I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước quí I/2007 ước tính tăng  7,7% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tốc độ tăng cao nhất so với các quí I những năm từ 2001 đến 2006. Cả ba khu vực kinh tế đều có tốc độ tăng cao hơn quí I năm trước: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,3% (quí I/2006 tăng 2,1%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,3% (quí I/2006 tăng 8,5%); khu vực dịch vụ tăng 7,8% (quí 1/2006 tăng 7,4%). Trong 7,7 % tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,3 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,4 điểm phần trăm.

 

Bảng 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 

        (Theo giá so sánh 1994)

Tốc độ tăng so với quí I năm tr­ước (%) Đóng góp vào tăng  tr­ưởng                  quí I/2007 (điểm%)
Quí I/2004 Quí I/2005 Quí I/2006 Quí I/2007
GDP 7,1 7,3 7,2 7,7 7,7
Nông, lâm nghiệp thuỷ sản 2,8 4,3 2,1 2,3 0,3
Công nghiệp và xây dựng 9,6 8,5 8,5 9,3 4,0
   Công nghiệp 10,3 8,6 8,7 9,6 3,5
Dịch vụ 6,3 7,2 7,4 7,8 3,4

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2007 tăng nhẹ so với mức tăng của quí I/2006, nhờ nông nghiệp và lâm nghiệp đã tăng khá hơn mức tăng của năm trước và thuỷ sản tăng ở mức 6,5% so với cùng kỳ. Tuy sản lượng lúa đông xuân ở các tỉnh phía Nam, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long giảm sút do ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh, nhưng chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được khôi phục và phát triển.

Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng cao hơn quí I năm trước gần 1 điểm phần trăm chủ yếu do công nghiệp chế biến tăng cao hơn và sản xuất và phân phối điện, ga và nước giữ được mức tăng ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến quí I/2007 đã tăng 18,5% so với quí I/2006, cao hơn so với mức tăng  16% của quí I/2006 so với cùng kỳ.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng quí I năm nay là 7,8%, cao hơn tăng trưởng dịch vụ quí I các năm gần đây (Quí I/2001 tăng 5,8%, quí I/2002 tăng 6,6%, quí 1/2003 tăng 6,3%, quí I/2004 tăng 6,3%, quí I/2005 tăng 7,2% và quí I/2006 tăng 7,4%). Trong quí I năm nay, một số ngành dịch vụ kinh doanh có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều duy trì được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ và cao hơn mức tăng của năm trước: Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 7,7%; khách sạn, nhà hàng tăng 11,1%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,8%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 10,2%.

Kinh tế tăng trưởng cao đã góp phần tích cực vào tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước quí I/2007 ước tính tăng 18% so với quí I/2006 và bằng 21,7% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 23,1%; thu từ dầu thô bằng 19,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 20,5%; thu viện trợ bằng 21,3%. Một số khoản trong thu nội địa đạt tỷ lệ khá như: Thu từ kinh tế Nhà nước đạt 22,3% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 26,1%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 29,6%; thu phí, lệ phí 28,8%; riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 20%; các khoản thu về nhà đất  20,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước quí I/2007 ước tính tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 21,4% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 19,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 19,4%); chi thường xuyên bằng 23,6%, trong đó chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 23%; chi y tế bằng 23,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 25,3%; chi sự nghiệp kinh tế bằng 24,5%; chi quản lý hành chính 22,8%. Chi cải cách tiền lương quí I/2007 bằng 18,1% dự toán năm; chi trả nợ và viện trợ bằng 24%. Bội chi ngân sách Nhà nước quí I/2007 bằng 27,4% mức dự toán cả năm, trong đó 77,4% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,6% từ nguồn vay nước ngoài.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2007 theo giá so sánh ước tính đạt 41,48 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với quý I/2006, trong đó nông nghiệp 31,29 nghìn tỷ đồng, tăng 1,71%; lâm nghiệp 1,39 nghìn tỷ đồng, tăng 0,81%; thuỷ sản 8,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,74%. Tình hình cụ thể của từng ngành sản xuất như sau:

Nông nghiệp:

Gieo cấy lúa đông xuân: Tính đến ngày 15/3/2007, cả nước đã gieo cấy  2937,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1094,1 nghìn ha, bằng 98,5% (các tỉnh đồng bằng sông Hồng 548,9 nghìn ha, bằng 98,9%); các địa phương phía Nam gieo sạ 1843,1 nghìn ha, bằng 100,4% (các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 1505,2 nghìn ha, bằng 100,7%).

Thu hoạch lúa đông xuân ở các tỉnh phía Nam: Cùng thời gian này, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 882,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 94,4% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long 864,2 nghìn ha, bằng 96,5% cùng kỳ và chiếm 57,4% diện tích xuống giống. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất trên diện tích  đông xuân đã gieo sạ của toàn Vùng ước tính đạt 59 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước nên sản lượng lúa dự kiến sẽ giảm 92 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2006, đạt mức 8,9 triệu tấn. Một số tỉnh năng suất lúa giảm nhiều như: Hậu Giang giảm 8 tạ/ha, Cần Thơ giảm 4 tạ/ha, Trà Vinh giảm 7 tạ/ha, do bị sâu bệnh gây hại trên diện rộng. Trong khi đó, một số tỉnh do không bị ảnh hưởng lớn của sâu bệnh nên năng suất tăng như: An Giang đạt 69 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha, Tiền Giang 61,8 tạ/ha, tăng 2 tạ/ha, Đồng Tháp 66,5 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha.

Gieo cấy lúa hè thu: Song song với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam cũng đẩy nhanh việc xuống giống lúa hè thu. Do thời tiết nắng hạn, thiếu nước và nông dân được khuyến cáo xuống giống muộn để tránh sâu bệnh nên diện tích xuống giống đạt 71,5 nghìn ha, bằng 37,6% cùng kỳ.

Gieo trồng các loại cây khác: Cũng đến trung tuần tháng 3, cả nước đã gieo trồng 367,4 nghìn ha ngô, bằng 96,8% cùng kỳ năm trước; 103,3 nghìn ha khoai lang, bằng 98,5%; 87,1 nghìn ha sắn, bằng 91,3%; 164,8 nghìn ha lạc, bằng 111%; 81,2 nghìn ha đậu tương, bằng 105,9%; 352,3 nghìn ha rau đậu, bằng 105,4%.

Chăn nuôi: Chăn nuôi trong quý I đã được khôi phục và phát triển: Đàn bò ước tính tăng 5-6% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn sau Tết Nguyên đán được nuôi trở lại, ước tính tăng 4-5%. Đàn gia cầm ước tính tăng 6-7%, do cơ quan chức năng đã cho phép ấp và nuôi thuỷ cầm trở lại từ ngày 01/3/2007 nên nhiều hộ đã bắt đầu khôi phục lại đàn. Đến nay, dịch cúm gia cầm đã được khống chế, không phát sinh thêm ổ dịch mới nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát; một số địa phương đã triển khai công tác tiêm phòng cho đàn gia cầm đợt I năm 2007. Tính đến ngày 20/3/2007, cả nước còn 28 xã thuộc 10 tỉnh có dịch lở mồm long móng xảy ra chưa qua 21 ngày là Phú Yên, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Nam, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Bình, Đắk Lắk, Thừa Thiên-Huế và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Lâm nghiệp: Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng đầu năm ước tính đạt 38,9 nghìn ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán 61,8 triệu cây, bằng 100,7%; sản lượng gỗ khai thác 481,5 nghìn m­3, bằng 100,8%, sản lượng củi khai thác 6570,4 nghìn ste, bằng 101,1%.

Trong quí I, thời tiết tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ khô hanh kéo dài nên đã xảy ra hiện tượng cháy rừng ở nhiều nơi. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 928,9 ha, gấp 4,3 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó 164 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 764,9 ha (Yên Bái 5 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy là 200 ha; Lai Châu 2 vụ cháy với diện tích bị thiệt hại 30 ha).

Thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản quí I/2007 ước tính đạt 884,2 nghìn tấn, tăng 6,8% so với quí I năm trước, trong đó nuôi trồng tăng 15,3% và khai thác tăng 2,3% (khai thác biển tăng 3,1%).

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quý I/2007 ước tính đạt 328 nghìn tấn, trong đó cá tăng 20,5%; tôm tăng 6%. Nuôi trồng thuỷ sản trong quí I năm nay tăng cao do tăng giá thuỷ sản (giá cá tra và cá basa tăng cao nhất từ trước đến nay) đã khuyến khích người nông dân tăng diện tích nuôi trồng, đặc biệt diện tích nuôi cá tra và cá basa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh. Diện tích nuôi tôm sú vụ chính đã được thả giống đúng lịch quy định và dịch bệnh ít xuất hiện; diện tích nuôi tôm càng xanh và tôm thẻ tăng khá so với cùng kỳ. Tuy nhiên, diện tích nuôi tôm sú ở các địa phương giảm.

Sản lượng thuỷ sản khai thác quý I/2007 ước tính đạt 556,2 nghìn tấn, trong đó khai thác biển đạt 511,8 nghìn tấn. Sản lượng thuỷ sản khai thác đạt khá do thời tiết thuận lợi nên các tàu đánh bắt xa bờ ra khơi tăng so với cùng kỳ năm trước, các loại cá nam, cá cơm, cá ngừ đại dương, cá thu,… xuất hiện nhiều và dài ngày ở vùng biển miền Trung và phía Nam.

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 03/2007 tính theo giá so sánh tăng 15,4% so với tháng 3 năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 6,1%, khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,5% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3%. Trong các sản phẩm chủ yếu, một số sản phẩm duy trì được tốc độ tăng cao như: Đường mật các loại, giấy bìa các loại, máy công cụ, động cơ điện, ti vi các loại, ô tô các loại, xe máy các loại.

Tính chung quí I/2007, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh tăng 16,6% so với quí I năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 7,2% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 11,1% ,  doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 0,7%), khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,5% (dầu mỏ và khí đốt giảm 0,4%, các sản phẩm khác tăng 23,8%).

Trong các ngành sản xuất công nghiệp cấp I (công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến và sản xuất, phân phối điện, ga, nước) chỉ có công nghiệp chế biến có tốc độ tăng giá trị sản xuất lạc quan, với tốc độ tăng 18,5% so với cùng kỳ trong khi sản xuất và phân phối điện, ga, nước giữ ở mức tăng tương đương cùng kỳ năm trước (điện phát ra tăng 12,4% so với quí I năm trước) và công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 1,4% (trong đó khí đốt thiên nhiên tăng 17,7%; than sạch khai thác tăng 7,7%, nhưng cả hai sản phẩm này có tỷ trọng trong khu vực công nghiệp khai thác mỏ vẫn thấp nên đã không bù được sản lượng dầu thô khai thác giảm, quí I/2007 chỉ đạt 4 triệu tấn, bằng 92,8% cùng kỳ).

Một số ngành sản phẩm của công nghiệp chế biến có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như : sản xuất thực phẩm và đồ uống tăng 15,3% (đường, mật các loại tăng 21,1%); sản xuất trang phục tăng 20,2% (chủ yếu do tăng nhanh hàng xuất khẩu, hàng dệt may xuất khẩu quí I tăng 30,1%); sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản tăng 17,7% (gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng 25%); sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,3% (giấy tăng 22,3%); sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 25,2% (sản phẩm nhựa xuất khẩu tăng 53,2%); sản xuất kim loại tăng 26% (thép cán tăng 22,3%); sản xuất radio, ti vi và thiết bị truyền thông tăng 16,8% (ti vi các loại lắp ráp tăng 16,9%); sản xuất, sửa chữa xe có động cơ tăng 23,5% (ô tô các loại lắp ráp tăng 29,8%, xe máy các loại lắp ráp tăng 21%).

Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chế biến trong quí I năm nay giảm so với cùng kỳ như : quần áo dệt kim giảm 13,1%; xe đạp hoàn chỉnh giảm 68,6%; phân hoá học giảm 6% (sẽ làm giảm nguồn cung và gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp hoặc phải tăng nhập khẩu từ nước ngoài).

4. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư quí I/2007 theo giá thực tế ước tính đạt 86,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19% kế hoạch cả năm, trong đó vốn Nhà nước 41,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3%; vốn ngoài Nhà nước 27,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 17 nghìn tỷ đồng, bằng 23,3%.

 Bảng 2. Thực hiện vốn đầu t­ư quí I/2007

 

 Kế hoạch 2007    (Nghìn tỷ đồng) Ước tính thực hiện quí I/2007
(Nghìn tỷ đồng) Cơ cấu  (%) So với kế hoạch năm (%)
TỔNG SỐ 452,1 86,1 100,0 19,0
Vốn Nhà nước 228,1 41,7 48,4 18,3
Vốn ngoài Nhà nước 151,0 27,4 31,8 18,1
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 73,0 17,0 19,8 23,3

 

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 3/2007 (Bao gồm vốn dự án và chương trình mục tiêu) ước tính thực hiện 8 nghìn tỷ đồng, bằng 8,4% kế hoạch cả năm, trong đó vốn do trung ương quản lý 2,78 nghìn tỷ đồng, bằng 7,9%; vốn địa phương quản lý 5,22 nghìn tỷ đồng, bằng 8,7%.

Tính chung quí I/2007, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện khoảng 18,9 nghìn tỷ đồng, bằng 19,8% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 6,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1,13 nghìn tỷ đồng, bằng 14,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 387,4 tỷ đồng, bằng 17,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 265,7 tỷ đồng, bằng 21,6%; Bộ Y tế 235 tỷ đồng, bằng 22,1%; Bộ Văn hoá Thông tin 70,3 tỷ đồng, bằng 20,9%; Bộ Thuỷ sản 48,4 tỷ đồng, bằng 19,4%; Bộ Công nghiệp 36 tỷ đồng, bằng 18,8%; Bộ Xây dựng 21,4 tỷ đồng, bằng 14,2%. Vốn do địa phương quản lý thực hiện 12,2 nghìn tỷ đồng, bằng 20,3% kế hoạch năm, trong đó một số tỉnh, thành phố có vốn thực hiện khá so với kế hoạch năm như: Hà Nội 1,21 nghìn tỷ đồng, bằng 20,9% kế hoạch năm; Hưng Yên 111,1 tỷ đồng, bằng 22,8%; Nam Định 191,3 tỷ đồng, bằng 25,6%; Ninh Bình 192,9 tỷ đồng, bằng 22,7%; Sơn La 170 tỷ đồng, bằng 25,9%; Thanh Hoá 337 tỷ đồng, bằng 25,9%; Quảng Nam 195,7 tỷ đồng, bằng 23,1%; Quảng Ngãi 164,9 tỷ đồng, bằng 23,9%; Lâm Đồng 171,2 tỷ đồng, bằng 21,7%; Đồng Nai 261,2 tỷ đồng, bằng 22%; Kiên Giang 216 tỷ đồng, bằng 31%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh 3 tháng đầu năm thực hiện 994,9 tỷ đồng, bằng 12% kế hoạch cả năm.

Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 22/3/2007 đã cấp phép cho 102 dự án với tổng số vốn đăng ký 1,21 tỷ USD. Nếu tính cả 431,9 triệu USD vốn đăng ký bổ sung vào 109 dự án cấp phép các năm trước và 771,9 triệu USD của 87 dự án cấp phép cuối năm 2006 nhưng chưa tính vào năm trước thì tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đăng ký là 2,41 tỷ USD.

Trong 189 dự án mới cấp phép thì khu vực công nghiệp, xây dựng có 110 dự án với tổng vốn đăng ký 988,2 triệu USD, chiếm 58,2% số dự án và 49,9% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 69 dự án và 931,1 triệu USD, chiếm 36,5% số dự án và 47,1% tổng vốn đăng ký. Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 10 dự án với 59,2 triệu USD, chiếm 5,3% số dự án và 3% tổng vốn đăng ký.

Trong 34 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép, Thừa Thiên-Huế có số vốn đăng ký đứng đầu cả nước với 277,1 triệu USD; một số tỉnh, thành phố khác có số vốn đăng ký lớn như: Hà Nội  96,2 triệu USD; Hải Dương 175,1 triệu USD; Thái Nguyên 100 triệu USD; Quảng Ninh 48,9 triệu USD; Quảng Ngãi 260 triệu USD; Bình Định 185 triệu USD; Bình Dương  227,6 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 167,4 triệu USD; thành phố Hồ Chí Minh 143,7 triệu USD…

Nếu theo đối tác đầu tư thì Hàn Quốc dẫn đầu cả về số dự án và vốn đăng ký với 50 dự án và 485,5 triệu USD, chiếm 26,5% tổng số dự án và 24,5% tổng vốn đăng ký vào nước ta; Xin-ga-po 10 dự án với vốn đăng ký 476,7 triệu USD, chiếm 5,3% về số dự án và 24,1% tổng vốn đăng ký; Thái Lan 5 dự án và 254,7 triệu USD; Hoa Kỳ 13 dự án và 164,5 triệu USD; Nhật Bản 17 dự án và 149,4 triệu USD; Đặc khu HC Hồng Công (Trung Quốc) 12 dự án và 109,3 triệu USD; Sa Moa 9 dự án và 85,5 triệu USD; Đài Loan 17 dự án và 76,8 triệu USD…

5. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ quí I/2007 theo giá thực tế ước tính đạt 163,7 nghìn tỷ đồng, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 10,3% tổng mức, giảm 9,2%; kinh tế cá thể chiếm 57,3%, tăng 26,5%; kinh tế tư nhân chiếm 28,6%, tăng 29% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,7%, tăng 30,6%. Xét theo ngành kinh doanh, thương nghiệp là ngành có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 82,3% tổng mức, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,2%, tăng 21,4%; du lịch tăng 32,3%; dịch vụ tăng 17,6%.

Giá tiêu dùng tháng 3/2007 giảm 0,2% so với tháng trước, chñ yÕu do cÇu gi¶m (v× lµ th¸ng sau TÕt Nguyên đán các nhu cầu tiêu dùng của người dân đã trở về mức bình thường), trong khi nguồn cung dồi dào. Quan sát dãy số liệu chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong quí I các năm từ 2001 trở lại đây cho thấy, giá tiêu dùng trong quí I năm nay biến động theo xu hướng tương tự như giá tiêu dùng quí I trong một vài năm gần đây, với mức tăng giá tháng 02 có xu hướng cao hơn mức tăng giá tháng 01 và giá tháng 3 tăng chậm hơn mức tăng giá tháng 02.

Trong các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, giá lương thực, thực phẩm tháng 3/2007 giảm 0,4% so với tháng trước (chñ yÕu do gi¸ thùc phÈm gi¶m 0,6% trong khi gi¸ l­¬ng thùc giữ ở mức giá tháng trước); cïng xu h­íng gi¶m lµ gi¸ c¸c nhãm ®å uèng vµ thuèc l¸; may mÆc, mò nãn, giµy dÐp; nhµ ë vµ vËt liÖu x©y dùng; v¨n ho¸ thÓ thao, gi¶i trÝ. Các nhóm hàng hóa khác có giá tăng so với tháng trước ở mức từ 0,1-0,3%; riêng phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,6% (giá phân nhóm bưu chính, viễn thông tiếp tục giảm).

 Bảng 3. Chỉ số giá tiêu dùng

%

  2003 2004 2005 2006 2007
Tháng trước = 100
Tháng 1 100,9 101,1 101,1 101,2 101,1
Tháng 2 102,2 103,0 102,5 102,1 102,2
Tháng 3   99,4 100,8 100,1   99,5 99,8
Tháng 12 năm trước=100
Tháng 1 100,9 101,1 101,1 101,2 101,1
Tháng 2 103,1 104,1 103,6 103,3 103,2
Tháng 3 102,5 104,9 103,7 102,8 103,0

So với tháng 12 năm trước, giá tiêu dùng tháng 3/2007 tăng 3% và tăng ở tất cả các nhóm hàng hóa, trong đó hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,2% (lương thực tăng 4,6% và thực phẩm tăng 4,1%); đồ uống thuốc lá tăng 3,5%; may mặc, giày, dép, mũ, nón tăng 2%; thiết bị đồ dùng gia đình tăng 1,7%; dược phẩm, y tế tăng 0,9%; giáo dục tăng 0,5%…

Giá vàng tháng 3/2007 tăng 2,6% so với tháng trước, tăng 3,5% so với cuối năm 2006 và tăng 18% so với cùng kỳ. Ngược lại với giá vàng, giá đô la Mỹ tương đối ổn định và có xu hướng giảm nhẹ ở cả hai chỉ số, so với tháng trước giảm 0,1% và so với tháng 12 năm trước giảm 0,4%; tuy nhiên so với tháng 3/2006, giá đô la Mỹ tăng 0,6%.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương quí I/2007 ước tính đạt 22,3 tỷ USD, tăng 25,7% so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 17,9% và nhập khẩu tăng 33,6%. Do tốc độ nhập khẩu hàng hoá quí I năm nay cao hơn nhiều so với tốc độ tăng xuất khẩu nên nhập siêu tăng mạnh so với năm trước. Nhập siêu quí I/2007 là 1,32 tỷ USD, bằng 12,5% giá trị kim ngạch xuất khẩu (quí I năm trước xuất siêu 64,1 triệu USD, do nhập khẩu chỉ tăng chưa đến 2%).

Xuất khẩu hàng hoá quí I/2007 ước tính đạt 10,48 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,62 tỷ USD, tăng 23,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 4,13 tỷ USD, tăng 31,7% và dầu thô 1,73 tỷ USD, giảm 14,6%.

Thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam hai tháng đầu năm vẫn là EU, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, trong đó mỗi thị trường EU và Mỹ chiếm khoảng 20% thị phần và có tốc độ tăng cao; thị trường Nhật Bản đạt trên 800 triệu USD, tăng chậm (+1,6%) và thị trường Trung Quốc giảm 9,8% so với hai tháng đầu năm ngoái. Thị trường Mỹ tiếp tục là nơi tiêu thụ chính các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như hàng dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ.

Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (trừ dầu thô, gạo và cao su) đều tăng về kim ngạch xuất khẩu trong quí I năm nay, trong đó nhiều mặt hàng nông sản được lợi do tăng giá như gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hạt tiêu. Đáng chú ý, ba mặt hàng xuất khẩu lớn là dầu thô, gạo và cao su giảm cả kim ngạch và khối lượng xuất khẩu.

Xuất khẩu dầu thô quí I/2007 ước tính đạt 3,9 triệu tấn, giảm 7,9% so với quí I năm trước, kim ngạch giảm 14,6% (giảm gần 300 triệu USD, trong đó do giá giảm khoảng 35 USD/tấn đã làm kim ngạch giảm 137 triệu USD); hàng dệt, may 1,65 tỷ USD, tăng 30,1%; giày dép 918 triệu USD, tăng 13,9%; cà phê 695 triệu USD, tăng 133,6%; thủy sản 678 triệu USD, tăng 11,9%; sản phẩm gỗ 584 triệu USD, tăng 25%; điện tử máy tính 441 triệu USD, tăng 16,9%; hàng thủ công mỹ nghệ 190 triệu USD, tăng 25,8%; riêng xe đạp và phụ tùng xe đạp, giảm 39,4%.

Xuất khẩu các mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt trên 1,4 tỷ USD, tăng 25% so với quí I năm trước, đóng góp 3,2 điểm phần trăm vào tăng kim ngạch xuất khẩu chung. Xuất khẩu gạo quí I năm nay chỉ đạt 56,7% lượng xuất khẩu và 66,8% kim ngạch của quí I năm trước, mặc dù giá tăng 17,8%, nhưng nguồn cung thấp nên sút giảm đáng kể so với quí I năm trước. Các mặt hàng nông sản khác kim ngạch tăng với mức độ rất khác nhau: cà phê 695 triệu USD, tăng 133,6%; hạt điều 107 triệu USD, tăng 10,6%; rau quả tăng 13,9%; hạt tiêu, tăng 7,8%.

Nhập khẩu hàng hoá quí I/2007 ước tính đạt 11,8 tỷ USD, tăng 33,6% so với quí I năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước 7,6 tỷ USD, tăng 39,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 4,2 tỷ USD, tăng 23,9%. Nhập khẩu hàng hoá quí I năm nay tăng gần 3 tỷ USD so với quí I năm trước, chủ yếu do nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và các nguyên, nhiên, vật liệu quan trọng cho sản xuất trong nước như xăng dầu, sắt thép phân bón, chất dẻo, hoá chất… đều tăng cả về kim ngạch và lượng nhập khẩu; giá nhập khẩu bình quân quí I của nhiều nguyên, nhiên, vật liệu không tăng đột biến như quí I năm trước (giá bình quân quí I của xăng dầu không tăng; giá phôi thép, sợi dệt, bông, lúa mỳ giảm mạnh; giá phân urê, giấy, chất dẻo tăng từ 8-14%…). Mặt khác, do nền quí I năm trước thấp, tốc độ tăng nhập khẩu quí I/2006 chỉ tăng 1,9%.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng quí I/2007 ước tính đạt 2,2 tỷ USD, tăng 66,1% so với quí I năm trước; xăng dầu 1,4 tỷ USD, tăng 13,6%; sắt thép 842 triệu USD, tăng 69,3% (phôi thép tăng 65,9%); vải 712 triệu USD, tăng 22%; chất dẻo 499 triệu USD, tăng 26,7%; hóa chất 289 triệu USD, tăng 22,7%; sản phẩm hóa chất 266 triệu USD, tăng 18,7%… Bên cạnh đó, nhóm các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm là nguyên, phụ liệu dệt, may, da 393 triệu USD, giảm 12,7%; ô tô 134 triệu USD, giảm 9,7% (ô tô nguyên chiếc 55 triệu USD, giảm 4,7%); sữa và sản phẩm sữa 69 triệu USD, giảm 11,5%.

Vận chuyển hành khách quí I/2007 ước tính đạt 376,8 triệu lượt hành khách và 16,4 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,3% về số khách và tăng 10,9% về số khách.km so với quí I/2006. Trong đó, các đơn vị vận tải do địa phương quản lý vẫn giữ vị trí chủ yếu trong việc vận chuyển hành khách, chiếm 98,2% về khối lượng vận chuyển và 73,6% khối lượng luân chuyển. Vận chuyển hành khách bằng đường bộ có mức tăng cao và ổn định, đạt 327,2 triệu lượt khách và 10,7 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3% về số khách và tăng 9,2% về số khách.km; tương tự, đường hàng không tăng 14,4% và tăng 17%; đường sông tăng 1,8% và tăng 2,1%; đường biển tăng 5,6% và tăng 5,8%; riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt tuy khối lượng vận chuyển đạt mức xấp xỉ cùng kỳ nhưng khối lượng luân chuyển tăng 16,1%.

Vận chuyển  hàng hoá: Sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, các đơn vị sản xuất, kinh doanh và công trình xây dựng hoạt động sôi động trở lại và  vận chuyển hàng hoá đã đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và kinh doanh. Vận chuyển hàng hoá quí I/2007 ước tính đạt 90,5 triệu tấn và 22,8 tỷ tấn.km, tăng 7,8% về số tấn và tăng 7% về số tấn.km so với quí I năm trước. Vận chuyển hàng hoá ở các ngành đều tăng cả về khối lượng vận chuyển (tính theo tấn hàng hoá) và khối lượng luân chuyển (tính theo tấn.km), ngoại trừ khối lượng luân chuyển của đường hàng không: vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ tăng 8,8% về tấn và tăng 9,1% về tấn.km; tương tự, đường sông tăng 5,9% và tăng 6%; đường biển tăng 5,5% và tăng 6,7%; đường sắt tăng 4,4% và tăng 9,7%; đường hàng không tăng 8,1% và giảm 3,4%.

Trong quí I năm nay, vận chuyển hàng hoá và hành khách đã có những tiến bộ, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, kinh doanh và đi lại của dân cư. Tuy nhiên, tai nạn giao thông trong quí I vẫn còn tương đối cao so với cùng kỳ năm trước và là vấn đề bức xúc của các cấp chính quyền và xã hội.

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 3/2007 ước tính đạt 362,3 nghìn lượt người giảm 4,6% so với tháng trước (nguyên nhân chủ yếu là tháng 3 năm nay là tháng sau Tết Nguyên đán nên số lượt khách đến với mục đích thăm thân nhân giảm), nhưng tăng 18,9% so với tháng 3/2006. Tính chung quí I/2007, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,1 triệu lượt người, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi  687 nghìn lượt người, tăng 17,3%; đi công việc 150,3 nghìn lượt người, tăng 12,4%; thăm thân nhân 178,4 nghìn lượt người, tăng 13,9%; riêng khách đến với các mục đích khác 95,6 nghìn lượt người, giảm 5,8%.

Do các quy định về giấy thông hành nên lượng khách từ Trung Quốc tiếp tục giảm so với cùng kỳ, đạt 135,4 nghìn lượt người giảm 11,3%. Một số nước có lượng khách đến Việt Nam đạt mức trên 100 nghìn lượt người vẫn tăng khá như Nhật Bản tăng 31,4%; Hàn Quốc tăng 17,7%; Hoa Kỳ tăng 12%. Việt Nam ngày càng thu hút được khách đến từ châu Âu, mặc dù số lượng khách chưa lớn nhưng đã có mức tăng cao trong thời gian gần đây: Tây Ban Nha tăng 95,8%;  I-ta-li-a tăng 57,3%; Liên bang Nga tăng 42,9%; Hà Lan tăng 40,8%; Bỉ tăng 32,2%…

Bưu chính, viễn thông: Hoạt động viễn thông tiếp tục phát triển. Các công ty viễn thông không ngừng áp dụng công nghệ hiện đại tăng cường khả năng cạnh tranh. Công ty viễn thông Điện lực đã qua giai đoạn thử nghiệm và chính thức đưa vào thị trường loại hình điện thoại cố định không dây. Số thuê bao điện thoại mới phát triển trong quí I/2007 ước tính đạt 4 triệu thuê bao, tăng 179,9% so với  quí I năm trước và như vậy tính đến hết tháng 3/2007, số thuê bao điện thoại hiện có trong cả nước đạt 31,5 triệu thuê bao, tăng 82,2% so với cùng thời điểm năm trước (Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông 18,9 triệu thuê bao). Số thuê bao internet phát triển trong quí I/2007 ước tính đạt 232 nghìn thuê bao, bằng 51,7%  quí I/2006 nâng tổng số thuê bao Internet tính đến hết tháng 3/2007 lên 4,3 triệu thuê bao.

Doanh thu bưu chính, viễn thông quí I/2007 ước tính đạt 13 nghìn tỷ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu viễn thông chiếm hơn 90% tổng số doanh thu của toàn ngành.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư quý I năm nay nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có những biện pháp thiết thực nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời trong dịp Tết đã góp phần cải thiện đời sống người lao động. Tuy nhiên, mức thu nhập và tiền thưởng của người lao động không đồng đều giữa các ngành và các địa phương. Đời sống của cán bộ viên chức được cải thiện so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do chính sách tăng lương theo Nghị định 94/2006/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2006. Mặc dù chịu ảnh hưởng của biến động giá cả trong các ngày giáp Tết Nguyên đán và ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh đối với sản xuất nông nghiệp, nhưng đời sống của đại đa số nông dân vẫn ổn định và được cải thiện.

Công tác xóa đói, giảm nghèo tiếp tục được đẩy mạnh ở các địa phương. Số thiếu đói trong quí I/2007 là 229,1 nghìn lượt hộ, tương ứng với 935,3 nghìn lượt nhân khẩu, giảm 34% về số lượt hộ và giảm 37,5% về lượt nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc các vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đã trợ giúp 2,6 nghìn tấn lương thực và hàng tỷ đồng.

2. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin quí I tập trung thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của đất nước; tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc và đón Xuân Đinh Hợi 2007. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đã được tổ chức rộng khắp trên cả nước và thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động văn hóa thông tin tiếp tục được đẩy mạnh.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều nội dung phong phú, đa dạng và nhận được sự tham gia, cổ vũ nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân. Ủy ban Thể dục Thể thao hiện đang tích cực chuẩn bị cho Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc khu vực II tại Bình Phước, Giải Vật dân tộc toàn quốc tại Hà Tây… và phối hợp với Bộ Giáo dục-Đào tạo tổ chức Hội khỏe Phù Đổng lần thứ VII tại Phú Thọ. Trong thể thao thành tích cao, đã tổ chức thành công 19 giải thể thao thành tích cao và tham gia nhiều giải thể thao cấp châu lục và quốc tế khác, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đặc biệt, tại Giải Pencak Silat trẻ thế giới lần thứ 2 được tổ chức tại Xin-ga-po từ ngày 9/3/2007 đến 12/3/2007, đoàn thể thao Việt Nam đã giành ngôi vị số 1 toàn đoàn với  11 HCV, 3 HCB và 2 HCĐ. Công tác chuẩn bị cho Thế vận hội Bắc Kinh 2008 cũng đã được tiến hành.

3. Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 3/2007 có 5,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; hơn 50 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và 30 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu. Tính chung quí I/2007, cả nước có 14,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 6,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 1,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút và hơn 80 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu.  Cũng trong quí I năm nay, đã có 1,1 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 14 người đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 3/2007 đã phát hiện thêm 1,6 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/3/2007 lên 120,9 nghìn người, trong đó 21,5 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 12,7 nghìn người đã tử vong do AIDS.

4. Tai nạn giao thông

Trong tháng 02/2007 (từ ngày 22/1/2007 đến 21/2/2007), cả nước đã xảy ra 1500 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1381 người và bị thương 1301 người. So với tháng 01/2007 và so với tháng 02/2006, tai nạn giao thông tăng cả về số vụ và mức độ thiệt hại về người: So với tháng 01/2007, số vụ tai nạn tăng 5,6%; số người chết tăng 11,6% và số người bị thương tăng 29,7%; so với tháng 02/2006, số vụ tai nạn tăng 25,4%; số người chết tăng 32,4% và số người bị thương tăng 39,7%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2007, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 2,9 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 2,6 nghìn người và bị thương 2,3 nghìn người. So với 2 tháng đầu năm 2006, số vụ tai nạn tăng 8,4%; số người chết tăng 13,4% và số người bị thương tăng 5,6%. Bình quân một ngày trong 2 tháng đầu năm nay đã xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, làm chết 44 người và làm bị thương 39 người (các con số tương ứng của 2 tháng đầu năm 2006 là 45 vụ, 39 người chết và 37 người bị thương).

TỔNG CỤC THỐNG KÊ