Năm 2007 là năm thứ hai nuớc ta thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 2006-2010 và bắt đầu thực hiện các cam kết về gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO)… Bên cạnh những thuận lợi, trong 6 tháng đầu năm, kinh tế nước ta cũng gặp nhiều khó khăn như hạn hán trên diện rộng; dịch bệnh trên cây trồng và gia súc, gia cầm. Thị trường thế giới tiếp tục biến động khó lường, giá xăng dầu liên tục thay đổi; giá nhiều loại nguyên, vật liệu như sắt thép, phân bón, chất dẻo, giấy, bông và sợi dệt tiếp tục tăng gây áp lực tăng giá đầu vào cho sản xuất trong nước và tăng giá tiêu dùng. Tuy vậy, ngay từ đầu năm Chính phủ đã có sự chỉ đạo, điều hành sát sao và với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế, xã hội tiếp tục phát triển và ổn định.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2007 ước tính tăng 7,87%, cao hơn mức tăng 7,6% của 6 tháng đầu năm 2005 và 7,36% của 6 tháng đầu năm 2006; trong đó quí I tăng 7,69% và quí II tăng 8%. Tăng trưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 2,67%, khu vực công nghiệp và xây dựng 9,88% và khu vực dịch vụ tăng 8,41%. Mức đóng góp của các khu vực vào 7,87% tăng trưởng chung lần lượt là: khu vực công nghiệp, xây dựng 3,94 điểm phần trăm; dịch vụ 3,4 điểm phần trăm; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 0,53 điểm phần trăm.

Bảng 1. Tốc độ tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994

%

Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước Đóng góp vào tăng trưởng (điểm phần trăm)
6 tháng đầu năm 2005 6 tháng đầu năm 2006 6 tháng đầu năm 2007
        GDP 7,6 7,36 7,87 7,87
Khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 4,41 3,11 2,67 0,53
Khu vực công nghiệp, xây dựng 9,2 9,15 9,88 3,94
     Công nghiệp 9,25 9,41 9,96 3,27
Khu vực dịch vụ 7,73 7,78 8,41 3,4

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm nay tăng thấp so với mức tăng 3,11% của 6 tháng đầu năm 2006, chủ yếu do sản lượng lúa đông xuân năm nay giảm 3% so với vụ đông xuân năm trước. Lúa đông xuân có tỷ trọng cao trong giá trị tăng thêm của nông nghiệp 6 tháng, nên đã góp phần làm giảm 1 điểm phần trăm tăng trưởng của ngành này so với cùng kỳ, kéo theo cả khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trưởng thấp hơn, cho dù thuỷ sản đã tăng 9,31% (6 tháng năm 2005 tăng 8% và 6 tháng 2006 tăng 6,4%).

Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng cao hơn 6 tháng đầu năm trước 0,7 điểm phần trăm, chủ yếu do công nghiệp chế biến tăng cao hơn, sản xuất, phân phối điện, ga và nước giữ được mức tăng ổn định. Giá trị tăng thêm của công nghiệp chế biến tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 11,7% của 6 tháng đầu năm 2006 và 2005. Giá trị tăng thêm của sản xuất và phân phối điện, ga và nước tăng 11%. Giá trị tăng thêm của ngành khai thác mỏ tăng 0,6%, chỉ ngang mức 0,66% của 6 tháng đầu năm trước, do khai thác dầu thô tiếp tục giảm và than sạch khai thác tăng không cao.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,41%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng dịch vụ 6 tháng các năm gần đây. Trong các ngành dịch vụ, hầu hết các ngành dịch vụ kinh doanh có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; khách sạn nhà hàng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; tài chính, tín dụng đều duy trì được mức tăng trưởng cao và cao hơn mức tăng trưởng 6 tháng năm trước; các ngành dịch vụ thuộc khối ngân sách nhà nước có mức tăng trưởng phổ biến trên 7%. Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp 6 tháng đầu năm nay là 7,8%; khách sạn, nhà hàng tăng 12,7%; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc tăng 10,8%; tài chính, tín dụng tăng 10,3%.

2. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2007 ước tính tăng 14,5% so với 6 tháng đầu năm 2006 và bằng 46,1% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa tăng 24,9% và đạt 48,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất khẩu tăng 27,1% và đạt 48,7%; thu viện trợ tăng 16,2% và đạt 50,3%; thu từ dầu thô 6 tháng đầu năm giảm 13,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt 38,6% dự toán cả năm, chủ yếu do khai thác và xuất khẩu dầu thô giảm. Trong thu nội địa, một số khoản thu lớn đạt tỷ lệ khá so với kế hoạch năm là: Thu thuế công thương nghiệp ngoài Nhà nước đạt 51,8%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 60,8%; lệ phí trước bạ đạt 55,6%; các khoản thu về nhà đất đạt 50,7%; phí và lệ phí đạt 55,6%. Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 6 tháng đầu năm mới đạt 43,7%; thu từ kinh tế Nhà nước đạt 46,4%; thu phí xăng dầu bằng 48,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2007 ước tính tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 45,8% dự toán cả năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,6% và bằng 42,5% (chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 42,3%); chi thường xuyên tăng 9,4% và bằng 50,2%, trong đó chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề bằng 49,7% dự toán cả năm; chi y tế bằng 49,8%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 50,7%; chi sự nghiệp kinh tế bằng 51,2%; chi quản lý hành chính bằng 51,2%. Chi cải cách tiền lương 6 tháng đầu năm bằng 42,5% dự toán năm; chi trả nợ và viện trợ bằng 47,1%. Bội chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2007 ước tính bằng 46,8% mức dự toán cả năm, trong đó 71,7% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 28,3% từ nguồn vay nước ngoài.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 87,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 2%, lâm nghiệp tăng 1,2% và thuỷ sản tăng 9,7%. Nhìn chung, giá trị sản xuất nông nghiệp năm nay tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước do hạn hán trên diện rộng, dịch bệnh trên cây trồng và gia súc, gia cầm; nuôi trồng thuỷ sản phát triển tự phát gây tác động xấu đến môi trường; mặt khác giá nhiều loại vật tư nông nghiệp tăng đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Tình hình cụ thể của từng ngành như sau:

Nông nghiệp

Lúa đông xuân: Sản lượng vụ đông xuân năm nay ước tính đạt 17,1 triệu tấn, giảm 531,3 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước, chủ yếu giảm ở các tỉnh phía Bắc. Các địa phương phía Bắc thu hoạch 6,2 triệu tấn, giảm 8,8% tương đương với giảm 597,5 nghìn tấn, do diện tích giảm 0,6% (-7,4 nghìn ha) và năng suất lúa giảm 8,2% (-4,9 tạ/ha). Một số tỉnh có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều là Thái Bình giảm 11,8%, Hải Phòng giảm 12%, Vĩnh Phúc 18%, Thanh Hoá 10,5%, Nghệ An 9,7%, Hà Tĩnh 14,7%… Các địa phương phía Nam đã thu hoạch xong lúa đông xuân, sản lượng ước tính đạt 10,9 triệu tấn, tăng 66,2 nghìn tấn chủ yếu do năng suất tăng (+0,4 tạ/ha). Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sản lượng đạt 9,1 triệu tấn, tăng 74,6 nghìn tấn so với vụ lúa đông xuân năm trước, trong đó chủ yếu tăng ở các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười (An Giang tăng 66,9 nghìn tấn, Đồng Tháp tăng 78,7 nghìn tấn, Kiên Giang tăng 44,4 nghìn tấn) đã bù cho sản lượng giảm của một số tỉnh ven biển do bị sâu bệnh nặng và nhiễm mặn (Hậu Giang giảm 105,9 nghìn tấn, Trà Vinh giảm 40 nghìn tấn). Các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ sản lượng lúa giảm 36,5 nghìn tấn, do ảnh hưởng của sâu bệnh và thời tiết không thuận lợi (Đông Nam bộ giảm 16,1 nghìn tấn, Tây Nguyên giảm 20,4 nghìn tấn).

Sản lượng hầu hết các cây trồng vụ đông xuân khác đều tăng so với cùng vụ năm trước: ngô đông xuân ước tính đạt 1,95 triệu tấn, tăng 11,6% so với vụ đông xuân năm trước, do tăng cả diện tích và năng suất: diện tích ngô tăng 5,6% (+28,2 nghìn ha) và năng suất tăng 5,7% (+2 tạ/ha); sản lượng đỗ tương đạt 154,8 nghìn tấn, tăng 28,8%; lạc 368,4 nghìn tấn, tăng 3,7%; vừng 6 nghìn tấn, bằng 100%; rau đậu các loại 6318,8 nghìn tấn, tăng 9,9%; khoai lang 994,6 nghìn tấn, tăng 0,6%.

Lúa hè thu: Tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương đã gieo cấy gần 2 triệu ha, bằng 52,7% cùng kỳ; trong đó đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ 1,52 triệu ha, bằng 95,6%. Mặc dù dịch bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, rầy nâu cơ bản đã được phòng trừ tốt nhưng sâu bệnh vẫn xảy ra cục bộ trên một số diện tích lúa hè thu sớm ở các tỉnh như Long An 1,9 nghìn ha; Bạc Liêu 3,2 nghìn ha; Trà Vinh 1,7 nghìn ha; Hậu Giang 0,9 nghìn ha; Sóc Trăng 3,8 nghìn ha.

Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi ngày 1/4/2007, tổng đàn lợn cả nước bằng 98,6% cùng thời điểm năm trước, giảm 384 nghìn con, chủ yếu do đàn lợn thịt giảm 1,6%. Đồng bằng sông Hồng đàn lợn giảm 4%, tương đương với giảm 293 nghìn con; trong đó Hải Dương giảm 16%, Hà Tây giảm 9%, Thái Bình giảm 6%. Nguyên nhân đàn lợn giảm nhiều là do dịch lở mồm, long móng vẫn xuất hiện ở một vài địa phương, dịch bệnh “tai xanh” ở lợn xuất hiện ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ giảm, những hộ/trang trại nuôi quy mô lớn chỉ duy trì đàn mà chưa mở rộng quy mô. Đàn trâu giảm 1-2%, chủ yếu giảm đàn trâu cày kéo; đàn bò tăng từ 5-7%, chủ yếu tăng ở các tỉnh miền núi, duyên hải Nam Trung bộ do có nguồn thức ăn dồi dào cho chăn thả. Đàn gia cầm được khôi phục nhưng tốc độ tăng chậm lại, ước tính chỉ tăng 3-4% so với cùng thời điểm năm trước, do dịch cúm xảy ra ở một số địa phương và đàn gà được phát triển chủ yếu ở hộ có quy mô nhỏ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng các loại tăng 4-5%, trong đó sản lượng thịt bò hơi tăng 5-6%; sản lượng thịt lợn hơi tăng 3-4%.

Dịch bệnh: Tính đến thời điểm này, dịch cúm gia cầm đã tái phát tại 67 xã của 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Nghệ An, Nam Định, Sơn La, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng) chưa qua 21 ngày. Đến ngày 21/6/2007, có 63 tỉnh/thành phố đã và đang triển khai công tác tiêm phòng đợt 1 năm 2007, trong đó có 44 tỉnh đã cơ bản hoàn thành tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm lần 1 đợt 1 năm 2007. Tổng số gia cầm được tiêm là 146,6 triệu con, trong đó 83,9 triệu con gà, 59,3 triệu con vịt, 3,5 triệu con ngan. Hiện nay, còn 8 xã thuộc 2 huyện của tỉnh Quảng Trị có các ổ dịch lở mồm, long móng xảy ra chưa qua 21 ngày.

Lâm nghiệp: 6 tháng đầu năm 2007, thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp nên kết quả sản xuất đạt khá so với cùng kỳ.

Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 97,8 nghìn ha, tăng 0,3%; trồng cây phân tán 110,4 triệu cây, tăng 0,2%; sản lượng gỗ khai thác 1387,5 nghìn m3, tăng 2,9%; sản lượng củi khai thác 11651,2 nghìn ste, tăng 2,2%. Do thời tiết khô hanh kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, nên mặc dù công tác bảo vệ phòng chống cháy được tăng cường nhưng số vụ cháy và diện tích rừng bị thiệt hại tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước: Diện tích rừng bị thiệt hại trong 6 tháng ước tính 4310,1 ha, tăng 54,9% so với cùng kỳ; trong đó diện tích rừng bị cháy 3704,4 ha (Sơn La 1036 ha, Yên Bái 765,5 ha…)

Thuỷ sản: Sản lượng thuỷ sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1849,5 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nuôi trồng tăng 19,2%; khai thác tăng 2,6%. Nuôi trồng thuỷ sản đạt 772,6 nghìn tấn, trong đó cá đạt 589,4 nghìn tấn, tăng 22,9%; tôm 116,8 nghìn tấn, tăng 9,5%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng khá, do giá cá tra, cá basa tăng cao nhất từ trước tới nay nên diện tích nuôi trồng ở đồng bằng sông Cửu Long tăng cao; ngoài ra, nuôi cá điêu hồng, cá rô, cá bống tượng bằng lồng bè cũng phát triển khá. Khai thác thuỷ sản đạt 1076,9 nghìn tấn, trong đó khai thác biển đạt 989,4 nghìn tấn, tăng 3%. Khai thác thuỷ sản tăng do thời tiết thuận lợi, các loại cá cơm, cá thu, cá ngừ đại dương và sứa xuất hiện nhiều và dài ngày ở vùng biển miền Trung và phía Nam, tàu và thuyền được cải hoán nâng cao công suất đảm bảo hoạt động trên nhiều tuyến, ra khơi thường xuyên.

4. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 6/2007 theo giá so sánh ước tính tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 15,3% (trung ương quản lý tăng 15,7%, địa phương quản lý tăng 14,6%), khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,9% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,1% (dầu mỏ và khí đốt giảm 7,6%, các sản phẩm khác tăng 26,7%). Trong các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, một số sản phẩm có tốc độ tăng cao hơn mức bình quân chung là: than sạch tăng 19,5%; bia tăng 48,1%; giấy bìa tăng 24,1%; phân hóa học tăng 66%; thuốc viên tăng 18,1%; thép cán tăng 20,5%; máy công cụ tăng 74,1%; động cơ điện tăng 24,1%; máy biến thế tăng 32%; ti vi lắp ráp tăng 19,8%; ô tô lắp ráp tăng 45,7%; xe máy lắp ráp tăng 36,9%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh ước tính tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 8,5% (trung ương quản lý tăng 11,3%, địa phương quản lý tăng 2,8%), khu vực ngoài Nhà nước tăng 20,5% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,3% (dầu mỏ và khí đốt giảm 4%, các sản phẩm khác tăng 24,3%).

Trong ba ngành công nghiệp cấp I, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn và là ngành có tốc độ tăng cao đã góp phần quan trọng vào tăng giá trị sản xuất công nghiệp. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 1,5% do dầu thô khai thác giảm và than sạch khai thác tăng không cao: Sản lượng dầu thô khai thác 6 tháng đầu năm nay ước tính chỉ đạt 7,89 triệu tấn, giảm 7,4% so với 6 tháng đầu năm trước; than sạch khai thác 21,7 triệu tấn, tăng 12,4%. Giá trị sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 11,5% so với cùng kỳ (điện sản xuất 6 tháng 31,6 tỷ kwh, tăng 11,6% ).

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của ngành chế biến có tốc độ tăng cao như bia tăng 20,4%; thuốc trừ sâu tăng 20,8%; gạch lát tăng 24,4%; thép cán tăng 17,2%; máy công cụ tăng 41,6%; động cơ điện tăng 31,2%; máy biến thế 20,8%; ô tô lắp ráp tăng 32,9%; xe máy lắp ráp tăng 34,5%. Bên cạnh đó một số sản phẩm quan trọng đối với nền kinh tế cũng như liên quan đến xuất khẩu lại tăng ở mức thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm sút so với cùng kỳ như : thuỷ sản chế biến tăng 15,7%; vải lụa tăng 11,4%; quần áo may sẵn tăng 13,8%; giấy bìa tăng 15%; phân hóa học tăng 12,8%; xi măng tăng 11,6%… Riêng quần áo dệt kim giảm 11,1%; động cơ điêzen giảm 1,1%; xe đạp giảm 71,8%.

Một số địa phương có quy mô công nghiệp trên địa bàn lớn, có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp cao hơn mức tăng chung của cả nước như: Hà Nội tăng 21,3%; Hải Phòng tăng 18,4%; Vĩnh Phúc tăng 52,8%; Hà Tây tăng 22,1%; Bình Dương tăng 23,7%; Đồng Nai tăng 22,4%; Cần Thơ tăng 18,1%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh chỉ tăng 12,7% và Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 0,4%.

5. Đầu tư

Tổng vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2007 theo giá thực tế ước tính đạt 196,8 nghìn tỷ đồng, bằng 43,5% kế hoạch cả năm, trong đó vốn Nhà nước 92,1 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4%; vốn ngoài Nhà nước 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 46%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 35,2 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2%.

 

Bảng 2. Tổng vốn đầu t­ư thực hiện 6 tháng đầu năm 2007

 

 Kế hoạch 2007    (Nghìn tỷ đồng) Ước tính thực hiện 6 tháng đầu năm 2007
(Nghìn tỷ đồng) Cơ cấu

(%)

So với kế   hoạch năm (%)
TỔNG SỐ 452,1 196,8 100,0 43,5
Vốn Nhà nước 228,1 92,1 46,8 40,4
Vốn ngoài Nhà nước 151,0 69,5 35,3 46,0
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 73,0 35,2 17,9 48,2

Trong vốn nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 41,8 nghìn tỷ đồng, bằng 43,8% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý 6 tháng đầu năm thực hiện 15,1 nghìn tỷ đồng, bằng 42,7% kế hoạch năm, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 882 tỷ đồng, bằng 40,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 603,3 tỷ đồng, bằng 49,1%; Bộ Y tế 457,8 tỷ đồng, bằng 43%; Bộ Văn hoá Thông tin 161,1 tỷ đồng, bằng 47,9%; Bộ Thuỷ sản 110,1 tỷ đồng, bằng 44,2%; Bộ Công nghiệp 98,5 tỷ đồng, bằng 51,6%; Bộ Xây dựng 59,3 tỷ đồng, bằng 39,2%; riêng Bộ Giao thông Vận tải 2,13 nghìn tỷ đồng, bằng 28,1%, thấp so với kế hoạch cả năm do công tác giải phóng mặt bằng gặp khó khăn, sự biến động của giá cả và năng lực của một số nhà thầu không đảm bảo, nhất là năng lực về tài chính.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 26,7 nghìn tỷ đồng, bằng 44,4% kế hoạch năm. Một số địa phương có số vốn thực hiện lớn trong 6 tháng đầu năm 2007 như: Hà Nội 2,7 nghìn tỷ đồng, bằng 46,7% kế hoạch năm; thành phố Hồ Chí Minh 2,65 nghìn tỷ đồng, bằng 32%; Đà Nẵng 1,06 nghìn tỷ đồng, bằng 50,3%; Bà Rịa – Vũng Tàu 1,03 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1%; Đồng Nai 675,3 tỷ đồng, bằng 56,8%; Hải Phòng 554,4 tỷ đồng, bằng 40,1%; Bình Dương 476,1 tỷ đồng, bằng 49,4%; Lâm Đồng 419 tỷ đồng, bằng 53,1%; Thừa Thiên – Huế 413,8 tỷ đồng, bằng 47,6%…

Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 22/6/2007 có 484 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép với số vốn đăng ký 3,93 tỷ USD. Nếu tính cả 869,9 triệu USD vốn đăng ký bổ sung vào 199 dự án đã được cấp phép các năm trước thì tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là 4,8 tỷ USD, đây là mức khá so với cùng kỳ các năm trước.

Trong số 484 dự án mới được cấp phép, khu vực công nghiệp và xây dựng có 302 dự án với số vốn đăng ký 2,24 tỷ USD, chiếm 62,4% số dự án và 57% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 155 dự án và 1,61 tỷ USD, chiếm 32% số dự án và 40,9% tổng vốn đăng ký; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 27 dự án và 81,2 triệu USD, chiếm 5,6% số dự án và 2,1% tổng vốn đăng ký.

Trong các địa phương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mới được cấp phép, Bà Rịa – Vũng Tàu có số vốn đăng ký đứng đầu cả nước với 699,5 triệu USD, chiếm 17,8% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Thừa Thiên-Huế 553,4 triệu USD, chiếm 14,1%; Bình Dương 482,4 triệu USD, chiếm 12,3%; Hà Nội 302,4 triệu USD, chiếm 7,7%; thành phố Hồ Chí Minh 295,2 triệu USD, chiếm 7,5%; Hậu Giang 280 triệu USD, chiếm 7,1%; Hải Dương 180,6 triệu USD, chiếm 4,6%; Ninh Thuận 109,1 triệu USD, chiếm 2,8%; Hưng Yên 106,7 triệu USD, chiếm 2,7%; Thái Nguyên 100 triệu USD, chiếm 2,5%.

Nếu theo đối tác đầu tư thì Xin-ga-po dẫn đầu về vốn đăng ký với 889,2 triệu USD, chiếm 22,6% tổng vốn đăng ký vào nước ta; tiếp đến là Hàn Quốc với 641,5 triệu USD, chiếm 16,3%; Ấn Độ 527,4 triệu USD, chiếm 13,4%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 412,1 triệu USD, chiếm 10,5%; Nhật Bản 305,1 triệu USD, chiếm 7,8%; Thái Lan 224,9 triệu USD, chiếm 6,2%; Đài Loan 203,6 triệu USD, chiếm 5,2%; Đặc khu HC Hồng Công (Trung Quốc) 114,4 triệu USD, chiếm 2,9%; CHND Trung Hoa 104,5 triệu USD, chiếm 2,7% …

6. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm 10,7% tổng mức, giảm 7,7%; kinh tế tập thể chiếm 1%, tăng 25%; kinh tế cá thể chiếm 57,3%, tăng 27,1%; kinh tế tư nhân chiếm 28,3%, tăng 29,9% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,7%, tăng 28,1%. Trong tổng mức, ngành thương nghiệp chiếm gần 82%, tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng chiếm 11,8%, tăng 21,7%; du lịch chiếm 1,2%, tăng 38,6%; dịch vụ chiếm 5,1%, tăng 28,4%.

Giá tiêu dùng tháng 6/2007 tăng 0,9% so với tháng trước, tăng 5,2% so với tháng 12/2006 và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Giá tiêu dùng tăng do giá của tất cả các nhóm hàng hóa đều tăng nhưng với các mức độ khác nhau. So với tháng trước, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có tỷ trọng cao nhất trong tiêu dùng tăng 1% (lương thực tăng 0,4%, thực phẩm tăng 1,4%); nhà ở, vật liệu xây dựng và văn hóa thể thao giải trí đều tăng ở mức 1,3%, là mức tăng cao nhất trong các nhóm; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 0,9% (riêng phân nhóm bưu chính, viễn thông tiếp tục giảm 1,1%); dược phẩm y tế tăng 0,8% ; các nhóm còn lại tăng phổ biến từ 0,2-0,5%. So với tháng 12/2006, giá tiêu dùng tăng 5,2%, trong đó tăng cao nhất là nhà ở và vật liệu xây dựng (+8,2%), tiếp đến là các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,8%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,7%; may mặc giày dép mũ nón tăng 3,5%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 3,3%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,2%; dược phẩm y tế tăng 2,9%. So với 6 tháng đầu năm trước, giá tiêu dùng bình quân tăng 7%, thấp hơn mức tăng bình quân 8,6% trong 6 tháng đầu năm 2005 và 7,9% trong 6 tháng đầu 2006 và thấp hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, với xu hướng tăng giá như 6 tháng đầu năm và các biến động khó lường về giá trên thị trường quốc tế để việc kiềm chế tốc độ tăng giá thấp hơn tốc độ tăng trưởng, cần có các giải pháp hữu hiệu và sự quan tâm thường xuyên của các cơ quan hữu quan.

 Bảng 3. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân so với cùng kỳ năm trước

 %

6 tháng 2005  6 tháng 2006 6 tháng 2007
Chỉ số giá tiêu dùng 108,6 107,9 107,0
Lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống 112,7 109,2 108,4
    Lương thực 111,4 107,5 114,5
    Thực phẩm 113,5 109,7 106,1
Đồ uống và thuốc lá 103,7 104,7 106,2
May mặc, giày dép và mũ nón 103,9 105,8 106,1
Nhà ở và vật liệu xây dựng 105,6 110,0 109,9
Thiết bị và đồ dùng gia đình 104,1 105,3 106,4
Vận tải, bưu điện 107,0 108,9 103,9
Bưu chính, viễn thông   89,8 97,7

Giá vàng 6 tháng biến động thất thường, bình quân 6 tháng tăng 11,9% so với 6 tháng đầu năm trước, trong đó giá vàng tháng 6/2007 giảm 2% so với tháng trước nhưng tăng 5% so với tháng 12/2006 và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Khác với xu hướng biến động giá vàng, giá đô la Mỹ 6 tháng có xu hướng tăng nhẹ từ tháng 4/2007 và hầu hết các tháng đều tăng so với cùng tháng năm trước, bình quân mỗi tháng tăng 0,5%. Giá đô la Mỹ tháng 6/2007 tăng ở cả  ba chỉ số: tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 0,1% so với tháng 12/2006 và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất, nhập khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 49,69 tỷ USD, tăng 25,2% so cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,4% và nhập khẩu tăng 30,4%. Do nhập khẩu tăng mạnh so với tốc độ tăng xuất khẩu nên nhập siêu hàng hoá 6 tháng đầu năm nay đã ở mức 4,78 tỷ USD, cao hơn mức nhập siêu 1,98 tỷ USD của 6 tháng đầu năm trước là 2,8 tỷ USD và bằng 21,3% kim ngạch xuất khẩu, cao hơn gấp đôi tỷ lệ 10,6% của 6 tháng đầu năm 2006.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 22,5 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước 9,8 tỷ USD, tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 8,9 tỷ USD, tăng 31,4%, dầu thô 3,76 tỷ USD, giảm 10,1%. Thị trường xuất khẩu chính 5 tháng đầu năm 2007 phát triển không đồng đều, trong đó thị trường ASEAN tăng 29,8%, EU tăng 28,4%, Mỹ tăng 23%, Trung Quốc tăng dưới 5%, riêng thị trường Nhật Bản giảm 0,4%; Ôx-trây-li-a giảm 11%. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong 5 tháng đầu năm ước tính đạt 3,7 tỷ USD, chủ yếu là các mặt hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ và hải sản. Xuất khẩu sang thị trường EU 3,5 tỷ USD, trong đó Đức 746 triệu USD, tăng 32,9%, Anh 538 triệu USD, tăng 16,7%; Hà Lan 426 triệu USD, tăng 34,3%; Pháp 349 triệu USD, tăng 10,6%; I-ta-li-a 343 triệu USD, tăng 39,5%…

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 6 tháng đầu năm nay nhìn chung đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhiều mặt hàng lớn (kim ngạch khoảng 1 tỷ USD trở lên) giữ được tốc độ tăng cao như dệt may 3,43 tỷ USD, tăng 25,9%; giày dép 1,93 tỷ USD, tăng 10,7%; thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, tăng 15,5%; cà phê 1,22 tỷ USD, tăng 108,9% (lượng tăng 63,8%, giá tăng 27,5%); sản phẩm gỗ 1,13 tỷ USD, tăng 22,9%.

Kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm so với 6 tháng đầu năm trước, do lượng xuất khẩu giảm 6,7% xuống 7,7 triệu tấn; giá giảm 3,6% và mới đạt 43,9% kế hoạch cả năm 2007; xuất khẩu gạo 731 triệu USD, giảm 5,6%, chủ yếu do lượng xuất khẩu giảm 18,9%, mới đạt 2,3 triệu tấn; xuất khẩu một số mặt hàng nông sản khác tăng, giảm theo các chiều hướng khác nhau: cao su 527 triệu USD, tăng 1,6% (lượng giảm 3,5%); hạt điều 255 triệu USD, tăng 16,3% (lượng tăng 14,3%); rau quả 157 triệu USD, tăng 20,6%; chè 44 triệu USD, giảm 0,2% (lượng tăng 7%).

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 27,2 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước 17,3 tỷ USD, tăng 30,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 9,9 tỷ USD, tăng 30,7%.

Trong 6 tháng đầu năm nay, nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và nhiều vật tư, nguyên, nhiên liệu quan trọng cho sản xuất trong nước tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhiều mặt hàng tăng khá cả về lượng nhập khẩu. Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng ước tính 4,4 tỷ USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ năm trước (trong 5 tháng đầu năm, thị trường nguồn chủ yếu là Trung Quốc 689 triệu USD, Nhật Bản 610 triệu USD, Pháp 398 triệu USD, Đức 355 triệu USD, Hàn Quốc 290 triệu USD và Đài Loan 276 triệu USD). Nhập khẩu xăng dầu 3,3 tỷ USD, tăng 8,2%, trong đó lượng nhập khẩu tăng 10,5%, lên mức 6,3 triệu tấn; thị trường nguồn Xin-ga-po hơn 3 triệu tấn, chiếm 56,4% lượng nhập, Đài Loan 977 nghìn tấn, Trung Quốc 551 nghìn tấn và Hàn Quốc 516 nghìn tấn. Nhập khẩu sắt thép 2,15 tỷ USD, tăng 60,9%, trong đó lượng nhập khẩu tăng 33,5%, lên 3,7 triệu tấn, thị trường nguồn là Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc. Nhập khẩu vải trên 2 tỷ USD, tăng 38,1%, trong đó thị trường nguồn chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông; nguyên phụ liệu dệt, may, da 1,1 tỷ USD, tăng 10,1%; hóa chất 666 triệu USD, tăng 47,1%; sản phẩm hóa chất 591 triệu USD, tăng 26,7%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 538 triệu USD, tăng 76,3%; gỗ và nguyên phụ liệu gỗ 479 triệu USD, tăng 47,9%; phân bón 423 triệu USD, tăng 24%. Nhập khẩu ô tô 431 triệu USD, tăng 41,7% so với 6 tháng đầu năm trước và xe máy 346 triệu USD, tăng 42,2%.

Xuất, nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 20,8% trong đó xuất khẩu dịch vụ gần 3 tỷ USD, tăng 17,2% và nhập khẩu dịch vụ đạt 3,2 tỷ USD, tăng 24,4%. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu các loại dịch vụ 6 tháng đầu năm đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch 1,7 tỷ USD, tăng 10,3%; vận tải hàng không 494 triệu USD, tăng 41,1%; vận tải biển 400 triệu USD, tăng 21,2%; dịch vụ tài chính đạt 135 triệu USD. Nhập khẩu dịch vụ có mức tăng cao hơn xuất khẩu dịch vụ do phí vận tải và bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu tăng 31,6%, lên 1,1 tỷ USD, ngoài ra các dịch vụ khác có mức tăng khá: dịch vụ tài chính tăng 23,1%, lên 160 triệu USD; dịch vụ bảo hiểm tăng 16,9%, lên 76 triệu USD.

Vận chuyển hành khách 6 tháng đầu năm 2007 ước tính đạt 749,9 triệu lượt khách và 32,6 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,3% về lượt khách và tăng 10,1% về lượt khách.km. Các đơn vị vận tải do trung ương quản lý vận chuyển 14,3 triệu lượt khách và 9,6 tỷ lượt khách.km, tăng 3,9% về lượt khách và tăng 13,2% về lượt khách.km; các đơn vị vận tải do địa phương quản lý phát triển khá ổn định, vận chuyển 735,6 triệu lượt khách và 23 tỷ lượt hành khách.km, tăng 8,4% về lượt khách và tăng 8,9% về lượt khách.km. Vận tải hành khách ở hầu hết các ngành đều tăng về khối lượng luân chuyển, trong đó vận tải đường bộ, đường sắt và đường không có mức tăng cao hơn mức tăng chung.

Vận chuyển hàng hoá 6 tháng ước tính đạt 181,6 triệu tấn và 45,2 tỷ tấn.km; tăng 7,6% về tấn và 7% về tấn.km. Trong các ngành vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ đạt 123,9 triệu tấn và 6 tỷ tấn.km, tăng 8,9% về tấn và tăng 9,2% về tấn.km; con số tương ứng của đường biển tăng 5,6% và tăng 6,5%; đường sông tăng 5,6% và tăng 5,9%; đường sắt giảm 2,4% khối lượng vận chuyển và tăng 11% khối lượng luân chuyển; riêng đường hàng không giảm cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển.

Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm các đơn vị vận tải đã tích cực khắc phục khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao, đồng thời cải tiến, đổi mới phương tiện, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường xe buýt liên tỉnh trên một số tuyến đường giao thông quan trọng. Bên cạnh đó, một số công trình giao thông trọng điểm đang trong giai đoạn khẩn trương hoàn tất; một số địa phương tiếp tục cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới tuyến giao thông nông thôn… để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 6 ước tính đạt 335 nghìn lượt người, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 22,2% so với cùng tháng năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không có lượng đến lớn nhất tăng 28,7% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 2,11 triệu lượt người, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu tăng cao ở nhóm khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi với 1,33 triệu lượt người, tăng 24% (6 tháng đầu năm 2006 đóng góp vào mức tăng chung chủ yếu là khách đến vì công việc); khách đến vì công việc 307,7 nghìn lượt người, tăng 10,6%; thăm thân nhân 308,8 nghìn lượt người, tăng 9,7%; khách đến với mục đích khác 175 nghìn lượt người, giảm 19,4%.

Khách đến từ CHND Trung Hoa tiếp tục giảm trong nhiều tháng trở lại đây, ước tính đạt 275,7 nghìn lượt người, giảm 11,4%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến đạt trên một trăm nghìn lượt người có tốc độ tăng tương đối cao: Ôx-trây-lia 113,6 nghìn lượt người, tăng 34,1%; Đài Loan 153,3 nghìn lượt người, tăng 11,9%; Nhật Bản 208,2 nghìn lượt người, tăng 20,6%; Hoa Kỳ 209,9 nghìn lượt người, tăng 5,1%; Hàn Quốc 262,9 nghìn lượt người, tăng 26,5%. Một số nước như Thái Lan, Pháp, Hà Lan, Ma-lai-xi-a có tốc độ tăng cao, tăng từ 31,7% đến 59,9%.

Bưu chính, viễn thông: Hoạt động bưu chính, viễn thông trong nước và quốc tế tiếp tục phát triển ổn định. Các doanh nghiệp viễn thông không ngừng đưa ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, đặc biệt chương trình trao thưởng cho khách hàng của Viettel Mobile; mở rộng các dịch vụ gia tăng cho khách hàng, sự kết hợp giữa công ty viễn thông, các nhà cung cấp dịch vụ với nhà cung cấp thiết bị công nghệ cao để hoàn thiện cơ sở hạ tầng viễn thông cũng như nâng cao chất lượng và gia tăng dịch vụ. Số thuê bao điện thoại phát triển trong Quí II ước tính đạt 4,9 triệu, tăng 23,2% so với Quí I. Tính chung 6 tháng, số thuê bao điện thoại phát triển mới ước tính đạt 8,9 triệu, nâng tổng số thuê bao trên cả nước tính đến hết tháng 6 đạt 36,4 triệu. Việt Nam được đánh giá là nước có tốc độ phát triển viễn thông cao so với các nước trong khu vực.

Tổng doanh thu bưu chính, viễn thông 6 tháng ước tính đạt 30,86 nghìn tỷ đồng, tăng 71,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông là 21,14 nghìn tỷ đồng chiếm 68,5%

II. XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư trong 6 tháng đầu năm 2007 nhìn chung ổn định. Mặc dù chịu tác động theo những chiều hướng khác nhau do biến động giá tiêu dùng, dịch bệnh ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất kinh doanh, nhưng các ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời trong các dịp lễ, tết góp phần cải thiện đời sống cho người lao động.

Trong 6 tháng đầu năm, thu nhập bình quân một tháng của lao động trong khu vực Nhà nước ước tính đạt trên 1,9 triệu đồng, trong đó thu nhập bình quân của lao động Nhà nước do trung ương quản lý đạt 2,4 triệu đồng và của lao động Nhà nước do địa phương quản lý đạt 1,6 triệu đồng. Tuy nhiên, mức thu nhập này không đồng đều giữa các ngành và các địa phương. Mức lương của cán bộ viên chức tăng lên phần lớn là do chính sách tăng lương theo Nghị định 94/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006.

Đời sống nông dân ổn định. Trong 6 tháng đầu năm, có 463 nghìn lượt hộ với 1893,2 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,4% về số lượt hộ và giảm 30,6% về lượt nhân khẩu so với cùng kỳ năm trước. Số hộ thiếu đói tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Các tỉnh có thiếu đói xảy ra nhiều là Lai Châu và Cao Bằng. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đã trợ giúp khoảng 4,4 nghìn tấn lương thực và hàng tỷ đồng.

2. Giáo dục và đào tạo

Thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) và bổ túc THPT

Năm học 2006-2007, cả nước có 907 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp THPT, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 66,7% và 158,3 nghìn học sinh dự thi tốt nghiệp THPT bổ túc, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 26,6%. So với kỳ thi tốt nghiệp năm 2005-2006, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT năm học này giảm mạnh (-27%) và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT bổ túc giảm mạnh hơn (-56%). Trong kỳ thi năm nay, Đông Nam Bộ là khu vực dẫn đầu cả nước với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 79,82%. Những vùng có tỷ lệ tốt nghiệp thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước là Tây Nguyên (59,9%), Bắc Trung Bộ (57,97%), Đông Bắc (48,25%) và Tây Bắc (32,67%).

Theo số liệu thống kê, vị trí xếp hạng kết quả thi tốt nghiệp THPT của các địa phương năm nay đã có sự thay đổi khá lớn so với các năm học trước. Thành phố Hồ Chí Minh từ vị trí thứ 21 của năm học 2005-2006 đã vượt lên đứng vị trí số 1 với tỉ lệ tốt nghiệp đạt 95,1% ; Nam Định và Thái Bình vẫn duy trì ở vị trí thứ 2 và 3 trong bảng xếp hạng với tỷ lệ tốt nghiệp tương ứng là 90,3% và 86,4% ; Hà Nội đứng ở vị trí thứ 4 với tỷ lệ 86,3% thay cho vị trí thứ 13 trong năm học trước và đứng vị trí cuối cùng của bảng xếp hạng là Tuyên Quang với tỷ lệ tốt nghiệp là 14,1%.

Kỳ thi tốt nghiệp năm học 2006-2007 là kỳ thi đầu tiên thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, những số liệu đã công bố ở trên là điều đáng quan tâm không chỉ của ngành giáo dục mà của toàn xã hội và là lời cảnh báo về chất lượng giáo dục cần được suy nghĩ một cách nghiêm túc trên cả hai phía dạy và học.

Phổ cập giáo dục:

Tính đến cuối tháng 2/2007, cả nước có 38 tỉnh, thành phố được công nhận đạt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là Bắc Giang, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bà Rịa -Vũng Tàu, Thanh Hóa, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bình Dương, Thừa Thiên – Huế, Quảng Bình, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hòa Bình, Nghệ An, Bình Định, Long An, Tây Ninh, Quảng Ninh, Bến Tre, Hậu Giang, Lào Cai, Đồng Nai và Trà Vinh.

Tình hình tuyển sinh đại học, cao đẳng:

Chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy của 88 trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ Giáo dục Đào tạo năm học 2007-2008 là 111,3 nghìn chỉ tiêu, tăng 8% so với năm học trước; trong đó 96 nghìn chỉ tiêu hệ đại học, 15,3 nghìn chỉ tiêu hệ cao đẳng và 12,9 nghìn chỉ tiêu hệ trung cấp chuyên nghiệp. Trong tổng số, chỉ tiêu đào tạo của các trường đại học ngoài công lập là 53,7 nghìn chỉ tiêu, tăng 18% so với năm 2006. Tổng số hồ sơ chính thức đăng ký dự thi đại học, cao đẳng năm học 2007-2008 là 1,9 triệu hồ sơ, trong đó 1323,6 nghìn hồ sơ đăng ký dự thi đại học (chiếm 71%) và 527,3 nghìn hồ sơ đăng ký dự thi cao đẳng (chiếm 29%). Do tỷ lệ đỗ tốt nghiệp PTTH năm nay tương đối thấp nên tỷ lệ dự thi đại học và cao đẳng năm nay sẽ thấp hơn năm học trước nhiều.

Tình hình dịch bệnh

Trong tháng 6/2007 có 3,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 8,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; hơn 100 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút và trên 130 trường hợp mắc bệnh thương hàn. Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm 2007, cả nước có 24,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm 2006; 19,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 25%; 246 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút, giảm 40,4% và gần 500 trường hợp mắc bệnh thương hàn, giảm 22%.

Đặc biệt, dịch cúm A (H5N1) trên người sau 17 tháng (kể từ tháng 11/2005) được khống chế đã tái phát trở lại. Trong tháng đã có thêm 5 trường hợp nhiễm bệnh, trong đó 1 người đã tử vong. Như vậy, tính từ trường hợp đầu tiên (26/12/2003) đến nay Việt Nam đã có 98 trường hợp mắc bệnh trong đó 43 người đã tử vong.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng đã phát hiện thêm 2,5 nghìn trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính đến 16/6/2007 lên 127,6 nghìn người, trong đó 25,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 14 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 6/2007, tại Hà Tây, Khánh Hòa, Kon Tum, Lai Châu, Nghệ An, Vũng Tàu, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc và Kiên Giang đã xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 256 trường hợp bị ngộ độc. Tính chung 6 tháng đầu năm 2007 đã có hơn 2,5 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 24 người đã tử vong.

3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa thông tin 6 tháng đầu năm tập trung thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là các hoạt động tuyên truyền cho cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đã được tổ chức rộng khắp cả nước và thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng, tham gia .

Công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được đẩy mạnh. Từ đầu năm đến nay, thanh tra văn hóa của các bộ, ngành và các địa phương trong cả nước đã tiến hành kiểm tra hành chính hơn 2,7 nghìn cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, phát hiện và xử lý gần 1 nghìn vụ vi phạm, thu giữ nhiều tang vật và phạt hành chính 2,7 tỷ đồng.

Thể dục, thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động chào mừng và kỷ niệm các ngày lễ lớn, các hoạt động chính trị trọng đại của đất nước. Trong 6 tháng đầu năm 2007, Ủy ban Thể dục thể thao đã phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức thành công nhiều giải thể thao quần chúng lớn như Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc khu vực II tại Bình Phước, giải Vật dân tộc toàn quốc tại Hà Tây, Hội thi thể thao-văn nghệ người khuyết tật toàn quốc tại Thừa Thiên-Huế…

Thể thao thành tích cao, trong 6 tháng đầu năm 2007 đã tổ chức thành công hơn 60 giải thi đấu thể thao thành tích cao ở trong nước và 6 giải thể thao quốc tế tại Việt Nam. Ngoài ra, các vận động viên Việt Nam đã tham gia nhiều giải thi đấu quốc tế tại nước ngoài, giành được 11 Huy chương vàng cấp thế giới, 2 Huy chương vàng cấp châu lục và 14 Huy chương vàng các giải quốc tế và mở rộng khác.

4. Tai nạn giao thông

Trong tháng 5/2007, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1190 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1120 người và làm bị thương 883 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 4,2% và số người chết giảm 0,6%. So với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông giảm 134 vụ; số bị chết tăng 32 người và số bị thương giảm 188 người.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2007, đã xảy ra 6,5 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 5,9 nghìn người và bị thương 5 nghìn người. So với cùng kỳ năm 2006, số vụ tai nạn tăng 0,4%; số người chết tăng 6,7%; số người bị thương giảm 1,8%. Bình quân một ngày trong 5 tháng đầu năm nay xảy ra tới 43 vụ tai nạn, làm chết 39 người và làm bị thương 33 người. Tai nạn giao thông xảy ra trong 5 tháng qua chủ yếu trên đường bộ, chiếm tới 96% số vụ; 96,7% số người chết và 96,6% số người bị thương.

5. Thiệt hại do thiên tai

Trong 6 tháng đầu năm 2007 có 32 tỉnh, thành phố ở các vùng, miền khác nhau trong cả nước đã bị ảnh hưởng của thời tiết bất thường như mưa đá, gió lốc, triều cường, sạt lở đất,… Bão chưa xảy ra trong 6 tháng đầu năm nay nhưng lốc xoáy xuất hiện ở nhiều tỉnh. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 22 người chết, mất tích và 119 người bị thương; khoảng 4,4 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hại; 2000m kênh mương bị sạt lở; khoảng 1100 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và ngập nước; hơn 10 nghìn nhà ở bị sạt lở, tốc mái. Tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 95,1 tỷ đồng. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, các địa phương đã tiến hành công tác khắc phục hậu quả, thu dọn hiện trường và tổ chức cứu trợ, giúp đỡ các gia đình gặp nạn ổn định sản xuất và đời sống.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2007 tiếp tục phát triển và ổn định. Nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao, quí II cao hơn quí I; các khu vực kinh tế và các ngành kinh tế đều có tăng trưởng. Xuất khẩu tăng; thu, chi ngân sách tăng so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo được kế hoạch chi thường xuyên, chi đầu tư tăng hơn năm trước; giá tiêu dùng bình quân 6 tháng tăng thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm trước và tăng thấp hơn tốc độ tăng trưởng. Tình hình xã hội ổn định, văn hoá, y tế, thể thao phát triển .

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nhiệm vụ còn lại của 6 tháng cuối năm còn rất nặng nề vì phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: sản xuất nông nghiệp tăng thấp, một số chỉ tiêu như thu, chi ngân sách, vốn đầu tư thực hiện đạt thấp so với kế hoạch cả năm; nhập siêu quá cao do xuất khẩu tăng thấp hơn mức tăng cùng kỳ, hạn chế bởi năng lực sản xuất và sức cạnh tranh nên chưa tận dụng được cơ hội từ gia nhập WTO, trong khi nhập khẩu lại tăng quá mạnh; giá cả vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây tăng giá trong những tháng cuối năm. Về mặt xã hội, cần có giải pháp cấp bách để khắc phục những tồn tại trong giáo dục và phát triển giáo dục một cách vững chắc, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nhằm từng bước cải thiện chất lượng nguồn lao động, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế cũng như công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ