1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp
Trong tháng 10, các địa phương phía Bắc tập trung thu hoạch lúa mùa. Tính đến 15/10, các tỉnh miền Bắc đã thu hoạch được 616,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 81,9% cùng kỳ năm trước và chiếm 50% diện tích gieo cấy. Các tỉnh đồng bằng sông Hồng mới thu hoạch khoảng 264,8 nghìn ha, chiếm 45% diện tích gieo cấy và các tỉnh Bắc trung bộ trên 129 nghìn ha, chiếm 66%; Các tỉnh có tiến độ thu hoạch nhanh là Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hải Dương. Diện tích lúa mùa ở các tỉnh phía Bắc tuy giảm, do một số tỉnh bị ảnh hưởng của đợt mưa lớn đầu vụ gieo cấy, nhưng nhìn chung thời tiết thuận nên năng suất lúa toàn miền Bắc ước tính sơ bộ tăng khoảng 2 tạ/ha so với vụ mùa năm 2003, trong đó đồng bằng sông Hồng ước tăng trên 3 tạ/ha.
Hiện nay các địa phương phía Nam cũng đang khẩn trương kết thúc thu hoạch trà lúa hè thu muộn và lúa vụ 3. Tính đến 15/10, cả nước đã thu hoạch khoảng 2222,2 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 96,3% diện tích gieo cấy và bằng 99% cùng kỳ 2003; riêng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1819,6 nghìn ha, chiếm 95% diện tích xuống giống và bằng 101,5% vụ trước. Năm nay, hầu hết diện tích được thu hoạch trước khi lũ về và thời tiết thuận lợi khi thu hoạch nên năng suất lúa đạt khá. Theo đánh giá sơ bộ của các tỉnh, năng suất lúa hè thu vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 43,7 tạ/ha, cao hơn đánh giá trong tháng 9 và tăng khoảng 3 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2003.
Cũng đến trung tuần tháng 10, các tỉnh phía Nam đã gieo cấy được 809 nghìn ha lúa mùa, tăng 6,3% so với vụ trước; cả nước đã gieo trồng được 160,2 nghìn ha ngô, bằng 109,4% cùng kỳ năm trước; 36,6 nghìn ha đậu tương, bằng 121,6%; 45,5 nghìn ha khoai lang, bằng 90,5%; 65,8 nghìn ha rau đậu, bằng 84,7%.
Lâm nghiệp
Trong tháng 10 các địa phương tập trung vào chăm sóc diện tích trồng rừng của các chương trình, dự án và khai thác lâm sản. So với tháng 10 năm trứơc, diện tích trồng rừng tập trung bằng 100%; chăm sóc rừng trồng bằng 103,4%; trồng cây nhân dân bằng 109,1%; khoanh nuôi tái sinh và trồng dặm bằng 102,1%; khai thác gỗ bằng 101,1%.
Tính chung 10 tháng, diện tích trồng rừng tập trung bằng 100,1% cùng kỳ năm trước; chăm sóc rừng trồng bằng 100,9%; trồng cây nhân dân bằng 100,1% khoanh nuôi tái sinh và trồng dặm bằng 101,1%.
Thuỷ sản
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng 10 ước tính đạt 119,7 nghìn tấn, tăng 14,5% so với tháng 10 năm trước, trong đó cá đạt 68 nghìn tấn, tăng 17%; tôm đạt 30 nghìn tấn, tăng 18,7%; thuỷ sản khác 21,7 nghìn tấn, tăng 2,7%. Cũng trong tháng 10, sản lượng thuỷ sản khai thác ước tính đạt 169,8 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác cá đạt 126,6 nghìn tấn, tăng 3%; tôm 9,2 nghìn tấn, tăng 1,3%; thuỷ sản khác 34 nghìn tấn, tăng 1%.
Tính chung 10 tháng năm 2004, sản luợng thuỷ sản ước tính đạt 2536,9 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 868,4 nghìn tấn, tăng 11,8%; sản lượng khai thác 1668,5 nghìn tấn, tăng 3,8%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước đạt 30,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 11,4 nghìn tỷ và tăng 11% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 11,3% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 10,4%); khu vực ngoài quốc doanh đạt 8,7 nghìn tỷ và tăng 22,6%; khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,9 nghìn tỷ và tăng 13,8% (dầu mỏ và khí đốt tăng 26,1%; các ngành khác tăng 9,8%). Mặc dù tốc độ tăng sản xuất công nghiệp tháng 10 giảm nhẹ so với tốc độ tăng của công nghiệp 9 tháng, nhưng nhìn chung vẫn giữ được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ, nhờ các mặt hàng chủ lực duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với tháng 10 năm trước như: Than sạch, dầu thô, khí đốt thiên nhiên, thuỷ sản chế biến, quần áo may sẵn, giấy bìa các loại, phân hoá học, xe đạp và điện sản xuất đã bù lại cho các sản phẩm tăng thấp như vải lụa, xút, gạch xây, động cơ điện, ắc qui, ti vi lắp ráp… hoặc không đạt mức sản xuất của cùng kỳ năm trước như quần áo dệt kim, thép cán, xi măng, máy công cụ, động cơ diesel, máy biến thế, ô tô lắp ráp…
Tính chung 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 293,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 108,5 nghìn tỷ và tăng 12,2% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 14,3% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 7,7%); khu vực ngoài quốc doanh đạt 78,2 nghìn tỷ và tăng 21,7%; khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 107,2 nghìn tỷ và tăng 14,7% (dầu mỏ và khí đốt tăng 21,6%; các ngành khác tăng 12,3%). Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng cao so với 10 tháng năm 2003 như: Than sạch tăng 32,1%; dầu thô khai thác tăng 15,5%; khí đốt thiên nhiên tăng 128%; thuỷ sản chế biến tăng 18,5%; quần áo may sẵn tăng 23,6%; giấy, bìa các loại tăng 32,3%; phân hoá học tăng 27,2%; tivi lắp ráp tăng 28,3%; xe máy lắp ráp tăng 42,2%; xe đạp hoàn chỉnh tăng 109,2% và điện sản xuất tăng 12,2%. Sản xuất thép 10 tháng chỉ tăng 3,7% so với 10 tháng năm trước, do giá phôi thép nhập khẩu trong 10 tháng năm nay đã tăng thêm khoảng 40% so với giá phôi thép nhập khẩu cùng kỳ năm trước; sản xuất xi măng là sản phẩm có cầu liên quan đến tiêu dùng thép xây dựng cũng chỉ tăng ở mức 5,5%; động cơ diesel tăng 1,2%, động cơ điện tăng 6,2%. Một số sản phẩm 10 tháng giảm so với cùng kỳ như: Máy công cụ giảm tới 23,9%; quạt điện giảm 6,6%; ô tô lắp ráp giảm 4,1%; ga hoá lỏng giảm 1,7%…
3. Đầu tư
Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 10 tháng năm 2004 ước thực hiện trên 35 nghìn tỷ đồng, đạt 94,5% kế hoạch năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý thực hiện trên 12,3 nghìn tỷ đồng, đạt 94,6% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 5,1 nghìn tỷ, đạt 103,9% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1,5 nghìn tỷ đồng, đạt 95,5%; Bộ Y tế đạt 85,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 75%; Bộ Văn hoá Thông tin đạt 88,0%… Vốn đầu tư do địa phương quản lý ước thực hiện 22,7 nghìn tỷ, đạt 94,4% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 2,2 nghìn tỷ đồng, đạt 88,8%; TP. Hồ Chí Minh gần 4,4 nghìn tỷ đồng, đạt 70,7%; Thanh Hoá đạt 99,2%; Khánh Hoà đạt 96,%; Đồng Nai đạt 92,1%; Tiền Giang đạt 93,5%, Đồng Tháp đạt 103,9%, Cà Mau 86,4%…
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 20/10/2004 có 579 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1740,1 triệu USD, vốn đăng ký bình quân 1 dự án đạt 3 triệu USD. Trong tổng số các dự án đầu tư được cấp phép từ đầu năm đến nay, dự án 100% vốn nước ngoài chiếm 81,5% về số dự án và 70,5% về vốn đăng ký; dự án liên doanh chiếm 15,5% và 27,6%. Ngành công nghiệp và xây dựng có 405 dự án với số vốn đăng ký 1080,8 triệu USD, chiếm 69,9% về số dự án và 62,1% về vốn đăng ký. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 79 dự án với số vốn đăng ký 294,5 triệu USD, chiếm 13,6% về số dự án và 16,9% về vốn đăng ký. Các ngành dịch vụ có 95 dự án với số vốn đăng ký 364,9 triệu USD, chiếm 16,4% về số dự án và 21% về vốn đăng ký.
Các tỉnh thành phố phía Nam có 411 dự án với số vốn đăng ký là 1121,8 triệu USD, chiếm 71% về số dự án và 64,5 % về vốn đăng ký, trong đó Đồng Nai đứng đầu về số vốn đăng ký với 71 dự án và 451,4 triệu USD, Bình Dương 113 dự án và 275,9 triệu USD, Thành phố Hồ Chí Minh 162 dự án và 251 triệu USD, Bà Rịa- Vũng tàu 13 dự án và 24,2 triệu USD. Các tỉnh phía Bắc có 168 dự án với số vốn 618,3 triệu USD, chiếm 29 % về số dự án và 35,5 % về vốn đăng ký, trong đó Thái Nguyên 3 dự án và 147,7 triệu USD, Hải Phòng 16 dự án và 84,7 triệu USD, Hà Nội có 52 dự án và 66,6 triệu USD, Quảng Ninh 8 dự án và 64 triệu USD, Vĩnh Phúc 15 dự án và 60,3 triệu USD, Phú Thọ 12 dự án và 47,1 triệu USD, Lạng Sơn có 8 dự án và 43 triệu USD, Hải Dương 9 dự án và 28,4 triệu USD…
Theo đối tác đầu tư, Đài Loan đứng đầu về vốn đăng ký với 128 dự án và 402,5 triệu USD, tiếp theo là Hàn Quốc 130 dự án và 288,2 triệu USD, Nhật Bản 47 dự án và 198,7 triệu USD, Ca-na-đa với 11 dự án và 154 triệu USD, Đảo Virgin thuộc Anh 23 dự án và 131,1 triệu USD, Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 28 dự án và 103,5 triệu USD; Xin-ga-po 39 dự án và 85,8 triệu USD, Ma-lai-xi-a 23 dự án và 77,2 triệu USD, Trung Quốc 57 dự án và 64,7 triệu USD, Hoa Kỳ 21 dự án và 60,1 triệu USD.
4. Vận tải.
Vận chuyển hành khách 10 tháng năm 2004 đạt 794,8 triệu lượt hành khách và 37,1 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,4% về lượt hành khách và tăng 12,5% về lượt hành khách.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hành khách bằng đường sắt tăng 11,7% về số khách và tăng 9,5% về số khách.km; đường bộ tăng 7,1% và tăng 7,6%; hàng không tăng 28,1% và tăng 39,9%.
Vận chuyển hàng hoá 10 tháng ước đạt 217,4 triệu tấn và 48,8 tỷ tấn.km, tăng 6,1% về tấn và tăng 9,4% về tấn.km so với 10 tháng đầu năm 2003, trong đó vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt tăng 4,8% về tấn và tăng 5,6% về tấn.km; bằng đường bộ tăng 6,1% và tăng 6,9%; bằng đường biển tăng 8,9% và tăng 10,5%; bằng đường sông tăng 5,4% và tăng 8,2%; bằng hàng không tăng 16,6% và tăng 12,9%.
5. Thương mại, giá cả và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 10 tháng năm 2004 ước tính đạt 306,3 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kinh tế Nhà nước đạt 47,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9%; kinh tế tập thể đạt 2,9 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2%; kinh tế cá thể đạt 193,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 63,1% tổng mức) tăng 17,3%; kinh tế tư nhân đạt 55,4 nghìn tỷ đồng, tăng 33,4%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 81,1% tổng mức, tăng 19,9%; khách sạn, nhà hàng chiếm 12,4%, tăng 10,4%; dịch vụ chiếm 5,7% tăng 15,6%; du lịch chiếm 0,8%, tăng 18,8%.
Giá tiêu dùng: Sau 9 tháng liên tục tăng, lần đầu tiên trong năm, giá tiêu dùng tháng 10/2004 không tăng so với tháng trước, do giá nhóm lương thực, thực phẩm giảm 0,2% (cả lương thực và thực phẩm đều giảm ở mức này) và nhóm văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,4%. So với tháng 12 năm 2003, giá tiêu dùng tháng 10/2004 tăng 8,6%, trong đó lương thực, thực phẩm tăng 14,8% (lương thực tăng 12,3%, thực phẩm tăng 16,6%); dược phẩm, dịch vụ y tế tăng 8,9%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 6,4%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 4,2%. Tính chung 10 tháng giá tiêu dùng tăng 7,4% so với 10 tháng năm 2003.
Giá vàng vẫn tiếp tục xu hướng tăng lên từ tháng 7; giá vàng tháng 10/2004 tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 3,2 % so với tháng 12/2003; trong khi giá đô la Mỹ không tăng so với tháng 9 và tăng 0,3% so với tháng 12 năm trước.
Kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2004 ước đạt trên 21,3 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước, bình quân một tháng đạt trên 2,1 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 16,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,6 tỷ USD, tăng 15,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,1 tỷ USD, tăng 36,2%.
Trị giá xuất khẩu của hầu hết mặt hàng chủ yếu đều tăng (trừ sữa và các sản phẩm từ sữa, lạc, dầu thực vật). Các mặt hàng đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng là: dầu thô đóng góp 32,6%, hàng dệt may 13%, sản phẩm gỗ 8,2%, giày dép 6,9%, hàng điện tử, máy tính 6,5%, cà phê 3,3%, gạo 2,7% và than đá 2,4%, hải sản 1%. Các mặt hàng dầu thô, than đá, gạo, cao su và điều là những mặt hàng được lợi về giá trong 10 tháng. Xuất khẩu dầu thô 10 tháng ước đạt 16,3 triệu tấn với kim ngạch gần 4,7 tỷ USD, tăng 14,5% về lượng, nhưng tăng 48,6% về trị giá. Xuất khẩu hàng dệt may ước đạt 3,7 tỷ USD, tăng 19,5%; giày dép đạt 2,1 tỷ USD, tăng 17,7%; hàng điện tử, máy tính 866 triệu USD, tăng 54,3%; sản phẩm gỗ đạt 835 triệu USD, tăng 84,5%; gạo đạt 3,5 triệu tấn, với trị giá 817 triệu USD, giảm 5,4% về lượng, nhưng tăng 17,9% về trị giá.
Kim ngạch nhập khẩu 10 tháng ước đạt 25,1 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 16,3 tỷ USD, tăng 21,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 8,8 tỷ USD, tăng 21,9%. Kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do kim ngạch của hầu hết các mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao như : Xăng dầu tăng 39,6%; sắt thép tăng 44,6%; phân bón tăng 20,9%; chất dẻo tăng 41,3%; thuốc trừ sâu tăng 32,2%, bông tăng 87,3%. Lượng nhập khẩu xăng dầu 10 tháng tăng 8,2%, sắt thép tăng 7% (phôi thép tăng 15,3%), chất dẻo tăng 10%, riêng bông tăng 47,6% trong khi đó một số mặt hàng lượng nhập khẩu giảm như giấy, phân bón và sợi dệt. Nhập khẩu máy móc thiết bị 10 tháng giảm 6,6%. Nhập siêu 10 tháng khoảng 3,8 tỷ USD, bằng 17,7% kim ngạch xuất khẩu.
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 10 ước đạt 244,1 nghìn người, tăng 7,9% so với tháng 10 năm trước, trong đó tăng mạnh số khách đến bằng đường hàng không. Tính chung 10 tháng năm 2004, số khách quốc tế vào nước ta ước đạt 2368,7 nghìn lượt người, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1262,1 nghìn lượt người (chiếm 53,3% tổng số khách), tăng 39,7%; vì công việc 426,7 nghìn lượt người, tăng 14,2%; thăm thân nhân 387,2 nghìn lượt người, tăng 23,7%; vì các mục đích khác 292,7 nghìn lượt người, tăng 9,4%.
Khách đến nhiều nhất là từ Trung Quốc: 646,2 nghìn lượt người, tăng 27,6%; từ Mỹ 225,2 nghìn lượt người, tăng 28,8%; Nhật Bản 215,9 nghìn lượt người, tăng 29,6%; Đài Loan 209,8 nghìn lượt người, tăng 31,2%; Hàn Quốc 171,6 nghìn lựơt người, tăng 80,6%; Ô-xtrây-li-a 101,4 nghìn lượt người, tăng 40,7%; Pháp 82,4 nghìn lượt người, tăng 22,8%.
6. Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng ước tính đạt 88,1% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa đạt 87,1%, trong đó các khoản thu chủ yếu đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 89,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 85,8%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 89,8%; các khoản thu về nhà đất đạt 156,4%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 144,3%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 75,4%. Thu từ dầu thô đạt 111,6% dự toán năm. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 74,1%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu mới đạt 65,4% kế hoạch năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng ước tính đạt 79,9% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 89,7%; chi cho đầu tư phát triển đạt 70% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 69,2%); chi trả nợ và viện trợ đạt 86,8%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 88,4% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 88,1%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể đạt 94,3%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 93,1%; chi cho y tế đạt 89,7%; chi cho văn hoá thông tin đạt 88,6%; chi cho khoa học và công nghệ đạt 88%. Bội chi ngân sách 10 tháng ước tính bằng 53,2% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 79,1% và vay nước ngoài 20,9%.
7. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, trong tháng 10 (tính đến 21/10), có 26,1 nghìn lượt hộ với 125,2 nghìn lựơt nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm khoảng 0,2% số hộ và 0,2% số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. Số hộ thiếu đói trong tháng 10/2004 giảm đáng kể so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước (đều giảm hơn 47%), do trong tháng này ở các địa phương phía Bắc đã và đang thu hoạch lúa mùa và các địa phương phía Nam thu hoạch lúa hè thu muộn và lúa vụ 3. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ cho các hộ thiếu đói 4,6 nghìn tấn lương thực và 11,5 tỷ đồng, trong đó riêng tháng 10 là gần 40 tấn lương thực và khoảng 350 triệu đồng.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 10/2004, có 11 nghìn người mắc bệnh sốt rét, tăng 1,9 nghìn người so với tháng trước, trong đó có 3 người chết; số người mắc sốt rét tính từ đầu năm đến nay là 93,7 nghìn, trong đó 16 người đã chết. Cũng trong tháng có 7,4 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 1,7 nghìn người so với tháng trước, trong đó chết 9 người; số mắc bệnh sốt xuất huyết tính từ đầu năm đến nay là 58,9 nghìn trường hợp, trong đó 87 người đã tử vong. Ngoài ra, từ đầu năm đến nay cũng đã có 5,1 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, làm chết 5 người và 2,9 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào tử vong.
Về tình hình nhiễm HIV/AIDS, trong tháng 10 đã phát hiện thêm 1,1 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trong cả nước đến 19/10/2004 lên 86 nghìn người, trong đó có 13,6 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 7,8 nghìn nguời đã chết do AIDS.
Trong tháng 10 cũng đã xảy ra 14 vụ ngộ độc thực phẩm với tổng số 328 trường hợp bị ngộ độc tại Bắc Ninh, Yên Bái, Quảng Ninh, Hải Dương, Phú yên, Khánh Hoà và Ninh Thuận, nâng tổng số người bị ngộ độc thực phẩm từ đầu năm đến nay lên gần 2,3 nghìn người, trong đó 38 người đã tử vong.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 9/2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1227 vụ tai nạn giao thông, làm chết 919 người và làm bị thương 981 người. So với tháng 8/2004, số vụ tai nạn giảm 173 vụ; số người chết giảm 87 người; số người bị thương giảm 244 người. So với tháng 9/2003, số vụ tai nạn giảm 22,7%; số người bị thương giảm 40,9%; nhưng số người chết tăng 5,4%. Trong tổng số các vụ tai nạn giao thông xảy ra trong tháng 9, chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ: chiếm tới 95,9% số vụ; 94,6% số người chết và 98,2% số người bị thương.
Tính chung 9 tháng 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 13,3 nghìn vụ tai nạn, làm chết 9,1 nghìn người và làm bị thương 12,1 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 16%; số người bị thương giảm 25,4%; riêng số người chết tăng 3,4%. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng năm 2004 xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, làm chết 33 người và làm bị thương 44 người.
Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng 10 đã xảy ra lốc, lũ, mưa to, sạt lở đất, sét đánh tại một số tỉnh như: Lào Cai, Tuyên Quang, Điện Biên, Nghệ An, Long An, An Giang, Vĩnh Long và Kiên Giang làm chết 25 người, mất tích 2 người và bị thương 14 người. Thiệt hại ước tính khoảng 40 tỷ đồng.
Tính từ đầu năm đến nay, thiên tai đã ảnh hưởng tới 2/3 số tỉnh, thành phố trong cả nước, làm chết 132 người; mất tích 55 người và làm bị thương 175 người. Thiên tai cũng đã làm 9,6 km đê bị vỡ, trôi, sạt lở; 141 km kênh mương bị hư hỏng; trên 20 vạn ha lúa, hoa màu bị ngập úng, hư hại, trong đó mất trắng trên 30 nghìn ha lúa và 2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ… Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 450 tỷ đồng.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ