,49% và 38,55%; của khu vực dịch vụ là 40,08% và 38,46%. Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp tuy chậm nhưng đúng hướng, từng bước khai thác được lợi thế của từng ngành sản xuất và từng loại cây trồng vật nuôi. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp và xây dựng tương đối rõ nét, nhưng vẫn phải tiếp tục để phát huy lợi thế của các ngành và sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả cao. Khu vực dịch vụ chỉ phát triển mạnh và chiếm ưu thế khi nền kinh tế đã công nghiệp hoá. Khu vực dịch vụ của ta tuy đã có chuyển dịch bước đầu nhưng sự phát triển của một số ngành như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn vẫn còn chậm so với tiềm năng và khả năng, vì vậy đóng góp của những ngành này vào tăng trưởng còn nhỏ bé.
Do kinh tế vẫn tăng trưởng với tốc độ khá và công tác huy động nguồn thu ngân sách Nhà nước tiếp tục được cải tiến, điều chỉnh nên tổng thu ngân sách năm 2002 ước tính đạt 106,5% dự toán cả năm và tăng 7,8% so với năm 2001. Các khoản thu lớn nhìn chung đều tăng cao so với dự toán cả năm và so với thực hiện năm 2001: Thu từ doanh nghiệp Nhà nước đạt 102,6% dự toán cả năm và tăng 9% so với năm trước; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 116,4% và tăng 28,2%; thu thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 103,6% và tăng 13%; thu từ xuất khẩu, nhập khẩu ghi cân đối ngân sách Nhà nước đạt 102,7% và tăng 24,2%.
Tổng chi ngân sách cả năm ước tính đạt 105,4% so với dự toán cả năm và tăng 7,6% so với năm trước, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 103,3% và tăng 0,2%; chi thường xuyên đạt 105,8% và tăng 6,3%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên đã đạt tỷ lệ tương đối cao so với dự toán cả năm và đều tăng so với năm 2001 như: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 102,7% và tăng 16,2%; chi cho y tế đạt 103,4% và tăng 7,1%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 115,3% và tăng 29,8%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 104,5% và tăng 2,1%. Đến nay, trong điều hành chi ngân sách Nhà nước đã chủ động dành 3550 tỷ đồng để gối đầu cho năm 2003 thực hiện một bước điều chỉnh tiền lương.
2. Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
a. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp năm 2002 có sự chuyển đổi lớn về cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng kinh tế hàng hoá. Nhiều địa phương đã chuyển diện tích gieo trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và các cây trồng khác có hiệu quả hơn. Do vậy, diện tích gieo trồng lúa cả năm chỉ đạt 7485,4 nghìn ha, giảm 7,3 nghìn ha (-0,1%) so với năm 2001, trong đó lúa đông xuân 3033,1 nghìn ha, giảm 23,8 nghìn ha (-0,8%); lúa hè thu 2276,1 nghìn ha, tăng 65,3 nghìn ha (+3%); lúa mùa 2176,2 nghìn ha, giảm 48,8 nghìn ha (-2,2%). Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 45,5 tạ/ha, tăng 2,7 tạ/ha (+6,2%); sản lượng đạt 34,1 triệu tấn, tăng1,95 triệu tấn (+6,1%). Nếu tính thêm 2,3 triệu tấn ngô và các loại cây lương thực có hạt khác thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay đạt 36,4 triệu tấn, tăng 2,1 triệu tấn (+6,1%).
Do tăng diện tích gieo trồng và đẩy mạnh thâm canh nên sản lượng của nhiều cây công nghiệp hàng năm cao hơn năm 2001: Bông tăng 3,6 nghìn tấn (+10,7%); đỗ tương tăng 27,7 nghìn tấn (+15,9%); lạc tăng 33,9 nghìn tấn (+ 9,3%); mía tăng 2,1 triệu tấn (+14,8%).
Diện tích gieo trồng và diện tích thu hoạch của phần lớn cây công nghiệp lâu năm đều tăng nên sản lượng tăng so với năm trước: Sản lượng cao su đạt 331,4 nghìn tấn, tăng 18,8 nghìn tấn (+6%); hồ tiêu 51,1 nghìn tấn, tăng 6,7 nghìn tấn (+15,1%); điều 127,4 nghìn tấn, tăng 74%. Riêng cây cà phê năng suất giảm (do ảnh hưởng của nắng hạn vùng Tây Nguyên và do rớt giá cà phê từ năm trước nên đầu tư và chăm sóc kém), sản lượng cà phê chỉ đạt 688,7 nghìn tấn, giảm 151,9 nghìn tấn (-19,1%).
Nhu cầu thực phẩm tăng nhanh, các chương trình khuyến khích nuôi bò lai sind và bò sữa được triển khai thực hiện tốt đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tính đến 1/10/2002, đàn trâu có 2814,4 nghìn con, tăng 6,6 nghìn con so cùng kỳ năm 2001; đàn bò 4063 nghìn con, tăng 164 nghìn con; đàn lợn 23170 nghìn con, tăng 1369 nghìn con; đàn gia cầm 233,3 triệu con, tăng 15,2 triệu con.
b. Lâm nghiệp
Do nguồn vốn tập trung cho trồng rừng giảm lại gặp hạn hán kéo dài ở một số vùng phía Nam nên diện tích trồng rừng tập trung cả năm ước tính chỉ đạt 191,8 nghìn ha, bằng 99,1% năm 2001, trong đó diện tích trồng rừng tập trung thuộc Dự án “5 triệu ha” đạt 154,4 nghìn ha, chiếm 81% tổng diện tích. Ngoài ra trong năm còn trồng được 195 triệu cây phân tán. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2428,1 nghìn m3, tăng 31 nghìn m3 (+1,3%) so với năm 2001, trong đó gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm tỷ trọng cao (64,2%). Tồn tại lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp là công tác quản lý rừng chưa được tốt, lực lượng kiểm lâm còn quá mỏng dẫn đến tình trạng chặt phá rừng vẫn tái diễn và đặc biệt xảy ra cháy rừng trên phạm vi rộng. Cả nước đã có 11,54 nghìn ha rừng bị cháy, tăng 10 nghìn ha so với năm 2001 và 4,1 nghìn ha rừng bị phá, tăng 1,3 nghìn ha, trong đó diện tích rừng bị cháy của 2 tỉnh Cà Mau và Kiên Giang chiếm 74% diện tích rừng bị cháy của cả nước.
c. Thuỷ sản
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng và khai thác đạt 2,6 triệu tấn, tăng 5,9%, trong đó cá 1812,7 nghìn tấn, tăng 4,9%; tôm 276,1 nghìn tấn, tăng 8,3%; thuỷ sản khác 489,7 nghìn tấn, tăng 8,3%. Ngành thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao trước hết là do thời tiết trong năm thuận lợi, mặt khác do số lượng tàu đóng mới để đánh bắt xa bờ tăng lên. Một số địa phương còn phát triển mô hình nuôi tôm càng xanh, cá chim trắng, cá lồng, cá bè trong vùng nước ngọt. Nhờ vậy, diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm nay đạt 819,8 nghìn ha, tăng 8,6% so với năm 2001, trong đó diện tích nuôi tôm tăng 8,5%.
Tính chung, giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994 của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2002 đạt 154,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,4% so với năm 2001, trong đó nông nghiệp 121 nghìn tỷ đồng, tăng 5,2%; thuỷ sản 27,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3%.
3. Công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm 2002 có tốc độ tăng trưởng cao hơn các tháng đầu năm và thuận lợi hơn những tháng cuối năm 2001. Các mặt hàng có tính chất quyết định cho tăng trưởng công nghiệp phát triển ổn định trong năm và có mức tăng trưởng cao. Riêng ngành khai thác dầu khí, sau nhiều tháng trong năm liên tục giảm đã có dấu hiệu phục hồi tăng trưởng. Sản lượng dầu thô khai thác đã tăng trở lại vào các tháng cuối năm.
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp năm 2002 ổn định với nhịp độ tăng trưởng cao. Dự tính giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 tăng 14,5% so với năm 2001, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,7% (Trung ương tăng 12,6%, địa phương tăng 9,8%); khu vực ngoài quốc doanh tăng 19,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,5% (dầu mỏ và khí đốt giảm 0,2%, các doanh nghiệp khác tăng 21,8%).
Một số sản phẩm công nghiệp quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp tăng cao và ổn định trong năm đã quyết định tốc độ tăng cao của toàn ngành là: Thủy sản chế biến tăng 25,2%, xi măng tăng 25,8%, than sạch tăng 18,9%, tivi tăng 39,2%, ô tô lắp ráp tăng 35,9%, xe máy lắp ráp tăng 24,4%, xe đạp hoàn chỉnh tăng 26,9%, điện phát ra tăng 16%, quạt điện dân dụng tăng 22,1%, gạch lát tăng 36,7%, thép cán tăng 27,7%, máy công cụ tăng 31,8%, động cơ điện tăng 25,9%, máy biến thế tăng 19,2%… Bên cạnh đó, vẫn còn có những sản phẩm tăng chậm hoặc giảm sút so với cùng kỳ năm trước như: Bia chỉ tăng 4,9%, đường mật các loại chỉ tăng 1,7%, dầu thô khai thác giảm 1,2%, quần áo dệt kim giảm 6%; thuốc trừ sâu giảm 14,2%; thuốc viên chữa bệnh giảm 1,9%… Riêng ô tô, xe máy lắp ráp tháng 12 giảm mạnh (ô tô chỉ đạt 84,3%, xe máy chỉ đạt 61,3%) so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp thuộc ngành này đang khó khăn từ chủ trương dự kiến tăng thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng lắp ráp ô tô, xe máy vào 1/1/2003 của Bộ Tài chính.
Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp trên địa bàn tương đối lớn đạt tốc độ tăng cao hơn mức tăng bình quân của cả nước là: Hà Nội tăng 23,8%; Hải Phòng tăng 26%; Quảng Ninh tăng 17,3%; Bình Dương tăng 36,9%; Đồng Nai tăng 17%; đặc biệt là công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với tỷ trọng 27,5% công nghiệp cả nước đạt mức tăng 14,7% (9 tháng vẫn thấp hơn mức tăng chung của công nghiệp cả nước). Riêng Bà Rịa-Vũng Tàu với tỷ trọng trên 11% công nghiệp cả nước đã đạt được mức tăng 1,9% do sản lượng khai thác dầu thô ở những tháng cuối năm đã tăng cao trở lại.
Sở dĩ ngành công nghiệp có tốc độ tăng cao trong năm 2002 là do: (1) Định hướng, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đưa ngành công nghiệp phát triển mạnh và ổn định trong những năm gần đây. Các chính sách khuyến khích và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp cùng phát triển và luật doanh nghiệp ngày càng đổi mới và hoàn chỉnh đã thực sự phát huy tác dụng, làm cho ngành công nghiệp tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và qui mô đầu tư cả về chiều rộng lẫn chiều sâu; (2) Nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình dân dụng tăng, sức mua của người dân tăng lên đã làm tăng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp trên thị trường trong nước đặc biệt là các sản phẩm như vật liệu xây dựng, các mặt hàng về nông sản, thực phẩm chế biến, may mặc và các các mặt hàng nhu yếu phẩm khác… (3) Tăng xuất khẩu một số sản phẩm công nghiệp vốn là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và truyền thống như hàng dệt may, thuỷ sản chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ, dầu thô, than.
4. Đầu tư
Ước tính thực hiện vốn đầu tư phát triển năm 2002 đạt 180,4 nghìn tỷ đồng, bằng 104% kế hoạch năm và tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:
Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung năm 2002 ước tính đạt 24,2 nghìn tỷ đồng, bằng 105,1% kế hoạch năm và chỉ bằng 93,1% năm 2001. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý thực hiện 14,9 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1% kế hoạch năm, trong đó các Bộ có khối lượng vốn đầu tư lớn là Bộ Giao thông Vận tải đạt 109,5%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 104,4%; Bộ Y tế đạt 102,5%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 9,3 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1% kế hoạch năm, trong đó có 45 tỉnh, thành phố đạt và vượt kế hoạch. Trong số 16 tỉnh, thành phố chưa hoàn thành kế hoạch có một số tỉnh mới đạt dưới 90%: Hà Tây đạt 85,8%, Nghệ An đạt 73%, Bà Rịa- Vũng Tàu đạt 82,7%, Cà Mau đạt 58,2%.
Trong ngành điện, năm nay Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã triển khai 678 công trình, trong đó có 65 công trình nguồn điện và 613 công trình lưới điện. Đã đưa vào vận hành các nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận, thuỷ điện Đa Mi, nhiệt điện Bà Rịa, nhiệt điện Phú Mỹ I và tổ máy I nhiệt điện Phả Lại với tổng công suất là 1113 MW. Số km đường dây điện và dung lượng trạm biến thế đưa vào vận hành là 4701 km và 5693 KVA. Ngoài ra còn hoàn thành hàng trăm công trình lưới điện nông thôn và các công trình cải tạo lưới điện ở các thành phố, thị xã. Hiện nay, ngành điện đang đẩy mạnh tiến độ thi công để đầu năm 2003 hoàn thành một số công trình lưới điện lớn như: trạm biến thế điện 220KV Nghi Sơn, trạm 220 KV Thái Bình, trạm 220KV Đa Nhim -Nha Trang, trạm 110 KV Đông Hà -Lao Bảo, trạm 220KV Tràng Bạch – Quảng Ninh, trạm 110 KV Ninh Bình -Tam Điệp, trạm Đồng Hoà -Kiến An – Đồ Sơn…
Về giao thông, làm mới, nâng cấp, sửa chữa 2690 km đường bộ, 19547 m cầu; sửa chữa, nâng cấp 209 km đường sắt, 2000m cầu đường sắt, 450m cầu cảng và nạo vét 350 nghìn m3 luồng lạch đường sông. Hầu hết các công trình trọng điểm giao thông đều hoàn thành theo kế hoạch: 130 km Quốc lộ 10 đoạn Ninh Bình -Hải Phòng, 37 km Quốc lộ 18 Bắc Ninh- Chí Linh, 303 km Quốc lộ 1 đoạn Đông Hà- Quảng Ngãi; hoàn thành cơ bản 80 km đường xuyên Á và một số đoạn quan trọng của các Quốc lộ 32A, Quốc lộ 32C, Quốc lộ 24B, Quốc lộ 12, Quốc lộ 30, Quốc lộ 80… Đưa vào sử dụng các cầu lớn như: cầu Tân Đệ, Qúi Cao, Non Nước, Phả Lại, Đá Bạch và hoàn thành cơ bản phần xây lắp cảng Cái Lân, cảng Cần Thơ, cảng Cà Mau, 5 cầu đường sắt tuyến Hà Nội- thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, còn một số dự án chưa đảm bảo được tiến độ thi công như: Quốc lộ 1 đoạn Quảng Ngãi -Nha Trang, Quốc lộ 18 đoạn Hòn Gai -Cửa Ông, Quốc lộ 91… Về tu bổ đê điều, cơ bản đã hoàn thành kế hoạch năm 2002 với khối lượng thực hiện gần 2 triệu m3.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/12/2002 đã có 669 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1333,2 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 32,4% về số dự án, nhưng giảm 41,1% về vốn đăng ký. Do vậy, qui mô vốn đăng ký bình quân một dự án được cấp giấy phép năm nay chỉ còn khoảng 2 triệu USD, thấp xa so với qui mô 4,5 triệu của năm 2001. Ngành công nghiệp và xây dựng có 547 dự án với số vốn đăng ký 1077,8 triệu USD, chiếm 81,8% về số dự án và 80,8% về vốn đăng ký.
Trong tổng số các dự án, một số dự án có số vốn đầu tư lớn là: dự án của công ty TNHH giày Ching Luh vốn đầu tư 50 triệu USD, 2 dự án dầu khí với số vốn gần 30 triệu USD, dự án sản xuất giầy thể thao của Hàn Quốc tại khu công nghiệp Đồng Nai với số vốn 39,5 triệu USD; dự án sản xuất giày và phụ liệu của công ty TNHH Freetrend Industry A Hông Kông tại thành phố Hồ Chí Minh với số vốn 20 triệu USD, dự án sản xuất bán dẫn taị khu công nghiệp Hà Nội vốn đầu tư 30 triệu USD; dự án sản xuất thiết bị vệ sinh của công ty ToTo Nhật Bản ở Hà Nội 23 triệu USD; dự án phát triển công ty Quốc tế thế kỷ 21 thành phố Hồ Chí Minh với số vốn 48 triệu USD; Dự án khu nghỉ mát tại Quảng Nam 30 triệu USD…
Các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài tập trung chủ yếu vào các tỉnh, thành phố phía Nam, trong đó thành phố Hồ Chí Minh có 202 dự án với 243,4 triệu USD vốn đăng ký; Bình Dương 140 dự án với 243,7 triệu USD; Đồng Nai 89 dự án với 243 triệu USD. Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 143 dự án với số vốn đăng ký 306,2 triệu USD, chỉ chiếm 23,6% về số dự án và 26,1% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 55 dự án với vốn đăng ký 122,2 triệu USD, Hải Phòng có 22 dự án với 36,7 triệu USD, Quảng Ninh 11 dự án với 37,6 triệu USD, Lạng Sơn có 6 dự án với 11,2 triệu USD…
Các nước và vùng lãnh thổ có nhiều dự án và vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 173 dự án với số vốn đăng ký 247 triệu USD; Hàn Quốc 137 dự án và 247,8 triệu USD; Nhật Bản 42 dự án và 89,9 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 53 dự án và 142,8 triệu USD; Malaixia 25 dự án và 70,3 triệu USD; Mỹ 32 dự án với 139 triệu USD; CHND Trung Hoa 50 dự án và 59,8 triệu USD; Liên bang Nga 5 dự án và 27,5 triệu USD…
Nhìn chung, hoạt động đầu tư xây dựng năm 2002 đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra và có một số tiến bộ trong các khâu chuẩn bị, quản lý và giám sát thi công. Tuy nhiên, vẫn còn không ít công trình có nhiều khó khăn, tồn tại trong các khâu: giải phóng mặt bằng chậm; hồ sơ, thủ tục thiếu đầy đủ, chặt chẽ đã làm ảnh hưởng tới việc thẩm định, đấu thầu và cấp vốn…
5. Vận tải.
Vận chuyển hành khách năm 2002 ước tính đạt 850,1 triệu lượt hành khách và gần 31,4 tỷ lượt hành khách.km. So với cùng kỳ năm trước tăng 3,7% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,3% về khối lượng luân chuyển. Tương tự, vận chuyển hàng hoá đạt gần 162 triệu tấn và 50,4 tỷ tấn.km, tăng 5,5% về khối lượng vận chuyển và 6,2% về khối lượng luân chuyển.
Hoạt động vận tải nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và nhu cầu đi lại của dân cư, góp phần tăng trưởng kinh tế. Ngành đường sắt đã có một số đổi mới trong phục vụ: bán vé điện toán tự động, sử dụng toa xe 2 tầng để tăng lượng vận chuyển trong các dịp lễ tết, thực hiện chính sách bán vé ưu đãi… Ngành hàng không đảm bảo được an toàn các chuyến bay, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại của khách và tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế. Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm nay đã mở thêm nhiều chuyến xe buýt nhằm tăng cường giao thông công cộng, bước đầu có những thành công, đã đáp ứng một phần nhu cầu đi lại của nhân dân và góp phần giảm bớt ùn tắc trong giao thông. Tuy nhiên, đáng lo ngại là mặc dù các cấp, các ngành đã triển khai nhiều biện pháp hạn chế tai nạn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra với mức độ lớn.
6. Thương mại, giá cả và du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2002 ước tính đạt 272,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với năm trước. Trong đó kinh tế Nhà nước đạt 46,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,2% và tăng 9,8%; kinh tế cá thể 179,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 65,6% và tăng 12,6%; kinh tế tập thể, tư nhân, hỗn hợp và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 46,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,2% và tăng 16,8%. Nếu theo ngành hoạt động thì kinh doanh thương nghiệp chiếm 71,1% và tăng 12,1%; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,9% và tăng 15,9%; dịch vụ chiếm 5% và tăng 13,1%; du lịch lữ hành chiếm 1,1% và tăng 21,2%; cơ sở sản xuất trực tiếp bán lẻ chiếm 9,9% và tăng 11,6%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2002 so với tháng 12 năm 2001 tăng 4%, trong đó lương thực, thực phẩm tăng 5,7% (lương thực tăng 2,6%, thực phẩm tăng 7,9%); nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng mạnh nhất 7,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,6%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 1,7%; nhóm giáo dục tăng 1,2%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,1%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,8%; Riêng nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 1%. Chỉ số giá vàng tháng 12 năm 2002 so với tháng 12 năm 2001 tăng 19,4% và chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,1%.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2002 ước tính đạt 16,53 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2001, chỉ đạt được mức thấp của mục tiêu tăng xuất khẩu đã được đề ra cho năm 2002 là tăng từ 10 đến 12%; trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 8,76 tỷ USD, tăng 6,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu gần 7,77 tỷ USD, tăng 14,3%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,5 tỷ USD trở lên có mức tăng cao là dệt, may tăng 37,2%; thuỷ sản tăng 13,9%; giày dép tăng 17,2%; riêng dầu thô tăng 3,2%, do chỉ tăng 0,7% về lượng xuất khẩu. Xuất khẩu gạo năm 2002 chỉ bằng 86,9% lượng gạo xuất khẩu năm 2001 nhưng do giá xuất khẩu gạo tăng, nên kim ngạch xuất khẩu tăng 16,2% so với năm trước. Tính chung 5 mặt hàng trên (dầu thô, dệt may, thuỷ sản, giầy dép và gạo) chiếm khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 9,66 điểm phần trăm trong 10% tăng trưởng xuất khẩu năm 2002. Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống và nông sản khác tuy kim ngạch không lớn nhưng đạt tăng trưởng cao cả về lượng và kim ngạch như hàng thủ công mỹ nghệ tăng 39,1%; cao su tăng 44,1% về lượng và 58,6% về trị giá; tương tự hạt điều tăng 43,9% và 39,5%; than đá tăng 36,8% và 31,3%; hạt tiêu tăng 35,1% và 18,4%; chè tăng 9,5% và 5,5%; lạc tăng 36,7% và 36,1%. Tuy nhiên, còn có một vài mặt hàng kim ngạch giảm nhiều so với năm trước như: hàng điện tử, máy tính giảm 15,2%; cà phê giảm 19,1%; rau quả giảm 39,4%. Nguyên nhân chính dẫn đến xuất khẩu năm 2002 tăng khá hơn 2001 và đạt được mục tiêu đề ra là: (1) Việc thực hiện hiệp định Thương mại Việt-Mỹ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu sang thị trường Mỹ, dự kiến năm 2002 xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt trên 2 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần năm 2001; (2) Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động xúc tiến thương mại, tìm kiếm mở rộng thị trường. Chúng ta đã xuất khẩu sang hầu hết các nước trên thế giới: Tính đến cuối tháng 10 hàng nước ta đã có mặt trên 200 nước và khu vực lãnh thổ; (3) Giá một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đã dần phục hồi, giá gạo và dầu thô tăng đáng kể; (4) Trong những tháng cuối năm cơ chế, chính sách có liên quan đến xuất khẩu tiếp tục được cải thiện như giảm tỷ lệ khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng nông, lâm và thủy sản; ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu làm hàng xuất khẩu…
Kim ngạch nhập khẩu cả năm ước tính đạt 19,3 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm 2001, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 12,72 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 6,58 tỷ USD, tăng 32,1%. Kim ngạch nhập khẩu năm nay tăng nhiều chủ yếu do tăng nhập nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. So với năm 2001 kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu có tốc độ tăng cao như máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 35%, sắt thép tăng 36,6%; chất dẻo tăng 24,2%; sợi dệt tăng 26,2%; vải tăng 80,6%; sản phẩm hoá chất tăng 31%; thuốc trừ sâu tăng 25,7%. Nhập siêu năm nay khoảng 2,8 tỷ USD, bằng 16,8% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 3,95 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 1,18 tỷ USD.
Khách quốc tế đến Việt Nam năm nay ước tính đạt 2628,2 nghìn lượt người, tăng 12,8% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch là 1462 nghìn lượt người, tăng 19,6%; vì công việc là 445,9 nghìn lượt người, tăng 11,2%; thăm thân nhân là 425,4 nghìn lượt người, tăng 9% và mục đích khác 294,9 nghìn lượt người, giảm 7%.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số, lao động, việc làm và đời sống dân cư.
Dân số trung bình năm 2002 của cả nước ước tính khoảng 79,7 triệu người, tăng 1,31% so với dân số trung bình năm 2001, trong đó dân số thành thị 19,9 triệu (chiếm khoảng 25% số dân) tăng 2,3% và dân số nông thôn 59,8 triệu, tăng 0,98%. Dân số nam 39,2 triệu người, chiếm 49,2% và nữ 40,5 triệu người, chiếm 50,8%.
Một trong những yếu tố làm cho tốc độ tăng dân số trung bình năm 2002 thấp hơn tốc độ tăng dân số các năm trước là do chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình trong những năm vừa qua đạt kết quả khá: tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai tương đối cao và không ngừng tăng lên. Theo số liệu điều tra biến động DS-KHHGĐ tại thời điểm ngày 1 tháng 4 hàng năm thì tỷ lệ này đã tăng từ 70,1% năm 1997 lên 71,9% năm 1998; 72,7% năm 2000; 73,9% năm 2001 và 76,9% năm 2002.
Kết quả sơ bộ cuộc điều tra lao động và việc làm 1/7/2002 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 6,01% (giảm 0,27% so với năm 2001) và tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của lao động trong độ tuổi khu vực nông thôn là 75,3%.
Do kinh tế tiếp tục tăng trưởng và giá cả tương đối ổn định nên nhìn chung đời sống dân cư đã được cải thiện hơn so với trước, cả ở thành thị và nông thôn. Thu nhập bình quân một tháng năm 2002 của một lao động trong khu vực Nhà nước ước đạt 999,3 nghìn đồng (năm 2001 là 889,6 nghìn đồng), trong đó lao động thuộc trung ương quản lý đạt 1297,2 nghìn đồng và lao động địa phương quản lý đạt 787,4 nghìn đồng. Một số ngành có mức thu nhập bình quân một tháng trên 1,5 triệu đồng là: Công nghiệp khai thác 1759,4; điện, nước 1853,4 nghìn đồng; giao thông vận tải 1717,7 nghìn đồng; tín dụng 1827,9 nghìn đồng và tư vấn đầu tư 1617,3 nghìn đồng.
Nhiều doanh nghiệp tiếp tục đổi mới, chuyển đổi, thực hiện cổ phần hoá và đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập cho người lao động; trong khu vực hành chính sự nghiệp một số đơn vị đã tiến hành tinh giảm biên chế, khoán chi và thực hành tiết kiệm nên đời sống cũng có phần được cải thiện hơn. Ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp ổn định, giá nông sản, thực phẩm tăng nên đời sống nông dân nhìn chung cũng đã được cải thiện.
Tình trạng thiếu đói tuy còn xảy ra nhưng đã giảm so với năm trước. Tính chung cả năm 2002, cả nước có khoảng 1519 nghìn lượt hộ với 7032 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, so với năm 2001 đã giảm 10% về số hộ và giảm 12% về số nhân khẩu. Trong năm, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ 13,6 nghìn tấn lương thực và 36,7 tỷ đồng cho các hộ thiếu đói. Công tác xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ các gia đình khó khăn tiếp tục được duy trì; số hộ nghèo năm 2002 đã giảm 30 vạn hộ, đưa tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước xuống còn 14,3%. Bên cạnh đó cũng đã tích cực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho xã nghèo, phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm, hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ y tế, giáo dục cho người nghèo.
Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các đối tượng chính sách được thực hiện rộng khắp từ trung ương đến địa phương bằng nhiều hoạt động thiết thực và có ý nghĩa. Năm 2002 đã có thêm 1000 xã, phường được công nhận là đơn vị thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng, nâng tổng số xã phường được công nhận trong cả nước lên 6570 đơn vị, chiếm 65% tổng số xã phường trong cả nước. Cũng trong năm 2002, đã xây mới và sửa chữa hơn 10 nghìn nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 80 tỷ đồng, trong đó xây mới 6,1 nghìn nhà; huy động quỹ đền ơn, đáp nghĩa 185 tỷ đồng; tặng 13,7 nghìn sổ tiết kiệm trị giá 7,6 tỷ đồng; 22 nghìn dụng cụ chỉnh hình, 1 nghìn xe lăn với trị giá gần 10 tỷ đồng…
Công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tiếp tục được duy trì: có hơn 70% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được giúp đỡ, hỗ trợ bằng nhiều hình thức, trong đó 55,2 nghìn trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, tàn tật được trợ cấp, cứu trợ xã hội; 13,6 nghìn trẻ em được nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội; hỗ trợ 21,8 nghìn trẻ em được chỉnh hình, phục hồi chức năng; 6,6 nghìn em học nghề; 5 nghìn em trở về với gia đình và hàng triệu trẻ em được hỗ trợ về y tế và giáo dục.
2. Văn hoá, thể thao
Công tác văn hoá thông tin năm 2002 tập trung vào hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn và tuyên truyền bầu cử Quốc hội khoá XI, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hoạt động văn hoá, thông tin cơ sở. Ngành Văn hoá Thông tin đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động bầu cử Quốc hội khoá XI ở 61 tỉnh, thành phố, đặc biệt là các điểm vùng sâu, vùng xa với nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin cổ động đã tạo không khí vui tươi phấn khởi cho nhân dân trước sự kiện trọng đại của đất nước. Cũng trong năm 2002, ngành Văn hóa Thông tin đã cùng với tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức thành công lễ hội Festival Huế 2002 với 150 chương trình văn hoá, 28 chương trình lễ hội cộng đồng có sự tham gia của 33 đoàn nghệ thuật, 1554 nghệ sỹ, diễn viên, trong đó có 283 nghệ sỹ, diễn viên các đoàn nghệ thuật của 9 quốc gia tham dự. Công tác giáo dục về chính trị, văn hoá và tuyên truyền phổ biến pháp luật đã được tăng cường.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được đẩy mạnh. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt phong trào này bằng các hình thức như xây dựng các làng văn hoá, khu phố văn hoá, gia đình văn hóa, tích cực đưa các hoạt động văn hoá thông tin về cơ sở, khai thác và phát huy vốn văn hoá dân gian cổ truyền, bảo tồn các lễ hội truyền thống…
Về công tác xuất bản, năm 2002 đã xuất bản được 9154 đầu sách với 186,2 triệu bản sách, đạt 130% kế hoạch về số đầu sách và 164% về số bản sách. So với năm 2001, số đầu sách tuy chỉ bằng 97% nhưng số bản sách tăng 5%.
Công tác thanh tra văn hoá và phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai tích cực và tiến hành thường xuyên. Các hoạt động tiêu cực trong lĩnh vực văn hoá như: In, nhân bản lậu, kinh doanh văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ… khi phát hiện đã được xử lý nghiêm như đình chỉ hoạt động, xử phạt hành chính, thu giữ phương tiện hành nghề, thu giữ và tiêu huỷ các ấn phẩm… Về phòng chống các tệ nạn xã hội, đã lập hồ sơ quản lý 16,8 nghìn đối tượng mại dâm; 131,5 nghìn đối tượng nghiện hút ma tuý; chữa trị và giáo dục cho 5 nghìn gái mại dâm, dạy nghề cho 3 nghìn đối tượng; cai nghiện phục hồi cho 42 nghìn đối tượng nghiện hút ma tuý bằng nhiều hình thức như cai nghiện bắt buộc tại các trung tâm, cai nghiện tự nguyện tai các cơ sở chữa trị và cai nghiện tại cộng đồng.
Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi động và rộng khắp trên phạm vi cả nước. Năm 2002 ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ IV với số lượng lớn vận động viên trong cả nước tham dự. Đại hội đã trao 1774 huy chương, trong đó có 525 huy chương vàng, 518 huy chương bạc và 731 huy chương đồng cho 60/64 đoàn tham dự.
Phong trào thể dục thể thao quần chúng được triển khai rộng khắp đồng thời thực hiện tốt giai đoạn 2 cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Có 14% dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên; 67% số trường học thực hiện chương trình giáo dục thể chất, trong đó có 18% số trường học có phong trào thể dục thể thao ngoại khoá; trên 90% cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể thao theo qui định.
Trong thể thao thành tích cao, Uỷ ban Thể dục Thể thao đã có quyết định tập huấn 38 đội dự tuyển Quốc gia và 15 đội dự tuyển trẻ gồm gần 1000 vận động viên, 172 huấn luyện viên, chuyên gia. Một số đội tuyển thể thao mũi nhọn được đi tập huấn và tham gia thi đấu ở nước ngoài để nâng cao thành tích và trình độ nhằm đạt được kết quả cao nhất tại SEA GAMES 22. Thành tích thi đấu của một số đội tuyển Quốc gia ở các giải thi đấu Quốc tế tương đối khá với 59 huy chương vàng, 28 huy chương bạc và 21 huy chương đồng.
Công tác chuẩn bị đăng cai SEA GAMES 22 tổ chức vào năm 2003 ở nước ta được tiến hành khẩn trương. Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương được chỉ định tổ chức các môn thi đấu cho SEA GAMES 22 đang tích cực hoàn thiện các công trình thể thao và các dự án trực tiếp phục vụ cho SEA GAMES 22. Đến nay, dự án Sân vận động Trung tâm đạt 87% kế hoạch; dự án cơ sở hạ tầng Khu Liên hợp Thể thao Quốc gia giai đoạn I đạt 71% kế hoạch; dự án Khu Thể thao dưới nước đạt 63% kế hoạch. Dự kiến đến tháng 8/2003, tất cả các công trình phục vụ cho SEA GAMES 22 sẽ được hoàn thành.
3. Giáo dục và đào tạo
Năm học 2001 – 2002 cả nước có 1851 nghìn học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 99,4%; 1226 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 96,9% và 638 nghìn học sinh trung học phổ thông, đạt tỷ lệ 89,8%. So với năm học trước, tỷ lệ tốt nghiệp của bậc tiểu học năm nay cao hơn 0,2%; trung học cơ sở cao hơn 1,6%. Riêng tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông thấp hơn 3,5%.
Khai giảng năm học 2002 – 2003 cả nước có gần 2,6 triệu trẻ em đến các lớp mầm non, tăng 2,4% so với năm học trước; 8,8 triệu học sinh tiểu học, giảm 5%; 6,5 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 3,9% và gần 2,5 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 5,4%. Để nâng cao chất lượng dạy và học, ngành Giáo dục đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và bổ sung thêm giáo viên các cấp. Năm học 2002 – 2003 cả nước có 358,6 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 1,4% so với năm học trước; 262,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tăng 8% và 89,4 nghìn giáo viên trung học phổ thông, tăng 9,6%. Mặc dù số giáo viên các cấp đã tăng nhưng nếu so với định mức chuẩn thì giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông vẫn còn thiếu, trong đó giáo viên trung học cơ sở thiếu 35,9 nghìn người; trung học phổ thông thiếu 19,8 nghìn người. Riêng giáo viên tiểu học của cả nước tuy đảm bảo định mức chuẩn nhưng ở các vùng khó khăn vẫn thiếu, đặc biệt thiếu giáo viên các môn chuyên biệt để đảm bảo giáo dục toàn diện. Đến nay bậc tiểu học cả nước có 223,3 nghìn phòng học, tăng 3,2% so với năm học trước; trung học cơ sở 108,9 nghìn phòng, tăng 6,6% và trung học phổ thông 37 nghìn phòng, tăng 10%. Số phòng học 3 ca năm học này đã giảm 48% so với năm học trước, chỉ còn 623 phòng, trong đó bậc tiểu học giảm còn 447 phòng; trung học cơ sở 129 phòng và trung học phổ thông 17 phòng. Để khắc phục tình trạng học 3 ca và từng bước thay thế các phòng học tranh tre, nứa là bằng các phòng học kiên cố, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 159/2002/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án kiên cố hoá trường học” với nội dung là đầu tư trọng điểm, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc với mục tiêu không có phòng học 3 ca, thay thế các phòng học tranh, tre, nứa, lá bằng phòng học kiên cố vào năm 2005. Ban Chỉ đạo kiên cố hoá trường, lớp học trung ương đã được thành lập đồng thời tiến hành bàn kế hoạch triển khai đề án.
Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, đến nay đã có 10 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên, Tuyên Quang, Thái Bình, Hà Nam đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và sắp tới còn có thêm thành phố Hồ Chí Minh và Bắc Ninh sẽ được công nhận.
Năm 2002 cả nước có 77 trường đại học, 114 trường cao đẳng và 252 trường trung học chuyên nghiệp với tổng số sinh viên, học sinh đang theo học tại các trường là 1245,3 nghìn người, trong đó sinh viên đại học 763,2 nghìn người; cao đẳng 210,9 nghìn người và học sinh trung học chuyên nghiệp 271,2 nghìn người. So với năm học trước, số sinh viên đại học tăng 7%; cao đẳng tăng 12,9%; học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 6%. Số giảng viên đang giảng dạy tại các trường đại học năm 2002 là 25,5 nghìn người, tăng 4% so với năm 2001; giảng viên cao đẳng 10,4 nghìn người, tăng 32,5% và giáo viên trung học chuyên nghiệp là 9,3 nghìn người, giảm 8%.
4. Tình hình dịch bệnh
Tình hình y tế năm 2002 nhìn chung ổn định, các dịch bệnh lớn không xảy ra. Các bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, tiêu chảy và một số bệnh dịch khác giảm cả về số người mắc và số người bị chết. Trong năm 2002, trên phạm vi cả nước có 154,5 nghìn lượt người bị sốt rét, giảm 36,2% so với năm 2001; 22,6 nghìn lượt người bị sốt xuất huyết, giảm 43%; và 906,8 nghìn lượt người bị tiêu chảy, giảm 0,5%. Số người chết do các bệnh trên cũng đã giảm đáng kể so với năm trước: số người chết do sốt rét giảm 47,4%; do sốt xuất huyết giảm 45% và do tiêu chảy giảm 13,3%.
Về ngộ độc thực phẩm, tính đến 17/12/2002, trong cả nước đã xảy ra 194 vụ với 4,7 nghìn người bị ngộ độc làm chết 69 người, trong đó đáng lo ngại là đã xảy ra nhiều vụ có nhiều người bị ngộ độc.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tiếp tục gia tăng. Năm 2002 đã phát hiện thêm 15,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 18/12/2002 lên 58,5 nghìn người, trong đó số bệnh nhân AIDS là 8,7 nghìn người và số người chết do AIDS là 4,8 nghìn người.
5. Tai nạn giao thông
Tai nạn giao thông vẫn tiếp tục gia tăng. Tháng 11, trong cả nước xảy ra 2557 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1063 người và làm bị thương 2764 người, trong đó có 9 vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng làm chết 31 người và làm bị thương 34 người. Tính từ đầu năm đến hết tháng 11/2002, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 26,2 nghìn vụ, làm chết 11,6 nghìn người và làm bị thương 29,3 nghìn người. So với cùng kỳ năm 2001, số vụ tai nạn giao thông 11 tháng qua tăng 8,2%; số người chết tăng 21,7% và số người bị thương tăng 8,6%. Bình quân một ngày trong 11 tháng năm 2002 đã xảy ra 78 vụ tai nạn giao thông, làm chết 35 người và làm bị thương 87 người; so với bình quân 11 tháng năm 2001 tăng cả về số vụ, số người chết và số người bị thương.
6. Thiệt hại do thiên tai
Trong năm 2002, mưa lớn, bão lũ, lốc đã xảy ra ở một số địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 395 người chết, 291 người bị thương; 247 km đê, kè bị sạt lở cuốn trôi; 1250 công trình phai, đập, cống bị phá huỷ; 58 nghìn ha lúa bị ngập, hư hại, trong đó mất trắng 13,5 nghìn ha; 5,2 nghìn ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại; 10 nghìn ngôi nhà và 620 phòng học bị sập đổ, cuốn trôi; hàng nghìn ha hoa màu cùng nhiều công trình kinh tế – xã hội khác bị thiệt hại. Ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 1,6 nghìn tỷ đồng.
Tóm lại, năm 2002 nền kinh tế tiếp tục tăng trưỏng khá, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế-xã hội năm 2002 đều đạt và vượt mục tiêu kế hoạch đề ra đầu năm và tăng cao so với năm 2001. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,04 %, cao hơn 0,15% so với mức tăng trưởng năm trước; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,4%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,5%. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp quan trọng phục vụ sản xuất và tiêu dùng và xuất khẩu đều bằng hoặc vượt trội mức sản xuất của các năm trước: Sản lượng lúa đạt 34,1 triệu tấn, không những bảo đảm đủ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu được khoảng 3,2 triệu tấn gạo; sản lượng điện tăng 16%; thép cán tăng 27,7%; xi măng tăng 25,8%; thuỷ sản chế biến tăng 25,2%, quần áo may sẵn tăng 26,1%, vải lụa tăng 10,4%. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 16,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2001. Nhiều lĩnh vực xã hội cũng thu được kết quả tích cực: Thiếu đói giáp hạt và dịch bệnh đều giảm so với năm 2001; hoạt động văn hoá, giáo dục được tăng cường; an ninh xã hội được giữ vững. Những kết quả này sẽ tạo tiền đề vật chất và tinh thần góp phần khắc phục khó khăn và thách thức nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu kế hoạch năm 2003 mà Quốc hội vừa thông qua./.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ