- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp:
Lúa đông xuân: Tính đến ngày 15/4/2007, các địa phương phía Bắc đã gieo cấy 1125,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng 553,3 nghìn ha, bằng 99,3%; các tỉnh Bắc Trung Bộ 332,1 nghìn ha, bằng 99,5%; các tỉnh miền núi cơ bản đã gieo cấy xong. Các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1623,8 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 80% diện tích gieo sạ và bằng 100% cùng kỳ. Vùng đồng bằng sông Cửu Long cơ bản thu hoạch xong, ước tính năng suất lúa toàn vùng đạt 59,7 tạ/ha, sản lượng đạt trên 8,9 triệu tấn. Các tỉnh miền Đông và duyên hải Nam Trung Bộ đã thu hoạch trên 60% diện tích gieo sạ và bằng 115% cùng kỳ; một số tỉnh đạt năng suất khá như Phú Yên 54 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha; Quảng Ngãi 52,3 tạ/ha, tăng 2,3 tạ/ha; Đồng Nai 49,6 tạ/ha, tăng 2,1 tạ/ha; Bình Thuận 47,5 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; Quảng Nam 49,1 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha.
Gieo sạ lúa hè thu ở các địa phương phía Nam đạt 309,1 nghìn ha, bằng 47% cùng kỳ năm trước; trong đó đồng bằng sông Cửu Long 289 nghìn ha, bằng 45,3%. Nhìn chung, tiến độ gieo sạ lúa hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước do người dân được ngành Nông nghiệp khuyến cáo không xuống giống vụ xuân hè nhằm tránh sự di chuyển của dịch bệnh rầy nâu và không xuống giống ở một số diện tích sẽ thiếu nước trong mùa khô.
Cây trồng khác, cũng đến trung tuần tháng 4, cả nước đã gieo trồng 471 nghìn ha ngô, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước; 112,3 nghìn ha khoai lang, bằng 99,6%; 165,3 nghìn ha sắn, bằng 127,4%; 172,8 nghìn ha lạc, bằng 92,2%; 97,6 nghìn ha đậu tương, bằng 102,5%; 19,9 nghìn ha thuốc lá, bằng 81,9%; rau đậu các loại 376,1 nghìn ha, bằng 97%.
Chăn nuôi: Đàn gia súc và gia cầm đang được khôi phục dần. Đàn bò ước tính tăng 4-6% so với cùng kỳ. Đàn lợn tăng 3-4%, do chăn nuôi quy mô vừa và trang trại đã tăng lên còn chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ đã giảm đáng kể. Đàn gia cầm đạt khá, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đàn vịt chạy đồng tăng nhiều do vào cuối vụ thu hoạch lúa đông xuân.
Tình hình dịch bệnh: Đến ngày 22/4, không phát hiện được ổ dịch cúm gia cầm mới nào trên phạm vi cả nước. Có 58 tỉnh/thành đã và đang triển khai công tác tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm đợt I năm 2007 với số gia cầm được tiêm phòng là 79,8 triệu con (49,4 triệu con gà; 27,2 triệu con vịt; 3,2 triệu con ngan). Hiện nay còn 6 xã thuộc 3 tỉnh Phú Yên, Sơn La và Hà Tĩnh có dịch lở mồm long móng xảy ra chưa qua 21 ngày. Trong tháng 4 năm nay, đã xuất hiện bệnh “tai xanh” do nhiễm vi rút PRRS ở đàn lợn, chủ yếu là đàn lợn nái và lợn con ở một số tỉnh như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có công điện xử lý và phòng bệnh, yêu cầu thực hiện tốt việc bao vây ổ dịch, điều trị, xử lý gia súc mắc bệnh, tiêu độc chuồng trại và tiêm phòng cho gia súc.
Lâm nghiệp: Trong tháng Tư, thời tiết tương đối thuận lợi cho công tác trồng rừng nên kết quả sản xuất lâm nghiệp đạt khá. Diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 14,34 nghìn ha, tăng 0,14% so với cùng kỳ năm trước, trồng cây lâm nghiệp phân tán 21,4 triệu cây, tăng 1,6%, sản lượng gỗ khai thác 110,3 nghìn m3, tăng 1,2%, sản lượng củi khai thác 2126 nghìn ste, tăng 1,1%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2007, diện tích rừng trồng tập trung đạt 53,24 nghìn ha, tăng 0,3% so với cùng kỳ; trồng cây lâm nghiệp phân tán 83,2 triệu cây, tăng 0,9%, sản lượng gỗ khai thác 591,8 nghìn m3, tăng 0,9%, sản lượng củi khai thác 8696,4 nghìn ste, tăng 1,2%.
Tuy công tác phòng chống cháy rừng được các cấp các ngành quan tâm nhưng do thời tiết đang hanh khô và nhất là đang vào mùa đốt nương làm rẫy nên hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại 2243,5 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1878,4 ha (Yên Bái 765,5 ha, Sơn La 728,8 ha).
Thuỷ sản: Sản lượng thuỷ sản tháng 4/2007 ước tính đạt 322,1 nghìn tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 125 nghìn tấn, tăng 18%; khai thác 197,1 nghìn tấn, tăng 2,4% (khai thác biển 176,3 nghìn tấn, tăng 2,7%). Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng khá, do diện tích nuôi cá tra, cá basa đến thời vụ thu hoạch tăng cao ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thu hoạch tôm nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến. Trong tháng Tư, các địa phương tiếp tục xuống giống nuôi tôm chính vụ và tập trung chăm sóc diện tích đã thả nuôi. Sản lượng thuỷ sản khai thác tăng chủ yếu do thời tiết ngư trường tương đối ổn định, thuận lợi cho tàu thuyền ra khơi khai thác hải sản. Tính chung 4 tháng đầu năm 2007, sản lượng thuỷ sản đạt 1206,3 nghìn tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng 452,3 nghìn tấn, tăng 15,9%, khai thác 753,3 nghìn tấn, tăng 2,4%.
- Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4/2007 tính theo giá so sánh ước tính tăng 17,3% so với tháng 4 năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 4,2%, khu vực ngoài Nhà nước tăng 24,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,1%. Một số sản phẩm công nghiệp giá trị lớn, có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như: Thủy sản chế biến tăng 28,6%; sữa hộp tăng 24%; đường mật tăng 27,7%; bia tăng 29,7%; thuốc lá tăng 32,2%; vải lụa thành phẩm tăng 33,1%; quần áo may sẵn tăng 31,3%; giấy, bìa các loại tăng 49,3%; thuốc trừ sâu tăng 33,5%; thuốc ống tăng 22%; thuốc viên tăng 30,3%; xà phòng tăng 42,5%; sứ vệ sinh tăng 23,3%; gạch lát tăng 50%; thép cán tăng 54,1%; máy công cụ tăng 59,5%; động cơ điện tăng 242,4%; máy biến thế tăng 50,6%; ắc qui tăng 34,6%; quạt điện tăng 32,1%; tivi các loại tăng 38%; ô tô tăng 46,2%; xe máy tăng 22,4% ;…
Tính chung 4 tháng đầu năm nay, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 7,4% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 11,4% , doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 0,6%), khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,6% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,4% (dầu mỏ và khí đốt giảm 1,2%, các sản phẩm khác tăng 23,8%).
Về sản phẩm chủ yếu 4 tháng đầu năm, than sạch khai thác ước tính đạt 14,1 triệu tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước (trong đó xuất khẩu 11 triệu tấn); dầu thô khai thác 5,24 triệu tấn, chỉ bằng 92,1% cùng kỳ hay giảm 7,9%. Điện sản xuất 19,9 tỷ kwh, tăng 10,1%, tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước do khó khăn về nguồn nước đối với thuỷ điện, nhà máy điện Uông Bí mở rộng nghỉ một số ngày để hoàn thiện, Tua bin khí số 1 của nhà máy khí điện đạm Cà Mau mới hoàn thành hoà đồng bộ lên lưới điện quốc gia. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như: thuỷ sản chế biến tăng 17,5%; đường, mật các loại tăng 19,4%; quần áo may sẵn tăng 16,3% (chủ yếu do tăng nhanh hàng xuất khẩu); giấy, bìa các loại tăng 20,3%; thép cán tăng 31%; gạch lát tăng 35,8%; máy công cụ tăng 21,5% ; động cơ điện tăng 62%; ô tô các loại tăng 40,6%; xe máy tăng 36,3%.
Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chế biến tăng thấp hơn mức tăng chung, thậm chí một số còn giảm sút so với cùng kỳ như: vải lụa thành phẩm tăng 13,6%; xi măng tăng 13%; gạch xây tăng 11,5%; phân hoá học giảm 0,4% (phân đạm giảm 0,3%, phân lân giảm 7,6%); quần áo dệt kim giảm 10,1%; xe đạp giảm 69,7%…
- Đầu tư
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước tháng 4/2007 (Bao gồm vốn dự án và chương trình mục tiêu) ước tính thực hiện trên 7,6 nghìn tỷ đồng, bằng 8% kế hoạch cả năm, trong đó vốn do trung ương quản lý 2,76 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%; vốn địa phương quản lý 4,86 nghìn tỷ đồng, bằng 8,1%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2007, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 26,6 nghìn tỷ đồng, bằng 27,9% kế hoạch cả năm, trong đó vốn do trung ương quản lý 9,8 nghìn tỷ đồng, bằng 27,6%; vốn địa phương quản lý 16,8 nghìn tỷ đồng, bằng 28%. Trong 4 tháng qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện 547,8 tỷ đồng, bằng 25,3% kế hoạch năm; Bộ Giáo dục và Đào tạo 392,8 tỷ đồng, bằng 32%; Bộ Y tế 336,6 tỷ đồng, bằng 31,6%; Bộ Văn hoá Thông tin 99,1 tỷ đồng, bằng 29,5%; Bộ Thuỷ sản 69,4 tỷ đồng, bằng 27,9%; Bộ Công nghiệp 54,7 tỷ đồng, bằng 28,7%; riêng Bộ Giao thông Vận tải thực hiện trên 1,42 nghìn tỷ đồng, nhưng mới bằng 18,8%; Bộ Xây dựng 32 tỷ đồng, bằng 21,2%. Một số địa phương có khối lượng vốn thực hiện khá như: Hà Nội 1,69 nghìn tỷ đồng, bằng 29,2% kế hoạch năm; Hải Phòng 346,7 tỷ đồng, bằng 25,1%; Thanh Hoá 462 tỷ đồng, bằng 35,5%; Đà Nẵng 531,6 tỷ đồng, bằng 25,3%; Đồng Nai 357,1 tỷ đồng, bằng 30%; Bà Rịa-Vũng Tàu 620,1 tỷ đồng, bằng 31,9%; thành phố Hồ Chí Minh 1,26 nghìn tỷ đồng, nhưng mới đạt 15,2% kế hoạch năm.
Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 22/4/2007 đã cấp phép cho 204 dự án với tổng số vốn đăng ký 2,09 tỷ USD. Nếu tính cả 548,4 triệu USD vốn đăng ký bổ sung vào 134 dự án cấp phép các năm trước và 771,9 triệu USD của 87 dự án cấp phép cuối năm 2006 nhưng chưa tính vào năm trước thì tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đăng ký là 3,41 tỷ USD.
Trong 291 dự án mới cấp phép, khu vực công nghiệp, xây dựng có 161 dự án với tổng vốn đăng ký 1629,8 triệu USD, chiếm 55,3% số dự án và 57% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 116 dự án và 1052,4 triệu USD, chiếm 39,9% số dự án và 36,8% tổng vốn đăng ký; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 14 dự án và 177,8 triệu USD, chiếm 4,8% số dự án và 6,2% tổng vốn đăng ký.
Trong số 35 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép, Bà Rịa-Vũng Tàu có số vốn đăng ký dẫn đầu với 694,6 triệu USD, chiếm 24,3% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Thừa Thiên-Huế 277,1 triệu USD, chiếm 9,7%; Quảng Ngãi 260 triệu USD, chiếm 9,1%; Bình Dương 239,7 triệu USD, chiếm 8,4%; thành phố Hồ Chí Minh 208,2 triệu USD, chiếm 7,3%; Bình Định 185 triệu USD, chiếm 6,5%; Hải Dương 180,3 triệu USD, chiếm 6,3%…
Theo đối tác đầu tư, Hàn Quốc dẫn đầu với 591,5 triệu USD, chiếm 20,7% tổng vốn đăng ký vào nước ta; Ấn Độ 527,3 triệu USD, chiếm 18,4%; Xin-ga-po 496,3 triệu USD, chiếm 17,4%; Thái Lan 255,1 triệu USD, chiếm 8,9%; Hoa Kỳ 166,3 triệu USD, chiếm 5,8%; Nhật Bản 159,9 triệu USD, chiếm 5,6%; Pháp 113 triệu USD, chiếm 4%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 111,6 triệu USD, chiếm 3,9%; Đài Loan 100,4 triệu USD, chiếm 3,5%…
- Thương mại, giá cả và dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 4 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 218,9 nghìn tỷ đồng, tính theo giá thực tế, tăng 22,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước 22,3 nghìn tỷ đồng, giảm 10,2%; kinh tế tập thể 2,2 nghìn tỷ đồng, tăng 25,4%; kinh tế cá thể 126,1 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9%; kinh tế tư nhân 62,4 nghìn tỷ đồng, tăng 31,2% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gần 6 nghìn tỷ đồng, tăng 35,2%. Xét theo ngành kinh doanh, thương nghiệp 179,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng 25,7 nghìn tỷ đồng, tăng 21,4%; du lịch 2,5 nghìn tỷ đồng, tăng 41,9% và dịch vụ 11,2 nghìn tỷ đồng, tăng 22,6%.
Giá tiêu dùng tháng 4/2007 tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, giá tiêu dùng tháng 4/2007 của hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng, nhưng với các mức độ khác nhau, cụ thể: phương tiện đi lại, bưu điện có mức tăng cao nhất (+1,1%), trong đó đáng lưu ý là phân nhóm bưu chính, viễn thông không tăng; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 1%; các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; may mặc, giày dép, mũ nón; thiết bị và đồ dùng gia đình; dược phẩm, y tế tăng phổ biến ở mức 0,4-0,5%; giáo dục tăng 0,2%; văn hóa, thể thao, giải trí giữ ở mức giá tháng trước và đồ uống, thuốc lá giảm nhẹ (- 0,2%). So với tháng 12/2006, giá tiêu dùng tháng 4/2007 tăng 3,5% và tăng ở tất cả các nhóm hàng hóa, trong đó tăng cao nhất là nhà ở và vật liệu xây dựng, tăng 5,9%; tiếp đến là các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,6%; đồ uống thuốc lá tăng 3,3%; may mặc giày dép mũ nón, tăng 2,5%; các nhóm hàng khác tăng phổ biến khoảng từ 0,6% đến 2,1%, riêng phân nhóm bưu chính viễn thông giảm nhẹ (-0,2%).
Giá vàng tháng 4/2007 tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 4,7% so với tháng 12/2006 và tăng 13,8% so với tháng 4/2006. Giá đô la Mỹ tháng 4/2007 tuy giảm 0,3% so với tháng 12/2006, nhưng tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 0,6% so với cùng kỳ.
Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 4 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 31,3 tỷ USD, tăng 27,5% so cùng kỳ năm 2006, trong đó xuất khẩu tăng 22% và nhập khẩu tăng 32,8%. Nhập siêu 4 tháng đầu năm nay 2,26 tỷ USD, chiếm 15,6% kim ngạch xuất khẩu.
Xuất khẩu 4 tháng năm 2007 ước tính đạt 14,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước 6,4 tỷ USD, tăng 27,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 5,7 tỷ USD, tăng 35,2% và dầu thô 2,4 tỷ USD, giảm 10,5%. Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng chủ yếu (trừ dầu thô, gạo và cao su) đều tăng so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường xuất khẩu trong quí I nhìn chung đều tăng, các thị trường chính quen thuộc vẫn là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc, trong đó xuất khẩu sang thị trường Mỹ trên 2 tỷ USD với các mặt hàng có giá trị lớn như dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng hải sản.
Về mặt hàng xuất khẩu, dầu thô 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt 5,1 triệu tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước và giá xuất khẩu bình quân trong 4 tháng giảm, nhưng vẫn là mặt hàng có kim ngạch cao nhất trong các mặt hàng xuất khẩu. Kim ngạch dệt may 2,2 tỷ USD, tăng tới 31,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Mỹ 932 triệu USD, tăng 29,1%, thị trường Nhật Bản 163 triệu USD, tăng 10,3%; Giày dép 1,2 tỷ USD, tăng 11%, trong đó thị trường Mỹ 209 triệu USD, tăng 14%; Anh 115 triệu USD, giảm 5,9%; Đức 86 triệu USD, giảm 5,5%; sản phẩm gỗ 780 triệu USD, tăng 24,2%; hàng điện tử, máy tính 635 triệu USD, tăng 27,5%; than đá 338 triệu USD, tăng 23,4%… Xuất khẩu thuỷ sản hơn 1 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu các mặt hàng nông sản trong 4 tháng biến động theo chiều hướng khác nhau, trừ cà phê tăng với mức kỷ lục (+ 134,8%), một phần do được giá và lượng xuất 656 nghìn tấn, tăng 84,3% và rau quả tăng 20,3%, các mặt hàng khác như hạt tiêu, hạt điều, chè chỉ tăng ở mức thấp, trên dưới 4%; riêng gạo mới đạt 1,4 triệu tấn, giảm 19,4% về lượng và kim ngạch 446 triệu USD, giảm 7,3%.
Nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 16,78 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước 10,69 tỷ USD, tăng 35,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 6,09 tỷ USD, tăng 28,7%. Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 4 tháng ước tính đạt 2,9 tỷ USD, tăng 52,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quí I nhập từ Trung Quốc 393 triệu USD, Pháp 361 triệu USD, Nhật Bản 353 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu hầu hết các nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất trong nước (trừ nguyên phụ liệu cho dệt, may da giảm 5,4%) đều tăng so với 4 tháng đầu năm trước. Một số mặt hàng có mức tăng khá về lượng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, là yếu tố tích cực góp phần phát triển sản xuất trong những tháng tới.
Nhập khẩu một số nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu 4 tháng đầu năm 2007
| Lượng nhập
(Nghìn tấn) |
Trị giá
(Triệu USD) |
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) | ||
| Lượng nhập | Trị giá | |||
| Xăng dầu | 4101 | 2033 | 14,8 | 14,0 |
| Sắt thép | 2283 | 1285 | 44,3 | 72,9 |
| Phôi thép | 708 | 309 | 28,0 | 59,9 |
| Phân bón | 1245 | 268 | 48,6 | 45,7 |
| Urê | 229 | 59 | 24,1 | 32,9 |
| Chất dẻo | 502 | 731 | 18,1 | 34,8 |
| Giấy các loại | 247 | 168 | 7,5 | 10,7 |
| Vải | 1067 | 22,4 | ||
| Điện tử, máy tính và linh kiện | 812 | 36,1 | ||
| Nguyên phụ liệu dệt may, da | 606 | -5,4 | ||
| Hoá chất | 407 | 35,5 | ||
| Gỗ và nguyên liệu gỗ | 306 | 56,2 | ||
Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 501 triệu lượt hành khách và 21,8 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,3% về lượt khách và 10,8% về lượt hành khách.km so với cùng kỳ năm trước. Vận chuyển hành khách bằng đường bộ chiếm 86,8% khối lượng vận chuyển và 64,7% khối lượng luân chuyển giữ tốc độ tăng ổn định và đều cả hai chỉ số, lượt khách tăng 9,3% và lượt khách.km tăng 9,2%; vận chuyển bằng đường không tuy tỷ trọng nhỏ nhưng có tốc độ tăng khá cao: tăng 15,4% và tăng 17,7%; tương tự, đường biển tăng 5,6% và tăng 5,8%; đường sông tăng 1,9% và tăng 2,1%. Riêng vận chuyển hành khách bằng đường sắt đã dần khắc phục được tình trạng giảm liên tục trong những tháng trước đây, khối lượng vận chuyển giảm 1,9% nhưng khối lượng luân chuyển tăng 13,4% (con số tương ứng của cùng kỳ năm 2006 giảm 12% và giảm 7,3%), nhờ tăng vận chuyển trên những tuyến đường dài và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Dự kiến trong những ngày cuối tháng Tư sắp tới lượng hành khách vận chuyển sẽ tăng mạnh, do nhu cầu đi lại của dân cư tăng và nhiều tour du lịch ngắn ngày đã được người dân lựa chọn nhân dịp các ngày nghỉ Lễ. Các đơn vị vận tải đã có nhiều biện pháp để đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân như tăng cường số lượng và chất lượng phương tiện, có kế hoạch dự phòng phương tiện phục vụ kịp thời khi có nhu cầu tăng đột biến, đảm bảo trật tự an toàn tại các bến xe, nhà ga và sân bay.
Vận chuyển hàng hoá 4 tháng đầu năm ước tính đạt 120,8 triệu tấn và 30 tỷ tấn.km, tăng 7,7% về số tấn và tăng 6,9% về số tấn.km so với cùng kỳ năm 2006. Các đơn vị vận tải trung ương vận chuyển 16,8 triệu tấn và 20 tỷ tấn.km, tăng 6,8% về số tấn và tăng 7% về số tấn.km; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý vận chuyển 104 triệu tấn và 10 tỷ tấn.km, tăng 7,8% về số tấn và 6,8% về số tấn.km. Vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ có mức tăng cao hơn mức tăng chung, tăng 8,8% về tấn và tăng 9,1% về số tấn.km; đường sông tăng 5,9% và tăng 6%; đường biển tăng 5,6% và tăng 6,5%; đường sắt số tấn vận chuyển đạt mức xấp xỉ cùng kỳ và số tấn.km tăng 10,9%. Riêng vận tải hàng hoá bằng đường hàng không giảm cả về số tấn và số tấn.km.
Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm ước tính đạt 1,5 triệu lượt người tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khách đến chủ yếu bằng đường hàng không đạt 1,2 triệu lượt người, tăng 27,5%; bằng đường bộ đạt 222,7 nghìn lượt người, giảm 18,4%; bằng đường biển 70 nghìn lượt người, giảm 25,3%. Theo mục đích đến, khách du lịch nghỉ ngơi 904 nghìn lượt người, tăng 17,5%; thăm thân nhân 234,8 nghìn lượt người, tăng 20,4%; vì công việc 197,8 nghìn lượt người, tăng 7,8%; các mục đích khác 125,7 nghìn lượt người, giảm 17,2%.
Việt Nam vẫn là điểm thu hút du khách. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có trên một trăm nghìn lượt khách đến Việt Nam trong 4 tháng đầu năm nay là Hàn Quốc 187,5 nghìn khách, Trung Quốc 178,1 nghìn khách, Hoa Kỳ 155,6 nghìn khách, Nhật Bản 149,2 nghìn khách, và Đài Loan 101,1 nghìn khách, trong đó trừ Trung Quốc có số khách đến Việt Nam giảm 14,8% so với cùng kỳ năm trước, số khách đến từ 4 quốc gia và vùng lãnh thổ còn lại tăng khá: Hàn Quốc tăng 21,2%; Hoa Kỳ tăng 12,9%; Nhật Bản tăng 25,8% và Đài Loan tăng 8,2%. Khách đến từ Italia, Hà Lan, Nga, Tây Ban Nha, Niudilân không nhiều, nhưng tốc độ tăng gần gấp rưỡi cùng kỳ năm trước. Ngoài Trung Quốc, khách đến từ Căm-pu-chia giảm 29,5%, từ Lào giảm 33%; từ Na-uy giảm 5,2%.
Bưu chính, viễn thông: Thị trường bưu chính, viễn thông phát triển không ngừng. Các công ty viễn thông luôn đưa ra thị trường nhiều hình thức thu hút khách hàng mới cũng như khuyến mãi hấp dẫn để chăm sóc khách hàng. Tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2007, số thuê bao điện thoại phát triển mới của toàn ngành ước tính đạt 5,36 triệu thuê bao, tăng 174,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số thuê bao trong cả nước tính đến cuối tháng 4 năm nay đạt 32,8 triệu thuê bao, trong đó Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông 21,3 triệu thuê bao (8,2 triệu thuê bao cố định và 13,1 triệu thuê bao di động). Số thuê bao internet phát triển mới tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2007 ước tính đạt 359,5 nghìn thuê bao, bằng 68,5% cùng kỳ, nâng tổng số thuê bao tính đến cuối tháng Tư lên 4,4 triệu thuê bao (Tập đoàn Bưu chính viễn thông 2,25 triệu).
Do sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động bưu chính viễn thông nên doanh thu của toàn ngành cũng tăng nhanh. Tổng doanh thu 4 tháng đầu năm nay ước tính đạt 18,7 nghìn tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính, Viễn thông là 13,4 nghìn tỷ đồng.
- Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2007 ước tính tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 29,5% dự toán cả năm. Các khoản thu nội địa tăng 21,5% và bằng 31% dự toán năm, trong đó thu từ kinh tế Nhà nước bằng 31%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không kể dầu thô bằng 27,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 33,2%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bằng 37%; thu phí xăng dầu bằng 29,8%; thu phí lệ phí bằng 41,1%; các khoản thu về nhà đất bằng 27,9%. Thu từ dầu thô bằng 25,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 30,8%; thu viện trợ bằng 31,3%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2007 ước tính tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2006 và bằng 27,8% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 25,5% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 25,6%). Các khoản chi thường xuyên bằng 32% dự toán cả năm, trong đó chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 31,6%; chi y tế bằng 32%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 33,5%; chi sự nghiệp kinh tế bằng 32,3%; chi quản lý hành chính 31,3%. Chi cải cách tiền lương bằng 25,8%; chi trả nợ và viện trợ bằng 30,1%. Bội chi ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2007 bằng 34,2% mức dự toán cả năm, trong đó 73,1% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 26,9% từ nguồn vay nước ngoài.
- Một số vấn đề xã hội
Thiếu đói trong nông dân
Trong tháng 4/2007 có 107,9 nghìn hộ tương ứng với 376 nghìn nhân khẩu bị thiếu đói, chiếm 0,9% tổng số hộ và 0,7% tổng số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. So với thời điểm cuối tháng 4/2006, số hộ thiếu đói giảm 15,4% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 33%. Tình trạng thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Để hỗ trợ các đối tượng thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đã trợ giúp khoảng 3,7 nghìn tấn lương thực và hàng tỷ đồng.
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 4/2007 có 4,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và gần 600 trường hợp mắc bệnh viêm gan virút. Như vậy, tính từ đầu năm đến 20/4/2007, cả nước có 19,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 7,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và 1,9 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút. Trong 4 tháng vừa qua, cũng đã có gần 200 trường hợp mắc bệnh thương hàn và 123 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 4/2007 đã phát hiện thêm 2,4 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 20/4/2007 lên 123,3 nghìn người, trong đó 23,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 13,3 nghìn người đã tử vong do AIDS.
Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 4/2007, tại Đà Nẵng, Đồng Nai, An Giang, Bình Thuận, Bến Tre, Hà Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Nghệ An và Hà Nội đã xảy ra 12 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 230 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 3 người đã tử vong. Tính chung 4 tháng đầu năm 2007 đã có hơn 1,4 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 20 người đã tử vong.
Tai nạn giao thông
Trong tháng 3/2007 (từ 22/2 đến 21/3), trên phạm vi cả nước đã xảy ra
1047 vụ tai nạn giao thông, làm chết 936 người và làm bị thương 812 người. So với tháng 2/2007 và so với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông giảm cả về số vụ và mức độ thiệt hại về người: So với tháng trước, tai nạn giao thông giảm 453 vụ; số bị chết giảm 445 người và số bị thương giảm 489 người. So với tháng 3/2006, số vụ tai nạn giảm 10,7%; số người chết giảm 5,1% và số người bị thương giảm 1,7%.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2007, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4 nghìn vụ tai nạn, làm chết 3,6 nghìn người và làm bị thương 3,2 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn tăng 3,2%; số người chết tăng 8,1% và số người bị thương tăng 4,9%. Bình quân một ngày trong 3 tháng đầu năm nay xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, làm chết 40 người và làm bị thương 36 người. Tai nạn giao thông trong 3 tháng qua xảy ra chủ yếu trên đường bộ, chiếm tới 96,4% số vụ; 97% số người chết và 97% số người bị thương.
Thiệt hại do lụt bão
Trong tháng 4/2007 đã xảy ra hiện tượng lốc xoáy tại các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Tây Ninh và Đồng Nai gây thiệt hại với mức độ khác nhau về người và tài sản đối với các địa phương trên. Theo báo cáo sơ bộ, lốc xoáy đã làm 2 người chết, mất tích và hơn 50 người bị thương; khoảng 700 ha lúa, hoa màu bị hư hại; gần 250 ngôi nhà bị sập đổ; 2,7 nghìn nhà ở bị sạt lở, tốc mái. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 10 tỷ đồng. Ngay sau khi lốc xoáy xảy ra, các địa phương đã tiến hành công tác khắc phục hậu quả, thu dọn hiện trường và tổ chức cứu trợ, giúp đỡ các gia đình gặp nạn ổn định sản xuất và đời sống.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ