1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp
Trọng tâm của sản xuất nông nghiệp tháng này là thu hoạch lúa mùa trên phạm vi cả nước; gieo trồng cây vụ đông ở các địa phương phía Bắc và gieo cấy lúa đông xuân ở các địa phương phía Nam. Tính đến trung tuần tháng 11, kết quả đạt được như sau:
Diện tích lúa mùa đã thu hoạch là 1395,7 nghìn ha, bằng 95% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1119,8 nghìn ha, bằng 96,1%; các địa phương phía Nam thu hoạch 275,9 nghìn ha, bằng 90,8%. Trên diện tích đã thu hoạch, năng suất bình quân đạt 43,5 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ mùa năm trước. Sơ bộ ước tính, sản lượng lúa vụ mùa năm nay có thể đạt 8,7 triệu tấn, tăng trên 16 vạn tấn so với vụ mùa 2006. Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm lúa mùa của cả nước đến nay đã thu hoạch xong với năng suất 55,6 tạ/ha, tăng 3,3 tạ/ha so với vụ mùa trước và sản lượng ước tính đạt 3,1 triệu tấn, tăng 15 vạn tấn. Một số địa phương có sản lượng lúa mùa tăng cao so với vụ mùa 2006 là: Hải Phòng đạt 234,6 nghìn tấn, tăng 7,9%; Hải Dương 362,5 nghìn tấn, tăng 5,7%; Hà Nam 197,4 nghìn tấn, tăng 4,9%; Thái Bình 515,1 nghìn tấn, tăng 3,4%. Trong khi đó, một số tỉnh Bắc Trung Bộ bị mưa lũ nên sản lượng lúa mùa vụ này bị giảm sút nhiều so với vụ mùa trước như: Nghệ An giảm 8%; Hà Tĩnh giảm 26,4%; Quảng Bình giảm 17,4%; Quảng Trị giảm 5,7%.
Cùng với thu hoạch lúa mùa, các địa phương phía Bắc còn gieo trồng được 469,9 nghìn ha cây vụ đông, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước, trong đó ngô 183,1 nghìn ha, bằng 97,7%; khoai lang 65,2 nghìn ha, bằng 86,6%; đậu tương 69,3 nghìn ha, bằng 105,8%; lạc 9,8 nghìn ha, bằng 108,9%; rau đậu 141,2 nghìn ha, bằng 100,9%. Các địa phương phía Nam sau khi thu hoạch lúa hè thu và thu đông đã gieo sạ được 193,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 78,4% cùng kỳ các năm trước.
Khó khăn lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp tháng này là mưa lũ xảy ra trên diện rộng và kéo dài ở hầu hết các địa phương vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Theo báo cáo ban đầu, mưa lũ đã làm hư hại 4 vạn ha lúa và hoa màu, trong đó mất trắng 5,8 nghìn ha lúa và 2,2 nghìn ha hoa màu; cuốn trôi và làm chết 7,4 nghìn con lợn; 150 nghìn con gia cầm. Một khó khăn lớn khác trong sản xuất nông nghiệp là, công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các địa phương tích cực triển khai, song đến nay vẫn tiếp tục bùng phát. Tính đến 22/11, Cao Bằng, Hà Nam và Quảng Trị có dịch cúm gia cầm, Cà Mau và Khánh Hoà có dịch tai xanh ở lợn chưa qua 21 ngày.
Lâm nghiệp
Trong tháng nhiều nơi có mưa nên thuận lợi cho việc trồng rừng và trồng cây lâm nghiệp phân tán. Diện tích rừng trồng mới tháng này ước tính đạt 16,6 nghìn ha, bằng 100,6% cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán 8,5 triệu cây, giảm 5,9%. Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng mới đạt 179,9 nghìn ha, bằng 100,2% cùng kỳ năm trước; trồng cây lâm nghiệp phân tán 181 triệu cây, bằng 97,1%; sản lượng gỗ khai thác 2952,3 nghìn m3, bằng 101,6%. Việc bảo vệ rừng tuy đã được tăng cường nhưng diện tích rừng bị thiệt hại 11 tháng vẫn lên tới 5,6 nghìn ha, trong đó 4,3 nghìn ha bị cháy và 1,3 nghìn ha bị chặt phá.
Thuỷ sản
Sản lượng thuỷ sản tháng 11 ước tính đạt 389,9 nghìn tấn, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 228,5 nghìn tấn, tăng 35% và khai thác 161,4 nghìn tấn, giảm 0,6%. Nuôi trồng thủy sản tăng khá (cá tăng 50%; tôm tăng 6,9%) chủ yếu do diện tích nuôi cá tra, cá basa tiếp tục được mở rộng trên các vùng dọc sông Tiền và sông Hậu. Sản lượng khai thác giảm là do ảnh hưởng của bão số 6 và số 7, số ngày bám biển của ngư dân ít hơn. Tính chung 11 tháng, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 3772,9 nghìn tấn, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 1879,1 nghìn tấn tăng 20,3%; khai thác 1893,8 nghìn tấn, tăng 1,8%.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và tính chung 11 tháng tăng 17,0%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 10,4% (Trung ương quản lý tăng 13,4%; địa phương quản lý tăng 3,5%); khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18% (Dầu mỏ và khí đốt giảm 7,3%, các ngành khác tăng 23,1%).
Trong 11 tháng có nhiều sản phẩm công nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng cao là: Máy công cụ tăng 74,5%; ô tô các loại tăng 62,7%; điều hoà nhiệt độ tăng 56,9%; xe máy các loại tăng 26,8%; động cơ điện tăng 26,2%; máy giặt tăng 24,7%; quạt điện các loại tăng 20,3%; bia các loại tăng 19,4%; máy biến thế tăng 18,7%; giấy, bìa tăng 15,5%; quần áo may sẵn tăng 14,9%; thuỷ sản chế biến tăng 13,2%; điện sản xuất tăng 12,9%; xi măng tăng 11,7% và thép cán tăng 10,2%. Riêng sản lượng dầu thô khai thác 11 tháng chỉ đạt 14,2 triệu tấn, giảm 8,5%.
Hầu hết các địa phương có qui mô sản xuất công nghiệp lớn đều đạt tốc độ tăng trưởng 11 tháng cao hơn tốc độ tăng chung như: Vĩnh Phúc tăng 41,8%; Hà Tây tăng 24,9%; Bình Dương tăng 24,6%; Đồng Nai tăng 22,4%; Hà Nội tăng 19,9%; Cần Thơ tăng 17,3%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh, tuy giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 và tháng 11 đã tăng khá cao nhưng tính chung 11 tháng chỉ tăng 13,6% và Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 0,6%.
3. Đầu tư
Khối lượng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 11 ước tính đạt 9,85 nghìn tỷ đồng, bằng 10,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn do Trung ương quản lý 2,16 nghìn tỷ đồng, bằng 6,1%; địa phương quản lý 7,69 nghìn tỷ đồng, bằng 12,8%. Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 86,76 nghìn tỷ đồng, bằng 90,9% kế hoạch năm, trong đó trung ương quản lý 29,58 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6%; địa phương quản lý 57,18 nghìn tỷ đồng, bằng 95,2%.
Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước của các Bộ, ngành Trung ương nhìn chung đạt thấp, trong đó Bộ Giao thông Vận tải 11 tháng mới thực hiện được 3,52 nghìn tỷ đồng, bằng 52,3% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1,9 nghìn tỷ đồng (bao gồm cả vốn của Bộ Thuỷ sản cũ), bằng 81,5; Bộ Xây dựng 128,9 tỷ đồng, bằng 85,3%; Bộ Y tế 920,1 tỷ đồng, bằng 86,4%. Riêng vốn ngân sách do địa phương quản lý đã có một số địa phương thực hiện vượt kế hoạch năm như: Ninh Thuận đạt 120,8%, Trà Vinh 119,7%, Thừa Thiên-Huế 110,1%, Bình Dương 109,7%, Đà Nẵng 109,1%, Lai Châu 107,7%, An Giang 104%; Thái Bình 102,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu 100,1%.
Kết quả thực hiện và giải ngân các công trình, dự án đầu tư thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ đạt thấp. Tính đến cuối tháng 9/2007 mới giải ngân được 26,8% so với kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 27,6%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 28%; các địa phương đạt 27,3%. Tính đến hết tháng 10/2007, Bộ Giao thông Vận tải đã thực hiện 4037 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ và giải ngân được 3197,4 tỷ đồng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện 1461,2 tỷ đồng và giải ngân được 963,9 tỷ đồng.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tiếp tục thu được những kết quả vượt trội. Tính từ đầu năm đến 22/11/2007 có 1283 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký 13,4 tỷ USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án đạt 10,4 triệu USD. Nếu tính cả 1,64 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 314 dự án đã cấp phép trong các năm trước thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký từ đầu năm đến nay đạt trên 15 tỷ USD, tăng 38,4% so với cùng kỳ năm trước và đã vượt kế hoạch năm là 15,7%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng năm 2007 ước tính đạt 4,1 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 95,3% kế hoạch cả năm.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép trong 11 tháng tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng. Trong tổng số 1283 dự án được cấp phép 11 tháng thì khu vực này có 798 dự án với 7,56 tỷ USD, chiếm 62,2% số dự án và 56,4% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ có 422 dự án với 5,66 tỷ USD, chiếm 32,9% số dự án và 42,2% tổng vốn đăng ký; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có 63 dự án với 184,6 triệu USD, chỉ chiếm 4,9% số dự án và 1,4% tổng vốn đăng ký.
4. Thương mại, giá cả và dịch vụ
Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại và dịch vụ 11 tháng trên địa bàn cả nước nhìn chung ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế 11 tháng ước tính đạt 654,9 nghìn tỷ đồng, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước gần 71 nghìn tỷ đồng, giảm 3,4%; kinh tế tập thể 6,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,7%; kinh tế cá thể 370,3 nghìn tỷ đồng, tăng 26,3%; kinh tế tư nhân 187,5 nghìn tỷ đồng, tăng 29,7%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 19,7 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2%. Trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng nêu trên, thương nghiệp chiếm 80,6% tổng mức và tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 12% và tăng 23%; du lịch chiếm 1,1% và tăng 33,5%; dịch vụ chiếm 6,3% và tăng 34,7%.
Giá tiêu dùng
Trong tháng 11 giá của nhóm hàng lương thực và thực phẩm; nhà ở và vật liệu xây dựng (bao gồm giá thuê nhà ở, điện, chất đốt và vật liệu xây dựng) tiếp tục tăng cao, là nhân tố chủ yếu đưa giá tiêu dùng tháng 11 tăng 1,23% so với tháng trước, trong đó giá lương thực tăng 2,66%; thực phẩm tăng 1,95% (giá thịt gia súc tăng 3,17%, gia cầm tăng 1,41%); giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,87%.
Giá tiêu dùng tháng 11 so với tháng 12 năm trước tăng 9,45%. Tuy nhiên, cần đặc biệt quan tâm là giá tiêu dùng bình quân 11 tháng chỉ tăng 7,92% so với bình quân 11 tháng năm 2006, trong đó giá bình quân 11 tháng của nhóm hàng lương thực tăng 14,98%; thực phẩm tăng 9,17%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 10,48%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng 3-6%; riêng dịch vụ bưu chính, viễn thông giảm 2,74%.
Giá vàng tháng 11 tăng 8,9% so với tháng trước, tăng 24,7% so với tháng 12 năm 2006 và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do giá vàng trên thị trường thế giới tăng mạnh và nhu cầu tiêu dùng trong nước trong dịp này cũng tăng cao. Giá đô la Mỹ giảm 0,3% so với tháng trước do nguồn cung trong nước dồi dào, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào tiếp tục tăng.
Để đảm bảo giá không tăng đột biến vào cuối tháng 12 tới và dịp Tết Nguyên đán, cần phải tiếp tục chỉ đạo quyết liệt, nghiêm chỉnh và đồng bộ các giải pháp đã được đề ra trong các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, phải xem đây là một nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan thuộc Chính phủ; đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng tâm của các địa phương, đoàn thể quần chúng và hệ thống truyền thông đại chúng…
Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Giá trị hàng hóa xuất khẩu tháng 11 ước tính đạt 4,5 tỷ USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ, trong đó một số mặt hàng có giá trị lớn tăng cao là: Dầu thô tăng 48,2% (chủ yếu do giá bán tăng); dệt may tăng 55,1%; điện tử máy tính tăng 39,7%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 25,3%; thuỷ sản tăng 19,7%. Tính chung 11 tháng, giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 43,6 tỷ USD, bằng 93,2% kế hoạch năm 2007 và tăng 20% so với cùng kỳ 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 18,7 tỷ USD, tăng 22,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 17,4 tỷ USD, tăng 30,4% và dầu thô 7,5 tỷ USD, giảm 2,3%. Giá trị xuất khẩu 11 tháng năm nay của hầu hết các mặt hàng đều tăng cao (trừ dầu thô, xe đạp và phụ tùng xe đạp). Trong 11 tháng, ngoài dầu thô còn có một số mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD là: Dệt may 7,1 tỷ USD, tăng 32%; giày dép 3,5 tỷ USD, tăng 9,5%; thủy sản 3,4 tỷ USD, tăng 11,9%; sản phẩm gỗ 2,1 tỷ USD, tăng 23,7%; điện tử, máy tính gần 2 tỷ USD, tăng 24,6%; cà phê 1,7 tỷ USD, tăng 72,7%; gạo 1,4 tỷ USD, tăng 14% và cao su 1,2 tỷ USD, tăng 5,3%.
Nhập khẩu hàng hoá tháng 11 ước tính đạt gần 5,8 tỷ USD, tăng 47,7% so với cùng tháng năm trước, trong đó giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 56,4%; xăng dầu tăng 57,8%; sắt thép tăng 74,4% (phôi thép tăng 54,3% về giá trị và tăng 12,5% về lượng); phân bón tăng 95,3%; chất dẻo tăng 55,7%; hoá chất tăng 59,4%; giấy các loại tăng 40,6% (lượng nhập tăng 21,3%); nguyên phụ liệu dệt, may, da tăng 33,6% và sợi dệt tăng 47,1%.
Tính chung 11 tháng, giá trị hàng hóa nhập khẩu đạt 54,1 tỷ USD, tăng 33,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước 34,6 tỷ USD, chiếm 66,5% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu và tăng 34,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 19,5 tỷ USD, chiếm 33,5% và tăng 30,1%. Giá trị nhập khẩu hàng hóa so với 11 tháng năm trước tăng cao ở tất cả các mặt hàng, trong đó máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng vẫn là mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao nhất với trên 9,2 tỷ USD, tăng 56,3%; tiếp đến là xăng dầu 6,5 tỷ USD, tăng 20%; sắt thép 4,3 tỷ USD, tăng 61,5%; vải 3,6 tỷ USD, tăng 50,4%; điện tử, máy tính và linh kiện 2,7 tỷ USD, tăng 43,8%; chất dẻo 2,2 tỷ USD, tăng 33,7%; nguyên phụ liệu dệt, may, da gần 2 tỷ USD, tăng 22,4%; hóa chất 1,3 tỷ USD, tăng 38,5%; ô tô gần 1,2 tỷ USD, tăng 89,6%; sản phẩm hóa chất cũng đạt gần 1,2 tỷ USD và tăng 41,6%.
Nhập siêu hàng hóa 11 tháng gần 10,5 tỷ USD, bằng 24% giá trị hàng hóa xuất khẩu và gấp hơn 2 lần so với tỷ lệ 11,9% của 11 tháng năm trước. Nhập siêu hàng hóa 11 tháng tăng cao không chỉ do các nguyên nhân đã đề cập liên quan đến nhu cầu nhập khẩu cho đầu tư và sản xuất trong nước, gia tăng về giá trị nhập khẩu của các mặt hàng máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng, tăng giá trên thị trường quốc tế mà một phần còn ảnh hưởng bởi đồng đô la Mỹ xuống giá so với các ngoại tệ mạnh khác, dẫn đến việc tăng giá trị nhập khẩu từ các thị trường tương ứng khi qui đổi về đồng đô la Mỹ.
Khách quốc tế đến Việt Nam
Lượng khách quốc tế đến nước ta 11 tháng ước tính đạt 3,82 triệu lượt người, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến du lịch nghỉ ngơi 2,35 triệu lượt người, chiếm 61,5% và tăng 25,4%; đến vì công việc 592,2 nghìn lượt người, chiếm 15,5% và tăng 13,7%; thăm thân nhân 553 nghìn lượt người, chiếm 14,5% và tăng 7,3%; riêng khách đến với mục đích khác giảm 7,4%.
Khách đến từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất và tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 tháng năm nay, khách đến từ Trung Quốc ước tính đạt 515,4 nghìn lượt người, chiếm 13,5% tổng số khách đến Việt Nam và tăng 6,3% so với 11 tháng năm 2006. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác có lượng khách đến nước ta lớn vẫn giữ được tốc độ tăng tương đối cao so với cùng kỳ năm trước là: Hàn Quốc 432,1 nghìn lượt người, tăng 14,2%; Nhật Bản 375,2 nghìn lượt người, tăng 7,9%; Hoa Kỳ 374,8 nghìn lượt người, tăng 6,7%; Đài Loan 289,7 nghìn lượt người, tăng 15,7%; Ôx-trây-li-a 203,3 nghìn lượt người, tăng 33,4%; Pháp 168,2 nghìn lượt người, tăng 39,1%; Thái Lan 147,6 nghìn lượt người, tăng 36,2%; Ma-lai-xi-a 133,6 nghìn lượt người, tăng 48,1%; Xin-ga-po 116,9 nghìn lượt người, tăng 28,1%. Riêng khách đến từ Căm-pu-chia ước tính đạt 138,7 nghìn lượt người, chỉ bằng 94,7% cùng kỳ năm trước.
Giao thông vận tải
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở các tỉnh miền Trung, tình trạng ngập và sạt lở đất trên một số tuyến quốc lộ, tuyến đường sắt Bắc Nam, nhưng do được ngành Giao thông Vận tải và các địa phương tập trung khắc phục kịp thời nên hoạt động vận tải trong tháng 11/2007 vẫn đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của dân cư. Vận tải hành khách 11 tháng ước tính đạt 1400,8 triệu lượt người và 61,4 tỷ lượt người.km, tăng 8,5% về lượt người và tăng 9% về lượt người.km so với cùng kỳ năm trước, trong đó các đơn vị vận tải do Trung ương quản lý đạt 26,2 triệu lượt người, tăng 4,3% và 18,1 tỷ lượt người.km, tăng 11,1%; các đơn vị vận tải địa phương vận chuyển 1374,6 triệu lượt người, tăng 8,6% và 43,3 tỷ lượt người.km, tăng 8%.
Vận tải hàng hoá 11 tháng ước tính đạt 344,1 triệu tấn và 86,3 tỷ tấn.km, tăng 8% về số tấn và tăng 7,2% về số tấn.km so với cùng kỳ năm 2006, trong đó các đơn vị vận tải do Trung ương quản lý vận chuyển 47,4 triệu tấn, tăng 6,8% và 56,2 tỷ tấn.km, tăng 6,9%; địa phương quản lý 296,7 triệu tấn, tăng 8,2% và 30,1 tỷ tấn.km, tăng 7,9%.
Tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp. Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia, trong tháng 10, trên phạm vi cả nước xảy ra 1095 vụ tai nạn giao thông, làm chết 973 người và làm bị thương 733 người. Nếu so với tháng 10/2006 giảm 9,13% về số vụ; giảm 9,07% về số người chết và giảm 22,92% số người bị thương, nhưng nếu so với tháng trước, số vụ tai nạn lại tăng 0,18% và số người chết tăng 0,21%.
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2007 ước tính bằng 86,7% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 88,2%; thu từ dầu thô bằng 76,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 94,3%; thu viện trợ không hoàn lại bằng 108,3%. Trong thu nội địa, thu từ kinh tế Nhà nước bằng 79,4% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 76,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 92,5%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 100,8%; thu phí xăng dầu bằng 81,2%; thu phí lệ phí bằng 99,6%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2007 ước tính bằng 83,2% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 74,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 73,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương, chi xử lý chính sách đối với lao động dôi dư) bằng 87,1%; chi trả nợ và viện trợ bằng 93%.
6. Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Do ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 5 và các đợt lũ lụt liên tiếp xảy ra trong tháng 10 và tháng 11 ở các tỉnh miền Trung nên số hộ và số nhân khẩu thiếu đói tăng cao so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 11 đã có 88,6 nghìn hộ với 340,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, chiếm 0,76% về số hộ và 0,67% số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với tháng 10/2007, số hộ thiếu đói gấp 2,3 lần và số nhân khẩu thiếu đói gấp 1,9 lần; so với cùng kỳ năm trước số hộ thiếu đói gấp 4,4 lần và số nhân khẩu thiếp đói gấp 3,6 lần.
Tình hình dịch bệnh và an toàn thực phẩm
Trong tháng 11, có 2,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 13 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; hơn 600 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 54 trường hợp mắc bệnh viêm não virút và 345 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Tính chung 11 tháng năm 2007, cả nước có 41,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 90,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 6,9 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút; 930 trường hợp mắc bệnh viêm não virút và 1,2 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn.
Đáng chú ý là, trong tháng 11 có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bùng phát dịch tiêu chảy cấp, trong đó 257 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả. Đến nay, tình hình dịch bệnh đã có xu hướng giảm, một số địa phương trong nhiều ngày qua không phát hiện thêm trường hợp nhiễm mới, nhưng theo nhận định của Bộ Y tế thì tình hình dịch bệnh hiện vẫn đang diễn biến phức tạp. Vì vậy, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp phòng chống và kiểm soát tình trạng lây lan của dịch bệnh này, đặc biệt là công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thiệt hại do lụt bão
Từ 20/10 đến 20/11/2007 đã xảy ra triều cường, lốc xoáy, mưa lũ lớn và kéo dài, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản tại 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, đặc biệt là Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Đình, Phú Yên.
Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm 117 người chết, 9 người mất tích và 88 người bị thương; làm ngập và hư hại nhiều diện tích lúa, hoa màu và diện tích nuôi trồng thủy sản; làm sạt lở và cuốn trôi 217,6 nghìn m3 đất đê; 105,4 km kênh mương và 298 km đường xe cơ giới; 682 nhà ở bị sập và cuốn trôi; 361,2 nghìn ngôi nhà bị ngập nước và hư hỏng, làm 4 nghìn người lâm vào tình trạng không có nhà ở. Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 3,4 nghìn tỷ đồng, trong đó Quảng Nam chiếm 45% và Thừa Thiên-Huế 29,6%.
Ngay khi thiên tai xảy ra, công tác cứu trợ và khắc phục hậu quả đã được Đảng và Chính phủ chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt; được các cấp, các ngành và đồng bào cả nước hưởng ứng. Ngoài kinh phí Thường trực Chính phủ quyết định trích từ ngân sách dự phòng, nhân dân vùng bị mưa lũ còn được cứu trợ 23 tỷ đồng và 5,3 nghìn tấn lương thực cùng khối lượng lớn nhu yếu phẩm khác như dầu ăn, nước uống, chăn màn, quần áo, xăng, dầu hỏa từ ngân sách đại phương và ủng hộ của cộng đồng. Nhờ vậy, sản xuất và đời sống dân cư vùng bị thiên tai đang được khôi phục.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ