Kinh tế – xã hội quý I năm 2004 diễn ra trong điều kiện trong nước và quốc tế có khó khăn: Hạn hán và rét đậm kéo dài ở các tỉnh phía bắc; dịch cúm gia cầm xảy ra ở hầu hết các tỉnh và thành phố, giá cả trong nước và giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu cho sản xuất phục vụ các nhu cầu trong nước tăng cao ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư. Tuy vậy Chính phủ đã có các giải pháp chỉ đạo sát sao, tập trung và quyết tâm cao ngay từ đầu năm nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội cả năm 2004. Ước tính thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu quý I của các lĩnh vực kinh tế- xã hội cụ thể như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.
Tổng sản phẩm trong nước quý I/2004 ước tính tăng 7% so với quý I/2003, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 0,2%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,6%. Trong 7% tăng trưởng chung, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,1% (công nghiệp 3,7%); khu vực dịch vụ đóng góp 2,9%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp không đáng kể vì tăng ở mức quá thấp.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm nay có mức tăng trưởng thấp nhất so với quý I của các năm từ năm 2000 đến nay, chỉ đạt 0,2%; riêng ngành nông nghiệp quý I năm nay giảm 1%, nguyên nhân chủ yếu do rét đậm kéo dài và hạn hán ở các tỉnh phía Bắc ảnh hưởng đến ngành trồng trọt và do dịch cúm gia cầm lan rộng ở nhiều địa phương làm sụt giảm giá trị tăng thêm của ngành chăn nuôi.
Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, mức tăng trưởng quý I năm nay đạt 9,9%, cao hơn mức tăng 9,3% của quý I năm trước; trong đó chỉ có ngành công nghiệp khai thác tăng mạnh, đạt 14,9% (quý I năm trước tăng 5,9%) còn ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, nước đều chưa bằng mức tăng của quý I năm trước, đặc biệt trong khu vực này, ngành xây dựng chỉ tăng 5,7% (quý I/2003 đạt 9,7%), nguyên nhân do giá thép xây dựng tăng cao ảnh hưởng đến tiến độ thi công các công trình và sản lượng ngành xây dựng.
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng quý I năm nay đạt 6,6%, cao hơn mức tăng trưởng 6,3% của quý I năm trước. Trong khu vực này, một số ngành lớn như ngành thương nghiệp; ngành vận tải, bưu điện, du lịch; ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có mức tăng cao so với mức tăng của quý I năm trước.
Tổng thu ngân sách nhà nước quý I/2004 ước tính đạt 23,2% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 25,3%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 28,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp đạt 26,4%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 25,8%; các khoản thu về nhà đất đạt 24,9%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 20,2%. Thu từ dầu thô đạt 26,8%. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 20,6%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 20,3%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước quý I năm nay ước tính đạt 19,8% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 24,6%; chi cho đầu tư phát triển đạt 16,6%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 24,5% dự toán cả năm; chi cho y tế đạt 25%; chi cho văn hoá thông tin đạt 24,7%; chi cho hoạt động thể dục thể thao đạt 24,6%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 25,1%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 24,8%. Bội chi ngân sách quý I/2004 ước tính bằng 6,9% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó chủ yếu được bù đắp bằng nguồn vay trong nước.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông nghiệp:
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp quý I là gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các loại cây vụ đông. Tính đến 15/3/2004 cả nước đã gieo cấy được 2925,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,3% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1114,2 nghìn ha, bằng 98%; các địa phương phía Nam 1811,7 nghìn ha, bằng 98,5%, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt 1469,4 nghìn ha, bằng 98,2% (giảm 26,6 nghìn ha). Tiến độ gieo trồng lúa đông xuân quý I năm nay chậm hơn so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do tình trạng hạn hán kéo dài ở các tỉnh phía Bắc và thực hiện chuyển đổi một phần đất lúa hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, riêng tỉnh Kiên Giang diện tích gieo trồng lúa đông xuân giảm 16 nghìn ha.
Đến nay, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1284,5 nghìn ha lúa đông xuân sớm, bằng 142,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1238,3 nghìn ha, chiếm 84% diện tích xuống giống và bằng 142,1%. Ước tính năng suất lúa đông xuân toàn vùng đạt xấp xỉ cùng kỳ năm trước, nhưng do diện tích giảm nên sản lượng đạt 8,43 triệu tấn, giảm 51 nghìn tấn.
Cùng với việc chăm sóc và thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương còn đẩy mạnh gieo trồng ngô, cây chất bột có củ, cây công nghiệp ngắn ngày và rau đậu. Đến 15/3/2004 cả nước đã gieo trồng được 343,2 nghìn ha ngô, bằng 110,7% cùng kỳ năm trước; 129 nghìn ha khoai lang, bằng 95%; 85,5 nghìn ha sắn, bằng 106,7%; 159,5 nghìn ha lạc, bằng 107,7%; 65,1 nghìn ha đậu tương, bằng 129,7% và 354,1 nghìn ha rau đậu, bằng 108,4%; riêng thuốc lá chỉ đạt 12,3 nghìn ha, bằng 65,8%. Ngoài ra các địa phương phía Nam còn gieo cấy được 248,5 nghìn ha lúa hè thu sớm, bằng 124% cùng kỳ năm trước.
Sản xuất cây trồng vụ đông quý I năm nay ở các địa phương phía Bắc tăng cả về diện tích và năng suất. Tổng diện tích tăng 8,7%, trong đó diện tích ngô trên đất lúa tăng 20,5%; đậu tương tăng 24,8%; lạc tăng 39,8%. Sản lượng ngô tăng 24,5%; đậu tương tăng 46,3%; lạc tăng 43,6% và rau đậu tăng 9,7%.
Riêng chăn nuôi hai tháng đầu năm bị ảnh hưởng lớn của dịch cúm gia cầm bùng phát. Theo báo cáo sơ bộ, tính đến hết ngày 26/2/2004 cả nước có 57 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với 381 huyện, quận và 2574 xã, phường đã xảy ra dịch cúm gia cầm; tổng số gia cầm mắc bệnh chết và bị tiêu huỷ 38,3 triệu con, chiếm 15,1% tổng đàn gia cầm của cả nước, trong đó gà chiếm 50%. Các tỉnh có tỷ lệ gia cầm chết và bị tiêu huỷ lớn là Long An 91,2%; An Giang 80%; Tiền Giang 74,8%; Đồng Nai 62%; Cần Thơ 34%; Hà Tây 22% và Vĩnh Phúc 20%. Đến cuối tháng 3, tình hình dịch đã được khống chế trên phạm vi cả nước, có 21 tỉnh công bố hết dịch, các địa phương đang tích cực áp dụng các biện pháp phòng chống dịch và chủ động có kế hoạch khôi phục đàn gia cầm, nhưng kết quả chăn nuôi gia cầm của các quý còn lại trong năm vẫn còn tiếp tục bị ảnh hưởng.
Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp quý này tập trung chủ yếu vào các hoạt động chính như: Trồng, khoanh nuôi và chăm sóc rừng; trồng cây phân tán; khai thác gỗ và các loại lâm sản khác. Diện tích rừng trồng tập trung cả nước đạt 54,6 nghìn ha, bằng 98,7% cùng kỳ năm trước. Thời tiết đầu năm không thuận nên diện tích trồng rừng của hầu hết các tỉnh đều giảm (Riêng Phú Thọ giảm 15%, Thanh Hoá giảm 6,5%), trong đó nhiều tỉnh phía Nam chưa thực hiện trồng rừng như: Ninh Thuận, Bình Phước. Ước tính quý I năm nay số cây trồng phân tán của cả nước đạt 47,4 triệu cây, xấp xỉ cùng kỳ năm trước, sản lượng gỗ khai thác 636,9 nghìn m3, bằng 99,2%. Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được Nhà nước quan tâm và đầu tư nhiều hơn nên trong quý I năm nay cả nước chỉ có 549 ha rừng bị cháy, bằng 51,1% cùng kỳ năm trước, trong đó tỉnh Kon Tum 226 ha.
Thuỷ sản
Thời tiết lạnh kéo dài trong tháng 1 năm nay đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, cá ngừ xuất hiện muộn và tôm thả nuôi bị chết nhiều. Thời tiết ấm dần lên trong tháng 2, các loài cá biển nổi xuất hiện nhiều ở các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Kiên Giang, nên hoạt động khai thác thuỷ sản đã sôi động hơn. Mặt khác, do xuất khẩu thuỷ sản tăng và nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản và thuỷ sản chế biến trên thị trường trong nước tăng lên để bù đắp thiếu hụt về thịt gia cầm và gia cầm chế biến do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm cũng góp phần thúc đẩy sản xuất thuỷ sản phát triển. Sản lượng thuỷ sản quý I/2004 ước đạt 685,4 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác 475,3 nghìn tấn, tăng 2,8% (khai thác biển tăng 3,1%); nuôi trồng thuỷ sản đạt 210,1 nghìn tấn, tăng 5,7% (tôm tăng 9%, cá tăng 4,9%).
Tính chung quý I năm 2004, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 ước chỉ đạt 36,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với quý I năm 2003, trong đó nông nghiệp 28 nghìn tỷ, tăng 0,1%; lâm nghiệp 1,5 nghìn tỷ, giảm 0,5%; thuỷ sản 6,6 nghìn tỷ, tăng 4,4%. Mức tăng sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thấp, chủ yếu do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và tiến độ sản xuất lâm nghiệp chậm hơn so với quý I/2003.
3. Sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp quý I ước tính đạt khoảng 85 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6% so với quý I năm 2003, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 30,3 nghìn tỷ, tăng 12,2% (trung ương quản lý đạt 20,6 nghìn tỷ, tăng 14,8% và địa phương quản lý tăng 7,1%), khu vực ngoài quốc doanh đạt 23,2 nghìn tỷ, tăng 21,4% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,5 nghìn tỷ, tăng 14,8% (dầu mỏ và khí đốt tăng 20,8% và các ngành khác tăng 12,5%).
Các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có quy mô công nghiệp lớn quý I đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Hà Nội tăng 19,2%; Hải Phòng tăng 17,5%; Bình Dương tăng 34,7%; Quảng Ninh tăng 23,8%; Vĩnh Phúc tăng 26,7%; Hà Tây tăng 15,9%; Khánh Hoà tăng 23,9%; Đồng Nai tăng 16,8%, Cần Thơ tăng 16,3%… Tuy nhiên, một số địa phương có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp quý I không cao, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước như: Phú Thọ tăng 6,1%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 2,4%; thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 24,4% cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp), chỉ tăng 11,2% (trong đó, quốc doanh địa phương chỉ tăng 0,8%).
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có vị trí then chốt trong tăng trưởng công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ như: Dầu thô khai thác ước tính quý 1 đạt 5,1 triệu tấn, tăng 17,1%; than đạt khoảng 5,7 triệu tấn, tăng 25%; thuỷ sản chế biến tăng 20,1%, quần áo may sẵn tăng 21,3%; giấy bìa tăng 25,1%; phân hoá học tăng 13,1%; sứ vệ sinh, gạch xây, gạch lát đều tăng trên 16%; ti vi lắp ráp tăng 32,3%; xe máy lắp ráp tăng 33,5%, xe đạp hoàn chỉnh tăng 84,6%; và điện tăng 16,3%… Tuy nhiên, bên cạnh những sản phẩm tăng cao và ổn định, một số sản phẩm chịu tác động của giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào tăng cao như phôi thép, hạt nhựa và nguyên liệu, phụ gia cho ngành nhựa, xăng dầu, sợi, nguyên liệu cho da giày, nên lượng nhập hạn chế và ảnh hưởng trực tiếp đến mức sản xuất trong nước và đến một số sản phẩm liên quan như: máy công cụ tăng 6%; xi măng chỉ tăng 4,7%; sản xuất thép chỉ bằng 98,7% cùng kỳ năm trước do giá nhập phôi thép tăng cao; động cơ diesel chỉ bằng 76,3% cùng kỳ; động cơ điện bằng 95,7%, máy biến thế bằng 85%; quạt điện dân dụng bằng 91,7%; ô tô lắp ráp bằng 98,5% (giảm chủ yếu do áp dụng biểu thuế mới từ 01/01/2004 như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu phụ tùng, linh kiện CKD làm cho giá bán ô tô tăng từ 27-30%, việc lắp ráp và tiêu thụ ô tô đều chững lại).
Công nghiệp quý I năm nay có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ là do: Một số ngành công nghiệp năm 2004 đã ký kết được hợp đồng tiêu thụ trong nước và mở rộng được thị trường xuất khẩu như than, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ, dây cáp điện, xe đạp và phụ tùng… Một số doanh nghiệp chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ, hàng may mặc, thuỷ sản đông lạnh… sang Mỹ, Hồng Kông, Châu Phi, EU. Các doanh nghiệp thuộc ngành đóng tàu cũng đã ký được các hợp đồng đóng tàu cho nước ngoài. Thuỷ sản chế biến tăng do tăng mạnh nhu cầu tiêu dùng trong nước, nhất là do yêu cầu thay thế các sản phẩm từ gia cầm, chế biến và xuất khẩu tiếp tục tăng. Trong các khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp quốc doanh tăng trưởng ở mức không cao nhưng ổn định; các doanh nghiệp đang trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại theo hướng hiệu quả hơn. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh, chủ yếu do mở rộng sản xuất bởi có thêm nhiều doanh nghiệp và đơn vị sản xuất mới, nhờ Chính phủ liên tục có các chủ trương và chính sách khuyến khích phát triển và bình đẳng giữa các khu vực kinh tế theo Luật Doanh nghiệp.
4. Đầu tư và xây dựng.
Ước tính quý I, vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung thực hiện 8027,8 tỷ đồng, đạt 21,6% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện 3188,5 tỷ đồng, đạt 24,5% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 1381,9 tỷ đồng, đạt 28,4% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 311 tỷ đồng, đạt 19,9%; Bộ Y tế 105 tỷ đồng, đạt 15,2%; Bộ Giáo dục Đào tạo 68,9 tỷ đồng, đạt 17%; Bộ Văn hoá Thông tin 56 tỷ đồng, đạt 21%. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung do địa phương quản lý thực hiện 4839,3 tỷ đồng, đạt 20,1% kế hoạch, trong đó Hà Nội đạt 21,1%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 14,4%, Hải Phòng đạt 23,7%, Đà Nẵng đạt 12,7% Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 27,2%…
Trong quý I năm nay, Bộ Giao thông Vận tải đã hoàn thành một số công trình như: Nhà ga và Đài kiểm soát không lưu cảng hàng không Điên Biên Phủ, gói thầu 2 dự án cảng Cái Lân và một số cầu cảng khác. Đồng thời, đã khởi công xây dựng đường cao tốc sân bay Liên Khương-Prem thuộc quốc lộ 20 tỉnh Lâm Đồng; nâng cấp đoạn đường Biểu Nghi-Phà Rừng; cầu tầu cảng Cát Lái 2 và một số cầu khác.
Thực hiện vốn đầu tư đạt kế hoạch thấp do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Theo qui định tại Luật Ngân sách, việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng phải hoàn thành trước 31/12 năm trước, nhưng đến giữa tháng 2/2004 vẫn còn một số Bộ, ngành chưa giao xong kế hoạch. (2) Giá thép xây dựng tăng nhanh làm cho nhiều dự án, công trình phải tạm giãn tiến độ thi công để chờ chủ trương của Nhà nước về việc tính bù chênh lệch giá thép xây dựng cho các dự án, công trình; (3) Khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng đã làm cho không ít dự án, công trình khởi công chậm so với kế hoạch.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trong qúi I/2004 có 120 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 420 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tuy số dự án giảm 37,2%, nhưng số vốn tăng 11,1%. Qui mô bình quân một dự án được cấp phép quý I năm nay đạt 3,5 triệu USD, cao hơn mức bình quân 2 triệu USD của một dự án cùng kỳ năm trước.
5. Vận tải và bưu chính viễn thông
Vận chuyển hành khách quý I/2004 ước tính đạt 232,9 triệu lượt hành khách và 10,3 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,2% về lượt hành khách và tăng 7,5% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hàng hoá đạt trên 63,7 triệu tấn và 13,4 tỷ tấn.km, tăng 4,1% về tấn và 5,4% về tấn.km. Trong vận chuyển hàng hoá, vận chuyển bằng đường sắt tăng 14,6% về tấn và 8,6% về tấn.km; bằng đường biển tăng 5,5% và 4,8%, bằng đường bộ tăng 3,9% và 4,9%, bằng đường sông tăng 2,8% và 8%. Đáng chú ý là vận tải hàng hoá bằng đường biển, chiếm tới 67,5 % tổng số tấn.km hàng hoá vận chuyển, đã tăng trở lại và tăng hơn cùng kỳ năm trước là thời gian có khó khăn về vận tải trên tuyến đường Trung Đông. Vận tải hành khách và hàng hoá bằng đường hàng không đều tăng cao ở tất cả các chỉ số.
Hoạt động vận tải tiếp tục đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đáng lo ngại là trong thời gian gần đây trật tự an toàn giao thông có những diễn biến phức tạp, xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.
Về bưu chính viễn thông, trong qúi I/2004 doanh thu đạt 5983,8 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số máy điện thoại của cả nước hiện có 7894,2 nghìn chiếc, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Số thuê bao internet là 496,5 nghìn, tăng 53,9 nghìn thuê bao.
6. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ quý I/2004 ước tính đạt khoảng 87,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 14,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%; kinh tế cá thể đạt 55,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12 %, khu vực kinh tế tư nhân đạt 14,9 nghìn tỷ đồng, tăng 30,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1,9 nghìn tỷ đồng tăng 18%… Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm gần 82% và tăng 16,9%; khách sạn nhà hàng, chiếm 12,1% và chỉ tăng 2,3%; dịch vụ chiếm 5,6% và tăng 29%; du lịch tăng 0,7%.
Giá tiêu dùng tháng 3/2004 tăng 0,8% so với tháng trước, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 1,6% (Lương thực tăng 2,8%; thực phẩm tăng 1,3%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,1%; dược phẩm y tế tăng 3,1%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,8%; riêng giáo dục giảm 3,4%, đồ dùng và dịch vụ khác giảm 1%.
So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 3/2004 tăng 4,9% (chỉ tiêu Quốc hội đề ra là dưới 5% cho cả năm 2004), trong đó đáng lưu ý là giá tiêu dùng của các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu đều tăng: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 8,5% (Lương thực tăng 6,5%; thực phẩm tăng 9,9%); nhóm dược phẩm, y tế tăng 4,3%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 4,4%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,6%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,6%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 1,7%.
Giá vàng tháng 3/2004 tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 2,4% so với tháng 12/2003. Giá đô la Mỹ tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 0,6% so với tháng 12/2003.
Kim ngạch xuất khẩu quý I năm 2004 ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 15,1% so với quý I năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt 4,23 tỷ USD, tăng 15,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2,42 tỷ USD, tăng 7,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,81 tỷ USD, tăng 27,6%. Do kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước có xu hướng tăng chậm hơn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nên tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước trong kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu thô) đã giảm từ 61,3% trong quý I năm 2003 xuống còn 57,2% trong quý I năm 2004; các con số tương ứng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 38,7% lên 42,8%.
Một số mặt hàng xuất khẩu như dầu thô; dệt may; giày dép; điện tử, máy tính; thủ công mỹ nghệ; gạo; cà phê; sản phẩm gỗ và hải sản là những mặt hàng trong quý I có kim ngạch từ một trăm triệu USD trở lên đều tăng so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu dầu thô tăng cao cả về lượng và kim ngạch: xuất khẩu quý I đạt khoảng 5,1 triệu tấn, tăng 16,2%, kim ngạch ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 14%, đóng góp khoảng 20% vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung. Xuất khẩu hàng giày dép đạt 638 triệu USD, tăng 14,5% và đóng góp khoảng 11%; hàng dệt may 878 triệu USD, tăng 3,3% và đóng góp 4%; hàng điện tử và máy tính tăng 22,8% và đóng góp 4,8%; than tăng 38,1% và đóng góp 2,3%. Xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 438 triệu USD, tăng 9,5%, trong đó các mặt hàng chính như tôm đông, mực đông, cá đông tăng cao hơn cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu tôm chiếm 62% và tăng tới 44%. Vụ kiện bán phá giá tôm của Mỹ đối với Việt Nam và một số nước khác chưa có kết luận chính thức, vì vậy các hợp đồng xuất khẩu tôm sang Mỹ vẫn tiếp tục tăng và chưa có ảnh hưởng trong 6 tháng đầu năm.
Xuất khẩu gạo đang được lợi về giá (giá gạo xuất khẩu bình quân quý I năm nay cao hơn quý I năm trước trên 20%), nên mặc dù lượng gạo xuất khẩu mới đạt khoảng 808 nghìn tấn, bằng 86,3% lượng gạo đã xuất khẩu quý I năm trước, nhưng kim ngạch xuất khẩu gạo tăng 6,1% và đóng góp 5,4% vào tăng kim ngạch xuất khẩu chung. Xuất khẩu cà phê tăng mạnh cả về kim ngạch và lượng: kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 180 triệu USD, tăng 35,3% và lượng đạt 271 nghìn tấn, tăng 45,7%… Bên cạnh những mặt hàng xuất khẩu tăng khá, xuất khẩu rau quả chỉ bằng 63,8% quý I năm trước; cao su giảm 3,5% và hạt điều giảm 4,8%.
Xuất khẩu quý này tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước là do: (1) Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có sự chuẩn bị tốt hơn về thị trường và nguồn hàng xuất khẩu ngay từ cuối năm 2003, nên khi thị trường thế giới có biến động về giá nguyên, nhiên vật liệu, nhiều doanh nghiệp đã kịp thời tăng khối lượng hàng xuất khẩu. (2) Chất lượng nhiều mặt hàng xuất khẩu như thuỷ sản, dây điện và cáp điện, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, hàng dệt may, giày dép… ngày càng được nâng cao, nên uy tín trên thị trường thế giới ngày càng tăng. (3) Bộ Thương mại đã tổ chức tốt việc giao hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu ngay từ đầu năm, khuyến khích các doanh nghiệp ký được hợp đồng giá cao và sử dụng nguyên liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu, đặc biệt là đã triển khai tốt các hợp đồng dệt may xuất khẩu sang Mỹ.
Kim ngạch nhập khẩu quý I năm nay ước tính được 6,1 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu hơn 4 tỷ USD, tăng 12,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 2,1 tỷ USD, tăng 8,8%. Kim ngạch nhập khẩu một số nguyên, nhiên, vật liệu chính cho sản xuất trong nước đạt tốc độ tăng cao như: Xăng dầu tăng 14,4%; sắt thép tăng 16,7%; phân bón tăng 24,6% (urê tăng 55,2%); chất dẻo tăng 19,7%; hoá chất tăng 12%; thuốc trừ sâu tăng 28,9%; vải tăng 25,9%; sợi dệt tăng 8,3%; bông tăng 36,6%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ tăng 40,4%. Đáng chú ý là từ giữa tháng 1 đến nay, giá nhập khẩu một số loại nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu trên thị trường thế giới tăng mạnh, nên lượng nhập một số mặt hàng (trừ xăng dầu tăng 7,9%) như sắt thép, phân bón, chất dẻo, sợi dệt tăng không đáng kể, thậm chí có mặt hàng giảm. Nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhập siêu quý I ước tính 741 triệu USD, bằng 13,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và là mức thấp so với quý I năm 2003.
Khách quốc tế đến Việt Nam quý I năm 2004 ước tính được gần 743,5 nghìn lượt người, tăng 4,3% so với quý I năm 2003, trong đó khách đến với mục đích du lịch 411 nghìn lượt người (chiếm 55,3% tổng số khách) tăng 7,0%; vì công việc 118,4 nghìn lượt người, tăng 5,3%; thăm thân nhân 132,4 nghìn lượt người, tăng 3,8%; đến với mục đích khác 81,7 nghìn lượt người, giảm 7,5%. Khách đến Việt Nam nhiều nhất là từ CHND Trung Hoa: 222,6 nghìn lượt người, tăng 27,7%; từ Đài Loan 56,9 nghìn lượt người, tăng 1,6%; từ Hàn Quốc 48,2 nghìn lượt người, tăng 34,5%; từ Ô-xtrây-li-a 32,3 nghìn lượt người, tăng 10%; riêng khách đến từ Mỹ 77,1 nghìn lượt người, giảm 5,7% và từ Nhật Bản 62,8 nghìn lượt người, giảm 23,6%…
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư
Đời sống dân cư những tháng đầu năm, tuy có bị ảnh hưởng của giá tiêu dùng tăng cao nhưng cơ bản vẫn ổn định; nhiều ngành và địa phương đã có những biện pháp tích cực tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Ở nông thôn, rét đậm kéo dài, hạn hán và dịch cúm gia cầm có ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nhưng giá nông sản và thực phẩm tăng cao làm tăng thu nhập cho nông dân và đã giảm bớt khó khăn do sản lượng thấp và thiệt hại của dịch cúm gia cầm. Hiện tượng thiếu đói đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Số hộ thiếu đói trong tháng 3/2004 đã giảm 43,7% so với cùng kỳ năm 2003; số nhân khẩu thiếu đói giảm 49%. Tính chung quý I/2004, số hộ thiếu đói giảm 49,4% so với quý I năm trước và số nhân khẩu thiếu đói giảm 52,1%. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói khoảng 2,3 nghìn tấn lương thực và 4,6 tỷ đồng.
Công tác đền ơn, đáp nghĩa và trợ giúp các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện tích cực. Trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thân vừa qua, các đối tượng chính sách, thương binh, gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, các trại điều dưỡng thương binh, trung tâm điều dưỡng, người có công, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người nghèo đều được tặng quà của Chủ tịch nước, của các cấp, các ngành và các tổ chức, cá nhân trong cả nước với tổng số tiền và hiện vật trị giá khoảng 140 tỷ đồng.
2. Giáo dục và đào tạo
Giáo dục phổ thông: Tính đến hết tháng 2/2004, có 19 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là: Bắc Giang, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó các tỉnh, thành phố có 100% số xã đạt chuẩn là Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam Định và Thái Bình. Đến nay cũng đã có 18 tỉnh, thành phố được công nhận phổ cập trung học cơ sở là Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Bắc Giang, Phú Thọ và Hoà Bình.
Tính đến hết học kỳ I năm học 2003-2004, có 2628 trường tiểu học được công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 19,3% tổng số trường tiểu học trong cả nước. Một số địa phương có tỷ lệ trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia cao như Nam Định đạt 81,3%; Ninh Bình đạt 68,8%…
Công tác chuẩn bị tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2004-2005: Năm học 2004-2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện giải pháp “3 chung” là thi chung đợt, dùng chung đề và sử dụng chung kết quả thi, đồng thời cải tiến thêm một bước việc ra đề thi, phân cấp cho các trường trong khâu xét tuyển, tiếp tục tuyển thẳng học sinh đạt giải kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia, cộng điểm thưởng cho học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông loại giỏi, tăng cường chỉ đạo công tác coi thi, chấm thi, xét tuyển và thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước trong công tác tuyển sinh. Năm nay, ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục duy trì các cụm thi ở Vinh, Cần Thơ và Quy Nhơn. Dự kiến chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng hệ chính qui năm học 2004-2005 khoảng 199 nghìn người, tăng 9,3% so với năm học trước. Đối với đào tạo trung học chuyên nghiệp, năm nay sẽ tuyển khoảng 225,7 nghìn chỉ tiêu hệ chính quy; 55,4 nghìn chỉ tiêu hệ không chính qui và 2 nghìn chỉ tiêu cử tuyển.
3. Văn hoá, thể thao
Công tác văn hoá thông tin những tháng đầu năm tập trung vào các hoạt động đón Tết Giáp thân, kỷ niệm ngày thành lập Đảng và chuẩn bị những ngày lễ kỷ niệm lớn của đất nước, đồng thời tích cực thông tin tuyên truyền cho cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp. Nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ đặc sắc đã được tổ chức như “Mừng Đảng, mừng xuân”; chương trình ca múa nhạc “Điện Biên-Thiên sử vàng”… Để phục vụ tốt cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp sẽ diễn ra vào ngày 25 tháng 4 năm 2004, Sở Văn hoá Thông tin các tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, nhằm động viên cử tri trong cả nước tham gia tích cực và đầy đủ vào sự kiện chính trị quan trọng này.
Công tác thanh tra, kiểm tra văn hoá được tăng cường, nhất là các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá và lĩnh vực xuất bản. Tính đến hết tháng 2/2004, đã tiến hành kiểm tra 914 cơ sở kinh doanh hoạt động dịch vụ văn hoá; phát hiện 157 cơ sở vi phạm, đình chỉ hoạt động của 1 vũ trường và 5 phòng hát karaoke; tịch thu 19,2 nghìn băng, đĩa các loại; tháo dỡ 19 băng rôn quảng cáo sai quy định.
Thể dục, thể thao: Nhiều hoạt động thể dục thể thao quần chúng đã diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước với nhiều nội dung phong phú và đa dạng. Ngành thể thao đã phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức tốt Hội khoẻ Phù Đổng các cấp, tiến tới Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI với các giải bơi, cầu lông, bóng bàn… Đã triển khai các hoạt động thể thao trong nhân dân hướng tới kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, kỷ niệm ngày Thể thao Việt Nam và tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Trong thể thao thành tích cao, đầu năm nay ngành thể thao đã tiến hành tuyển chọn và tập trung nâng cao trình độ cho một số vận động viên ưu tú để tham gia Olympic Athens 2004 với mục đích tiếp tục hội nhập phong trào Olympic quốc tế và phấn đấu giành được huy chương. Ngoài ra, ngành thể thao cũng đã tuyển chọn và tập huấn nâng cao trình độ cho khoảng 1 nghìn vận động viên có trình độ cao và 600 vận động viên trẻ có khả năng thay thế các vận động viên trong thành phần đội tuyển quốc gia tham dự SEA Games 23.
4. Tình hình dịch bệnh
Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 3 có 8,6 nghìn người mắc bệnh sốt rét; gần 1,4 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết và 87 người mắc bệnh thương hàn. Tính từ đầu năm đến 19/3/2004, trong cả nước có 17,7 nghìn người mắc bệnh sốt rét, trong đó 4 người đã chết và 4,8 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 10 người đã tử vong. Cũng trong tháng 3, tại Nghệ An, Trà Vinh, Cần Thơ, Bình Thuận, Hưng Yên và Thanh Hoá đã xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm với 54 trường hợp bị ngộ độc, trong đó có 6 người đã tử vong, đưa tổng số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến nay lên 239 trường hợp, trong đó 9 người đã tử vong.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 3 đã phát hiện thêm 1125 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước đến 19/3/2004 lên 78,6 nghìn người, trong đó có 12,1 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 6,9 nghìn người đã chết do AIDS.
Về dịch viêm phổi do vi rút, trong tháng 3 có 76 trường hợp nghi nhiễm viêm phổi do vi rút, trong đó 8 người đã tử vong. Tính từ 27/10/2003 đến nay đã có 307 trường hợp nghi nhiễm viêm phổi do vi rút, trong đó 44 người đã tử vong. Số trường hợp xét nghiệm dương tính vi rút H5N1 là 22 người, trong đó 15 người đã tử vong. Ngay khi dịch xảy ra, Bộ Y tế đã chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời và giám sát chặt chẽ công tác phòng chống bệnh cúm và điều trị bệnh viêm phổi do vi rút tại các cơ sở y tế và các địa phương, đồng thời phối hợp với các ngành liên quan tiến hành tích cực phòng chống dịch cúm gia cầm để tránh lây lan sang người.
5. Tai nạn giao thông
Tình hình an toàn giao thông những tháng đầu năm nay diễn biến phức tạp, số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng liên tiếp xảy ra. Trong tháng 2/2004, đã xảy ra gần 1,9 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết trên 1,2 nghìn người và làm bị thương 1,9 nghìn người; so với tháng 1/2004 số vụ tăng 11%, số người chết tăng 17,5% và số người bị thương tăng 26,4%; so với tháng 2 năm trước số vụ tai nạn tháng 2 năm nay tuy giảm, nhưng số người chết lại tăng 16,9%. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, trên phạm vi cả nước đã xảy ra gần 3,6 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 2,3 nghìn người và làm bị thương 3,5 nghìn người; so với 2 tháng đầu năm 2003, tuy số vụ giảm 29,7% và số người bị thương giảm 40,7%, nhưng số người chết lại tăng 3,6%. Trong tổng số các vụ tai nạn giao thông 2 tháng đầu năm nay thì tai nạn giao thông đường bộ chiếm tới 96,7% số vụ; 96,8% số người chết và chiếm 98,5% số người bị thương.
Khái quát lại, trong quý I, tuy điều kiện trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, nhưng với sự chỉ đạo kiên quyết, sát thực tế của Chính phủ kinh tế nước ta đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng 7%, cao hơn quý I năm trước. Kết quả này chủ yếu là do sự phát triển tích cực của công nghiệp, xuất khẩu và một số lĩnh vực dịch vụ. Nếu không có những khó khăn đột xuất trong nông nghiệp và biến động bất thường của giá cả, kinh tế có thể đạt được mức tăng trưởng cao hơn.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ