Trong 9 tháng năm 2004, tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp như sự phục hồi của kinh tế thế giới, một số nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, giá cả quốc tế và trong nước tăng mạnh, dịch cúm gia cầm bùng phát trong quí I trên phạm vi nhiều tỉnh thành phố, các bất lợi do thời tiết… tác động thuận và không thuận đến nền kinh tế nước ta. Tuy vậy, do có sự chỉ đạo điều hành sát sao của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, kinh tế tiếp tục phát triển tích cực và đạt mức tăng trưởng cao, xã hội ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 8 tháng và số liệu ước tính tháng 9, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2004 như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Tổng sản phẩm trong nước 9 tháng 2004 ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,1%; khu vực dịch vụ tăng 7,1%. Trong 7,4% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,9% và khu vực dịch vụ đóng góp 2,9%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm nay mức tăng đạt 2,9%, giảm nhẹ so với mức tăng 3% của 9 tháng năm 2003. Ngành nông nghiệp 9 tháng tăng 2,3% (cao hơn hẳn mức tăng 1,6% đã ước tính cho nông nghiệp 6 tháng đầu năm, do ảnh hưởng của thời tiết không thuận đầu vụ đông xuân và ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm); nông nghiệp 9 tháng tăng chủ yếu do được mùa vụ lúa đông xuân và hè thu. Lâm nghiệp 9 tháng tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,1%, xấp xỉ mức tăng của 9 tháng 2003; trong đó chỉ có ngành công nghiệp khai thác tăng mạnh, đạt 15% (cao hơn hẳn mức tăng 6,4% của 9 tháng 2003), các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, khí đối và nước đều chưa bằng mức tăng của cùng kỳ năm trước. Riêng ngành xây dựng, do giá thép xây dựng tăng cao và không ổn định nên mức tăng 9 tháng năm nay chỉ đạt 8% (cùng kỳ năm trước là 10,3%).
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 9 tháng năm nay đạt 7,1%, cao hơn mức tăng trưởng 6,5% của 9 tháng năm 2003. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; vận tải, bưu điện, du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm có mức tăng cao so với mức tăng của 9 tháng năm trước: Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 8,1% (cùng kỳ năm trước 6,5%); ngành vận tải, bưu điện, du lịch tăng 7,5% (cùng kỳ năm trước tăng 5,3%); ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 9,6% (cùng kỳ năm trước tăng 7,7%).
Do khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng lên ở khu vực công nghiệp, xây dựng và giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và khu vực dịch vụ.
Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước tính đạt 78,9% dự toán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa đạt 78,9%, thu từ dầu thô đạt 97,8% và thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 66,2%. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa đều đạt tương đối cao như: Thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 81,2% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 77,9%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 83,3%; các khoản thu về nhà đất đạt 139,5%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 132,8%; riêng thu từ các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 68,7%. Thu từ dầu thô đạt tỷ lệ tăng cao so với dự toán thu cả năm, nhờ giá dầu thô tăng cao, trong khi thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu mới đạt 66,2% kế hoạch năm (thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu mới đạt 58,9%).
Tổng chi ngân sách Nhà nước 9 tháng đầu năm ước tính đạt 71,1% dự toán cả năm, trong đó chi thường xuyên đạt 79,2%; chi cho đầu tư phát triển đạt 63,6% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 62,8%); chi trả nợ và viện trợ đạt 76,8%. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 77,9% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 77,6%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể đạt 85,5%; chi sự nghiệp kinh tế đạt 83,7%; chi cho y tế đạt 77%; chi cho văn hoá thông tin đạt 77%. Bội chi ngân sách ở mức thấp so với GDP và bằng 44,7% mức bội chi cả năm Quốc hội cho phép, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 84,3% và vay nước ngoài 15,7%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2004 diễn ra trong điều kiện có những khó khăn nhất định: Những tháng đầu năm hạn hán trên diện rộng, rét đậm ở các tỉnh phía bắc ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng lúa đông xuân, tiến độ trồng rừng và nuôi trồng thuỷ sản; dịch cúm gia cầm bùng phát trên hầu hết các tỉnh, thành phố trong quí I; thêm nữa, nắng nóng kéo dài đầu tháng 7 và mưa làm ngập úng và mất trắng nhiều diện tích lúa mùa mới cấy vùng đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, thời tiết thuận lợi hơn trong những tháng tiếp theo và nhờ có các biện pháp khắc phục khó khăn và phát triển cả 3 ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nên nhìn chung kết quả sản xuất của cả khu vực này vẫn đạt mức tăng cao hơn năm trước. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2004 theo giá so sánh 1994 ước đạt 172,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm 2003, trong đó nông nghiệp đạt 133,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4%; lâm nghiệp đạt 6,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8%; thuỷ sản 33,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4%. Tình hình sản xuất cụ thể như sau:
Nông nghiệp
Diện tích lúa cả năm ước tính đạt 7420,8 nghìn ha, giảm 31,4 nghìn ha so với năm 2003, trong đó lúa đông xuân đạt 2978,6 nghìn ha, giảm 44,3 nghìn ha; lúa hè thu đạt 2353,8 nghìn ha, tăng 33,8 nghìn ha; lúa mùa 2088,4 nghìn ha, giảm 20,9 nghìn ha. Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 48,1 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha so với năm trước; sản lượng đạt 35,7 triệu tấn, tăng 1,16 triệu tấn và bằng 103,3%. Nếu tính cả 3,4 triệu tấn lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt năm 2004 ước đạt 39,1 triệu tấn, tăng 1,4 triệu tấn so với năm 2003.
Sản xuất rau đậu và một số cây công nghiệp hàng năm tăng khá: Sản lượng rau đậu đạt 9038,1 nghìn tấn, tăng 8,4%; đậu tương 230,9 nghìn tấn, tăng 5,1%; lạc 462 nghìn tấn, tăng 13,7%; vừng 25 nghìn tấn, tăng 76,1%; riêng mía do giá cả bấp bênh, nguồn tiêu thụ hạn chế nên sản lượng chỉ đạt 15541,2 nghìn tấn, bằng 92,2%; bông chịu ảnh hưởng thời tiết nắng hạn kéo dài nên sản lượng chỉ bằng 98,3%.
Cây công nghiệp lâu năm đang vào thời kỳ kinh doanh ổn định nên sản lượng tăng cao so với năm 2003: Sản lượng chè đạt 487,4 nghìn tấn, tăng 38,8 nghìn tấn; cà phê 832,1 nghìn tấn, tăng 38,4 nghìn tấn; cao su 404,6 nghìn tấn, tăng 41,1 nghìn tấn; hồ tiêu 73,8 nghìn tấn, tăng 5,2 nghìn tấn; điều 204 nghìn tấn, tăng 39,6 nghìn tấn. Chương trình cải tạo vườn tạp vùng đồng bằng sông Cửu Long đã mang lại hiệu quả rõ rệt, diện tích gieo trồng cây ăn quả đạt 747,4 nghìn ha, tăng 23 nghìn ha, trong đó xoài tăng 10,3 nghìn ha; vải tăng 1,7 nghìn ha; chuối tăng 2,6 nghìn ha.
Chăn nuôi gia súc tiếp tục được duy trì và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và xuất khẩu, đàn gia cầm đang được phục hồi sau dịch cúm gia cầm. Tính đến 01/8/2004, đàn trâu cả nước có 2,9 triệu con, tăng 1,2% so với năm 2003; đàn bò có 4,9 triệu con, tăng 11,7%; đàn lợn 26,1 triệu con, tăng 5,1%; đàn gia cầm có 218,2 triệu con, giảm 14,3%, trong đó đàn gà 159,2 triệu con, giảm 14%; sản lượng thịt hơi các loại ước tính đạt 2,5 triệu tấn, tăng 7,6%.
Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng tập trung cả nước 9 tháng đầu năm 2004 đạt 140,9 nghìn ha, bằng 99,9% cùng kỳ năm 2003; ước tính cả năm đạt 180,1 nghìn ha, bằng 99,3%. Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng năm nay ước tính tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, do nhu cầu nguyên liệu giấy tăng cao thúc đẩy tiến độ khai thác gỗ; ước tính cả năm đạt 2459,4 nghìn m3, tăng 1%; sản lượng gỗ được khai thác mạnh tại các tỉnh vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, riêng Tuyên Quang tăng 99,5%.
Diện tích rừng bị thiệt hại do cháy và phá rừng tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao: 9 tháng đầu năm nay khoảng 5177 ha, giảm 1322 ha so với cùng kỳ năm trước. Diện tích rừng bị cháy 3976 ha, giảm 26,8%, một số tỉnh xảy ra cháy lớn là Kiên Giang 1058 ha; Điện Biên 839,2 ha; Kon Tum 346,7 ha; Long An 484,6 ha. Diện tích rừng bị phá 1201 ha, tăng 13% so với 9 tháng năm trước, trong đó các tỉnh có diện tích rừng bị phá nhiều là Bình Phước 553 ha, Bình Thuận 117 ha, Đắk Nông 151 ha.
Thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản tuy gặp khó khăn về thời tiết và chất lượng con giống nhưng kết quả cả năm ước tính vẫn cao hơn so với năm 2003 do diện tích nuôi công nghiệp và bán công nghiệp tiếp tục được mở rộng ở nhiều địa phương và chuyển diện tích lúa năng suất thấp sang nuôi cá, tôm sú, phát triển mô hình nuôi tôm trên cát, nuôi cá lồng bè. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 9 tháng ước tính đạt 902,9 nghìn ha, tăng 4,3%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 748,7 nghìn tấn, tăng 11,4%, trong đó cá tăng 11,3%; tôm tăng 15,8%. Ước tính cả năm 2004 sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 1132 nghìn tấn, tăng 13,4%, trong đó cá 686,4 nghìn tấn, tăng 14,4%; tôm 277,4 nghìn tấn, tăng 16,7%.
Hoạt động khai thác thuỷ sản năm nay sôi động hơn so với năm trước và cơ bản là thuận về thời tiết, sản lượng thuỷ sản khai thác 9 tháng ước đạt 1498,7 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khai thác biển đạt 1349,4 nghìn tấn, tăng 5,4%. Ước tính cả năm 2004, sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 1923,3 nghìn tấn, tăng 3,6%, trong đó khai thác biển 1722 nghìn tấn, tăng 4,5%.
Sản lượng thuỷ sản cả năm 2004 ước đạt 3055,3 nghìn tấn, tăng 7% (tăng 200 nghìn tấn) so với năm 2003, trong đó cá đạt 2114,9 nghìn tấn, tăng 7% (tăng 138,6 nghìn tấn); tôm 379,5 nghìn tấn, tăng 11,5% (tăng 39 nghìn tấn).
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng 9 tiếp tục tăng so với tháng 9 năm trước và tăng cao hơn mức tăng của công nghiệp 8 tháng. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9 ước đạt 31,0 nghìn tỷ đồng (giá năm 1994) và tăng 16,7% so với tháng 9 năm trước, trong đó doanh nghiệp Nhà nước tăng 14,3%; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 21,8%; công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,6% (dầu mỏ và khí đốt tăng 14,0% và các ngành khác tăng 16,1%). Sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng là do một số sản phẩm chủ yếu tăng cao so với tháng 9 năm trước như: Than sạch khai thác tăng 42,5%; khí đốt thiên nhiên tăng 32,6%; thuỷ sản chế biến tăng 24,2%; quần áo may sẵn tăng 21,2%; phân hoá học tăng 62,1%; thép cán tăng 25,4%…
Nhìn chung trong 9 tháng năm nay, sản xuất toàn ngành công nghiệp đã duy trì được mức tăng trưởng cao trong tất cả các tháng so với cùng kỳ năm trước, nhờ tăng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp trong nước và tăng xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp chủ lực như dầu thô, than sạch, thuỷ sản chế biến, các sản phẩm dệt may, giày dép, hàng điện tử máy tính… Ước tính giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đạt 264,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 98,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,2% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 14,6% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 7,4%); khu vực ngoài quốc doanh đạt 70,1 nghìn tỷ đồng, tăng 21,6%; khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 96,3 nghìn tỷ đồng và tăng 14,8% (dầu mỏ và khí đốt tăng 21,1%, các ngành khác tăng 12,6%).
Tốc độ tăng trưởng cao nhưng không đều giữa các khu vực kinh tế dẫn đến biến đổi nhẹ trong cơ cấu các khu vực kinh tế theo chiều hướng tăng tỷ trọng của khu vực có tốc độ tăng cao và giảm đi ở những khu vực có tốc độ tăng thấp hơn.
Trong ba ngành kinh tế cấp I, giá trị sản xuất công nghiệp khai thác mỏ và khai khoáng 9 tháng ước tăng 20,5% so với 9 tháng năm 2003 (chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng 13,9%; sản lượng khí đốt thiên nhiên tăng 51,4%; sản lượng than sạch khai thác tăng 34,1%); công nghiệp chế biến tăng 15,2%; công nghiệp điện, khí đốt và nước tăng 11,9% (sản lượng điện tăng 12,2%, sản lượng khí đốt hoá lỏng giảm 1,7%). Trong công nghiệp chế biến, sản lượng một số sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ như thuỷ sản chế biến tăng 17,1%; vải lụa thành phẩm tăng 17,8%, quần áo dệt kim tăng 21,9%; quần áo may sẵn tăng 21,2%; giấy, bìa các loại tăng 34%; phân hoá học tăng 24,6%; tivi lắp ráp tăng 33,1%; xe máy lắp ráp tăng 46,8%; xe đạp hoàn chỉnh tăng 121,2%. Thép cán tăng 7,5% so với 9 tháng năm trước, do giá phôi thép nhập khẩu trong 9 tháng năm nay đã tăng thêm khoảng 40% so với giá phôi thép nhập khẩu cùng kỳ năm trước và lượng nhập khẩu tăng thấp. Xi măng là sản phẩm có cầu liên quan đến tiêu dùng thép xây dựng cũng chỉ tăng ở mức 7%. Một số sản phẩm 9 tháng giảm so với cùng kỳ như ô tô lắp ráp giảm 5,3% (một phần do ảnh hưởng bởi chính sách điều chỉnh thuế của Nhà nước); quạt điện dân dụng giảm 8%…
Một số địa phương có quy mô sản xuất công nghiệp lớn trong cả nước có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng cao hơn tốc độ tăng chung của cả nước như Hà Nội tăng 17,3%; Hải Phòng tăng 16,5%; Quảng Ninh tăng 23,5%; Bình Dương tăng 30,9%; Đồng Nai tăng 19,6%; thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất trong cả nước chiếm khoảng 26%, tăng 15,2%; riêng Bà Rịa-Vũng Tàu chỉ tăng 7,6%.
Sản xuất công nghiệp 9 tháng vẫn giữ được mức tăng trưởng ở mức cao là do: (1) Nhu cầu sản phẩm công nghiệp trên thị trường trong nước tăng lên, do sản phẩm sản xuất ngày càng được nâng cao về mặt chất lượng và phù hợp hơn với người tiêu dùng trong nước; xuất khẩu sản phẩm công nghiệp tăng mạnh, đóng góp tới gần 80% vào mức tăng trưởng xuất khẩu; (2) Các doanh nghiệp tiếp tục tăng đầu tư cho sản xuất nhằm đổi mới thiết bị công nghệ, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường nội địa cũng như xuất khẩu để từng bước hội nhập tốt hơn vào kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế; (3) Đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo hướng đẩy mạnh cổ phần hoá và giảm bớt số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Tiếp tục phát triển doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp đã được ban hành từ năm 2000. Bình quân mỗi năm, số lượng doanh nghiệp công nghiệp mới đi vào sản xuất tăng khoảng 2400 doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo sát sao để khắc phục tình trạng giá cả của một số nguồn nguyên liệu nhập khẩu và nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và quản lý tốt hơn khâu lưu thông sản phẩm.
4. Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư phát triển 9 tháng 2004 theo giá thực tế ước đạt 178,4 nghìn tỷ đồng, bằng 71,6% kế hoạch năm và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số, vốn Nhà nước chiếm 53,8%, vốn ngoài quốc doanh chiếm 27,2%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 19%. Tỷ lệ thực hiện kế hoạch năm và so với cùng kỳ năm trước cụ thể như sau:

Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung 9 tháng ước thực hiện 30,7 nghìn tỷ đồng, đạt 82,7% kế hoạch năm, trong đó vốn do trung ương quản lý ước thực hiện 10,9 nghìn tỷ đồng, đạt 83,4% kế hoạch năm và vốn do địa phương quản lý đạt 82,3%. Vốn do Bộ Giao thông Vận tải quản lý, chiếm 39% vốn trung ương, đạt 88,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt 82,9%; Bộ Y tế đạt 70,3%, Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 65,5%.
Trong 9 tháng, nhiều công trình lớn đã hoàn thành: Bàn giao 962 km đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1, đoạn Hà Tĩnh-Kom Tum; đưa vào sử dụng cầu cảng các bến số 5,6,7 cảng Cái Lân; đưa vào khai thác cảng hàng không Cam Ranh (Khánh Hoà); nhà ga sân bay Phú Bài (Thừa Thiên- Huế); nhà ga cảng hàng không Phù Cát (Bình Định); cảng hàng không Côn Sơn (Bà Rịa- Vũng Tàu); nhà ga và đài kiểm soát không lưu cảng hàng không Điện Biên Phủ; nâng cấp cảng hàng không Vinh (Nghệ An) và đưa vào sử dụng 2 đường băng tiêu chuẩn quốc tế của sân bay Tân Sơn Nhất. Thông xe cầu Yên Lệnh (Hà Nam), cầu Hoà Mạc trên quốc lộ 38, cầu Tiên Sa, cầu Hà Nha (Quảng Nam) và thông xe kỹ thuật hầm Đèo Ngang, cầu Đà Rằng (Phú Yên)… Đồng thời, đã khởi công một số công trình lớn: Cầu Cần Thơ; cải tạo và nâng cấp cảng hàng không Chu Lai; nhà ga quốc tế cảng hàng không Tân Sơn Nhất; sân bay Đồng Hới; mở rộng bến công ten nơ cảng Hải Phòng; đường cao tốc Liên Khương- Prem (Lâm Đồng); đường Hồ Chí Minh đoạn vườn quốc gia Cúc Phương…
Tuy nhiên, tình hình thực hiện khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tốc độ tăng tích lũy tài sản cố định và giá trị sản xuất ngành xây dựng mà nguyên nhân là do giá sắt thép, xăng dầu cao; giải phóng mặt bằng của một số công trình còn chậm; công tác quản lý đầu tư, quản lý xây dựng cũng còn những bất cập… Thực hiện vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước tính cả năm 2004 được 41,1 nghìn tỷ đồng, đạt 110,9% kế hoạch năm.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Từ đầu năm đến 20/9/2004 đã có 518 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD, vốn bình quân 1 dự án là 3,1 triệu USD (cùng kỳ năm trước mỗi dự án có vốn bình quân 2,5 triệu USD). Nhìn chung, các dự án được cấp phép trong 9 tháng vẫn tập trung vào các ngành sản xuất công nghiệp; nông nghiệp, lâm nghiệp và khách sạn du lịch. Những ngành này thường phát huy được lợi thế về lao động và các lợi thế khác để phát triển những ngành hàng phục vụ cho xuất khẩu hoặc có hiệu quả kinh doanh cao. Các ngành khác có số dự án ít hoặc qui mô nhỏ.
Số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép phân bố trên phạm vi các tỉnh thành phố rất khác nhau về số dự án, số vốn đầu tư và qui mô một dự án. Các tỉnh, thành phố phía Nam có 369 dự án với 1035,5 triệu USD, chiếm 71,2% về số dự án và 64,6% về số vốn đăng ký. Đồng Nai đứng đầu về vốn đăng ký, có 71 dự án với 451,4 triệu USD; tiếp theo là thành phố Hồ Chí Minh 151 dự án với 230,4 triệu USD, Bình Dương 89 dự án với 222,4 triệu USD; Bà Rịa-Vũng Tàu 11 dự án với 20,2 triệu USD. Các tỉnh, thành phố phía Bắc có 149 dự án với số vốn đăng ký 567,7 triệu USD, chiếm 28,8% về số dự án và 35,4% về số vốn đăng ký, trong đó Hà Nội 49 dự án với vốn đăng ký 63,1 triệu USD; Hải Phòng có 6 dự án với 45,1 triệu USD; Thái Nguyên 3 dự án với 147,7 triệu USD; Vĩnh Phúc 15 dự án với 60,3 triệu USD; Phú Thọ 11 dự án với 46,5 triệu USD; Quảng Ninh 8 dự án với 64 triệu USD; Hải Dương 9 dự án với 28,4 triệu USD…
Các đối tác có vốn đăng ký lớn là: Đài Loan 117 dự án với số vốn 388 triệu USD; Hàn Quốc 116 dự án với 258,5 triệu USD; Nhật Bản 42 dự án với 198,6 triệu USD; Ca-na-đa 10 dự án với 153 triệu USD; đảo Virgin thuộc Anh 21 dự án với 128,4 triệu USD; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 27 dự án với 101 triệu USD; Malaixia 21 dự án với 75,9 triệu USD; CHND Trung Hoa 50 dự án với 61,5 triệu USD; Hoa Kỳ 20 dự án với 57,1 triệu USD; Xin-ga-po 33 dự án với 40,2 triệu USD…
5. Vận tải
Vận chuyển hành khách 9 tháng đầu năm 2004 ước tính đạt 714,1 triệu lượt hành khách và 33,3 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,1% về lượt khách và tăng 14,4% về lượt khách.km. Vận chuyển hành khách trong nước, ngoài nước và do trung ương, địa phương quản lý; theo các loại đường vận tải đều tăng so với 9 tháng năm trước cả về số lượt khách và khách.km do tăng nhu cầu đi lại của dân cư, du lịch trong nước và đi ra nước ngoài cũng như từ nước ngoài đến thăm quan, du lịch và nghỉ ngơi. Vận tải hành khách bằng đường sắt tăng 11,7% về số lượt khách và tăng 9,3% về số lượt khách.km; bằng hàng không đạt 3,7 triệu lượt khách, tăng 37,1% và 58%; bằng đường bộ chiếm trên 85% lượt khách, tăng 6,8% và tăng 7,5%.
Vận chuyển hàng hoá đạt 194,5 triệu tấn và 42,9 tỷ tấn.km, so với 9 tháng năm 2003, tăng 5,6% về tấn và tăng 9,1% về tấn.km. Vận chuyển hàng hoá 9 tháng thuộc phạm vi ngoài nước có tỷ trọng lớn, chiếm trên 50% khối lượng hàng hoá luân chuyển và tăng mạnh (+10,9%) so với cùng kỳ năm trước, là thời gian vận chuyển trên tuyến Trung đông đạt thấp; mặt khác, trong 9 tháng năm nay lượng xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng cao làm tăng nhu cầu vận tải hàng hoá ra nước ngoài. Cũng với lý do này, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, chiếm 69% số tấn, tăng 8,4% và tăng 10,2%. Vận tải hàng hoá bằng đường sắt tăng 4,5% về tấn và tăng 5,6% về tấn.km; bằng đường bộ tăng 5,6% và tăng 6,5%; bằng đường sông tăng 4,7% và tăng 7,8%. Nhìn chung, hoạt động vận tải 9 tháng đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đi lại của dân, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, 9 tháng qua trật tự an toàn giao thông tiếp tục có những diễn biến phức tạp cần được khắc phục.
6. Thương mại, giá cả và du lịch
Thị trường trong nước 9 tháng năm nay sôi động hơn, do tăng cầu và giá nông sản, thực phẩm tăng cao làm tăng thu nhập của nông dân và góp phần tăng sức mua chung. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng theo giá thực tế ước tính đạt 274,2 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng trên 10%. Khu vực kinh tế Nhà nước đạt 43,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng mức và tăng 9,8%; khu vực kinh tế tập thể đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9%, tăng 21,7%; khu vực kinh tế cá thể đạt 173,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 63,2%, tăng 17,3%; khu vực kinh tế tư nhân đạt gần 49 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,9% và tăng 32,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,2% và tăng 9,9%. Xét theo ngành kinh doanh, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tăng chủ yếu do hoạt động của ngành thương nghiệp, là ngành chiếm hơn 80% tổng mức và tăng tới 20% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng của 9 tháng năm 2003. Ngành du lịch có tỷ trọng thấp nhưng tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước, là thời gian ngành du lịch chịu ảnh hưởng lớn của chiến tranh I Rắc và dịch SARS.

Giá tiêu dùng trong 9 tháng năm nay có xu hướng khác với xu hướng biến động giá tiêu dùng của cùng thời kỳ các năm 2001, 2002 và 2003: Giá tiêu dùng so với tháng trước của tất cả các tháng từ đầu năm đến nay liên tục tăng, do vậy giá tiêu dùng tháng 9 so với tháng 12 cũng như so với tháng 9 năm trước đều tăng tương đối cao. Giá tiêu dùng bình quân trong 9 tháng đã tăng 7% so với 9 tháng 2003.
Giá tiêu dùng tháng 9/2004 tăng 0,3% so với tháng trước, trong đó tất cả các nhóm đều tăng (trừ nhóm dịch vụ văn hoá thể, thao giải trí giảm 0,1%): Nhóm lương thực, thực phẩm; đồ uống, thuốc lá; giáo dục tăng 0,4%; các nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép và nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 0,5%; nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,3%; nhóm dược phẩm, y tế và nhóm phương tiện đi lại tăng 0,1%. So với tháng 12/2003, giá tiêu dùng tháng 9 tăng 8,6%, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm tăng 15% (lương thực tăng 12,5%, thực phẩm tăng 16,8%), vẫn là nhóm chính góp phần tăng giá tiêu dùng tháng 9 so với tháng 12/2003. Giá dược phẩm, y tế tăng 8,7%; nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 5,9%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 4,1%; còn lại giá các nhóm khác có mức tăng dưới 4%( trừ nhóm giáo dục giảm 1,9%).
Giá vàng tháng 9/2004 tăng 1,5% so với tháng trước và cũng tăng 1,5% so với tháng 12/2003. Tương tự, giá đô la Mỹ tăng 0,1% và tăng 0,3%.
Hoạt động xuất nhập khẩu:
Xuất nhập khẩu hàng hoá 9 tháng tăng khá. Tổng mức lưu chuyển ngoại thương ước đạt 41,56 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 27,2% và nhập khẩu tăng 21,3%. Do tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu nên nhập siêu giảm so với cùng kỳ và tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu 9 tháng chỉ bằng 17,8% (tỷ lệ này của 9 tháng năm 2003 là 23,5%).
Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2004 đạt 2,2 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 940 triệu USD, tăng 13,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài kể cả dầu thô tăng 56,5% (Dầu thô tăng 68,7%, hàng hoá khác tăng 49,2%). Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt tốc độ tăng cao so với tháng 9/2003 là: Dầu thô tăng 68,7% (lượng tăng 17,6%); than đá tăng 90% (lượng tăng 45,1%); kim ngạch dệt may tăng 39,4%; giày dép tăng 34,9%; hàng điện tử máy tính tăng 46,1%; sản phẩm gỗ tăng 81,2%. Riêng xuất khẩu gạo giảm 19,5% về kim ngạch và lượng giảm 34,9%.
Tính chung 9 tháng năm 2004, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 19,1 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 1 tháng đạt 2,1 tỷ USD, là mức bình quân tháng cao nhất so với bình quân trong các năm từ trước đến nay và cao hơn mức xuất khẩu bình quân 1,67 tỷ USD của 9 tháng năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô đạt 15 tỷ USD, tăng 23,4% so với 9 tháng năm 2003, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,7 tỷ USD tăng 15,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,4 tỷ USD, tăng 37,1%.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là các nước Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Ô-xtrây-li-a, các nước EU và ASEAN; trong 8 tháng năm nay các thị trường này đều tăng mạnh: Thị trường Mỹ tăng 14,7%; thị trường Nhật tăng 17,2%, thị trường Trung Quốc tăng 65,4%; khối các nước EU cũ tăng 28%… Nhóm sản phẩm khai khoáng chiếm trên 22% tổng kim ngạch và đóng góp khoảng 32,3% vào mức tăng chung; nhóm hàng nông sản và thuỷ sản chiếm trên 20% kim ngạch và đóng góp khoảng 13%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp và các hàng khác chiếm khoảng 58% kim ngạch và đóng góp khoảng 55%.
Trị giá xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng chủ yếu đều tăng (trừ lạc và sữa, các sản phẩm từ sữa). Các mặt hàng đóng góp nhiều cho tăng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng là dầu thô, than đá, dệt may, giày dép, điện tử máy tính, gạo và sản phẩm gỗ.
Xuất khẩu dầu thô 9 tháng ước đạt 14,7 triệu tấn, với 4 tỷ USD, tăng 14,4% về lượng, nhưng tăng tới 43,2% về kim ngạch xuất khẩu do giá xuất khẩu dầu thô 9 tháng năm nay đã tăng lên 22,5% so với 9 tháng năm trước. Xuất khẩu hàng dệt may đạt 3,4 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ, do tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu và các thị trường lớn: Xuất khẩu trong 8 tháng vào thị trường Mỹ (chiếm 54% thị phần) tăng 16,7%; vào EU tăng 42,9%; vào Nhật Bản tăng 10,5% vào Đài Loan tăng 5,3%. Xuất khẩu giày dép đạt gần 2 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ. Xuất khẩu gạo 9 tháng ước đạt trên 3,3 triệu tấn, với kim ngạch 772 triệu USD, lượng xuất khẩu tuy giảm 0,6% so với cùng kỳ, nhưng kim ngạch tăng 22,7%, chủ yếu do giá gạo thế giới tăng và một phần khác do chất lượng gạo xuất khẩu cũng đã được nâng lên. Dự kiến sản lượng lúa mùa sẽ tăng 2% so với vụ trước và giá đang có lợi, nên khả năng cả năm 2004 sẽ đạt được mức xuất khẩu 3,8 triệu tấn gạo, là mức đã được Chính phủ cho phép, tăng lên 300 nghìn tấn so với kế hoạch xuất khẩu đầu năm. Kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử, máy tính đạt 747 tỷ USD và tăng 50,7%; sản phẩm gỗ đạt 741 triệu USD, tăng 86%; cáp và dây cáp điện đạt 273 triệu USD, tăng 32,9%; sản phẩm nhựa đạt 178 triệu USD, tăng 34,6%; xe đạp và phụ tùng đạt 173 triệu USD, tăng 61,3%…
Xuất khẩu hầu hết các mặt hàng nông sản khác đều tăng cả lượng và kim ngạch: Cà phê tăng 49,4% về lượng và tăng 44,4% về kế hoạch; hạt tiêu tăng 46,9% và tăng 42,5%; chè tăng 69% và tăng 54,2%; hạt điều tăng 26% và tăng 44,6%. Riêng cao su kim ngạch xuất khẩu tăng 22,1% nhưng lượng xuất khẩu giảm 14%. Xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 1,7 tỷ USD, tăng 1,8%.
Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng tăng cao do: (1) Kinh tế thế giới phục hồi và sự tăng trưởng của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU…đã tăng cầu nhập khẩu của các nước về lượng và kéo theo tăng giá có lợi cho các nước xuất khẩu. Tính chung kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng thống kê được về lượng 9 tháng tăng 1,8 tỷ USD thì tăng do giá khoảng 1,1 tỷ USD (riêng tăng do giá dầu thô hơn 800 triệu) còn tăng về lượng chỉ khoảng 700 triệu USD. (2) Sản xuất các mặt hàng công nghiệp và nông sản xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước. (3) Kết quả tích cực của các hoạt động mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ và các cơ quan liên quan, đặc biệt là công tác xúc tiến thương mại.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 9/2004 ước đạt 2,65 tỷ USD, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 1,73 tỷ USD, tăng 23%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,6%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế tăng cao, chủ yếu do giá, trong khi lượng nhập khẩu lại giảm so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu kim ngạch tăng 41,1% (lượng giảm 0,6%); sắt thép tăng 47,9% (lượng giảm 4,9%); phân bón tăng 24% (lượng giảm 7%)… Tính chung 9 tháng năm 2004, kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 22,5 tỷ USD, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 14,6 tỷ USD, tăng 20,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 7,9 tỷ USD, tăng 22,6%. Thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2004 là các nước Châu Á: Đứng đầu là các nước ASEAN chiếm 24,2% thị phần, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước; Trung Quốc chiếm 12,9%, tăng 27,6%; Đài Loan chiếm 11,7% và tăng 27,6%; Nhật Bản chiếm 11%, tăng 10%… Nhập khẩu từ EU đạt 1,63 tỷ USD, chiếm 8,2% thị phần và giảm 1,4%.
Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng của hầu hết các mặt hàng, trừ ô tô và máy móc thiết bị, đều tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo, bông đều tăng khá cao (trên 23%), chủ yếu do giá nhập khẩu tăng. Lượng nhập khẩu của hầu hết các nguyên, vật liệu (trừ bông, chất dẻo và xăng dầu tăng) đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch tăng cao chủ yếu do giá trong khi lượng không tăng tương xứng và giảm sẽ gây nên tác động kép không thuận cho nền kinh tế trong nước: một mặt giá tăng làm tăng giá đầu vào của sản phẩm hàng hoá dịch vụ trong nước, mặt khác lượng giảm gây mất cân đối cho sản xuất của các mặt hàng liên quan.
Nhập khẩu xăng dầu ước đạt 2,6 tỷ USD với 8,3 triệu tấn, tăng tới 42,4% về kim ngạch, nhưng lượng chỉ tăng 12,2%; sắt thép kim ngạch tăng 32,8%, nhưng lượng giảm 1,1%; phân bón kim ngạch tăng 23,3%, nhưng lượng giảm 4,1%; sợi tăng 10% về kim ngạch, nhưng lượng giảm 1,6%; giấy tăng 8,5% về kim ngạch, nhưng lượng giảm 0,4%… Nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 6,2%.
Hoạt động kinh doanh du lịch 9 tháng đầu năm nay thuận hơn nhiều so với 9 tháng năm trước, là thời kỳ có SARS xảy ra. Mặt khác, năm nay có một số ngày kỷ niệm lớn như 50 năm giải phóng Điện Biên, Festival Huế… thu hút nhiều khách vào Việt Nam hơn. Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2004 ước đạt 2128,5 nghìn lượt người, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó khách đến với mục đích du lịch 1136,2 nghìn lượt người, tăng 44,6%; vì công việc 374,3 nghìn lượt người, tăng 14,7%; thăm thân nhân 364,4 nghìn lượt người, tăng 28,3%; vì mục đích khác 253,6 nghìn lượt người, tăng 7,9%.
Khách đến Việt Nam nhiều nhất là từ CHND Trung Hoa với 584,8 nghìn lượt người, tăng 33,3%, từ Mỹ 210,9 nghìn lượt người, tăng 32,6%, từ Đài Loan 186,9 nghìn lượt người, tăng 36,1%, từ Nhật Bản 180,4 nghìn lượt người, tăng 22%, từ Hàn Quốc 150,8 nghìn lượt người, tăng 81,2%, từ Ô- xtrây-li-a 90,7 nghìn lượt người, tăng 41,6%…
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình năm 2004 ước tính khoảng 82,1 triệu người, tăng 1,44% so với dân số trung bình năm 2003, trong đó dân số nam 40,3 triệu người, chiếm 49,1%; dân số nữ 41,7 triệu nguời, chiếm 50,9%. Dân số thành thị 21,3 triệu người, chiếm 25,9% và dân số nông thôn 60,8 triệu người, chiếm 74,1%.
Lao động làm việc trong khu vực Nhà nước bình quân 9 tháng 2004 là 4127,5 nghìn người, trong đó lao động do Trung ương quản lý 1638 nghìn người, chiếm 39,7%; lao động do địa phương quản lý 2489,5 nghìn người, chiếm 60,3%. Ước tính lao động trong khu vực Nhà nước bình quân cả năm 2004 là 4141,9 nghìn người, trong đó trung ương quản lý 1641 nghìn người, chiếm 39,6%; địa phương quản lý 2500,9 nghìn người, chiếm 60,4%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị tính đến giữa năm 2004 là 5,6%, giảm 0,2% so với năm 2003 và giảm 0,4% so với năm 2002. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị có xu hướng giảm là do các hoạt động dạy nghề, học nghề ở khu vực đô thị đã có những chuyển biến tốt hơn, theo hướng gắn với việc làm và bám sát thị trường lao động; hoạt động xuất khẩu lao động được chấn chỉnh, thị trường được mở rộng, số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài tăng nhanh, góp phần tạo thêm việc làm. Bộ Luật Lao động sửa đổi đã khuyến khích các chủ sử dụng lao động phát triển sản xuất, kinh doanh thu hút thêm lao động.
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng cho các hoạt động kinh tế của dân số từ 15 tuổi trở lên ở nông thôn đạt 79,3%, là tỷ lệ cao so với một số năm gần đây (Năm 2001 là 74,4%; 2002 là 75,5% và 2003 là 77,9%). Nhiều vùng đã đẩy mạnh đầu tư chiều sâu, thâm canh, tăng vụ, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi; đổi mới công nghệ và kỹ thuật sản xuất; phát triển ngành nghề ở nông thôn, nhất là ngành chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản nên đã có tác dụng tích cực trong việc thu hút lao động và giải quyết việc làm cho nông dân vào các tháng nông nhàn.
Số người được giải quyết việc làm trong 9 tháng qua ước đạt 1,1 triệu người, trong đó có 47,5 nghìn người thuộc diện xuất khẩu lao động và chuyên gia. Số người đi xuất khẩu lao động nhiều nhất là tại Đài Loan và Hàn Quốc; ước tính số lao động xuất khẩu trong năm 2004 sẽ đạt khoảng 61 nghìn người.
2. Đời sống dân cư
Đời sống dân cư 9 tháng tuy chịu tác động của các yếu tố như sự biến động của giá cả, dịch cúm gia cầm bùng phát trong quí I; ảnh hưởng của thiên tai, nhưng nhìn chung ổn định.
Thu nhập danh nghĩa của cán bộ, viên chức, công chức và công nhân lao động không có biến động lớn. Thu nhập bình quân tháng của một lao động khu vực Nhà nước đạt trên 1,27 triệu đồng (lao động do Trung ương quản lý đạt 1,66 triệu đồng, lao động do địa phương quản lý đạt 1,02 triệu đồng). Tuy nhiên, mức thu nhập này vẫn không đồng đều giữa các ngành, các địa phương và đơn vị. Ngoài ra, vẫn còn một số công nhân, viên chức hiện đang gặp khó khăn do thiếu việc làm, do doanh nghiệp thua lỗ hay đang trong quá trình sắp xếp lại tổ chức, sản xuất…
Đời sống nông dân ổn định, do lúa đông xuân, lúa hè thu và các loại rau quả được mùa, được giá nên thu nhập chính tăng bù lại được các thiệt hại do dịch cúm gà và các ảnh hưởng khác do thiên tai gây ra. Mặt khác, công tác giải quyết việc làm; cho vay vốn sản xuất; thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo; các chương trình đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ khó khăn khi thiên tai…cũng đã góp phần tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và tăng thu nhập của nông dân. Tuy nhiên, một số hộ gia đình nông dân ở những địa phương bị thiệt hại do thiên tai hoặc gặp khó khăn trong sản xuất dẫn đến mùa màng thất bát, hoặc không bán đựoc sản phẩm nên còn bị thiếu đói. Tình trạng thiếu đói còn xảy ra nhưng đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Số lượt hộ thiếu đói của cả nước 9 tháng giảm 35% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 35,6% so với 9 tháng 2003. Để trợ giúp các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành và các địa phương đã hỗ trợ gần 4,4 nghìn tấn lương thực và 11,2 tỷ đồng.
Công tác đền ơn đáp nghĩa, thăm hỏi tặng quà các đối tượng chính sách và trợ giúp xã hội được các cấp, các ngành, các địa phương và các tổ chức, cá nhân thực hiện thường xuyên, nhất là trong những dịp lễ, tết, vì vậy đã động viên kịp thời các đối tượng và gia đình chính sách, gia đình có công với nước, các gia đình nghèo khắc phục khó khăn, ổn định đời sống. Trong 9 tháng, đã có hàng nghìn nhà tình nghĩa, nhà tình thương được xây dựng và bàn giao cho các đối tượng chính sách nghèo và gia đình nghèo, trong đó Tiền Giang, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, Hậu Giang mỗi tỉnh đã bàn giao trên 100 nhà tình nghĩa; Quảng Bình, Phú Yên, Hải Phòng, Đồng Nai, Thanh Hoá mỗi tỉnh đã hoàn thành và bàn giao từ 700-1000 căn nhà tình thương.
Việc công nhận hồ sơ người có công theo chỉ đạo của Chính phủ đã được các tỉnh và thành phố tập trung xử lý và giải quyết, trong đó có 21 tỉnh, thành phố hoàn thành cơ bản công tác này. Đã có trên 80% hồ sơ người có công trong tổng số trên 100 nghìn hồ sơ kê khai được công nhận.
3. Văn hoá thông tin, thể dục thể thao
Hoạt động văn hoá thông tin 9 tháng được tiến hành thông qua nhiều hoạt động thiết thực, sôi động và tập trung vào thực hiện tốt công tác truyên truyền các nhiệm vụ chính trị, xã hội. Trong 9 tháng cũng đã tổ chức tốt các ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước như 74 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 114 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức thành công Lễ hội Festival Huế 2004. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được đẩy mạnh. Công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động dịch vụ văn hoá được tiến hành thường xuyên và tiếp tục được tăng cường.
Hoạt động thể dục thể thao trong 9 tháng đã được tổ chức tốt các gắn với những ngày lễ lớn, những hoạt động kỷ niệm trọng đại của đất nước. Đã tổ chức thành công Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI. Ngoài ra, còn tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng như: Hội thao bơi lặn và cứu đuối lần thứ nhất khu vực phía Bắc tại Nam Định; tổ chức giải vô địch võ cổ truyền toàn quốc, giải quần vợt doanh nhân toàn quốc, giải cầu lông gia đình toàn quốc, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
Trong thể thao thành tích cao, 9 tháng đầu năm đã tập trung lực lượng tham dự Olympic Athens 2004 với 26 cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên thi đấu các môn Taekwondo, điền kinh, bơi lội, canoeing, bóng bàn, bắn súng và cử tạ. Trong tháng 9/2004 đã cử 4 vận động viên tham gia thi đấu tại Paragames Athens 2004. Bên cạnh đó, tích cực triển khai công tác chuẩn bị lực lượng vận động viên tham dự SEA Games 23 tại Phi-líp-pin năm 2005. Đến nay, đã có gần 1 nghìn vận động viên, 140 huấn luyện viên của 33 môn thể thao đã được tập trung huấn luyện tại các Trung tâm Thể thao Quốc gia. Ngoài ra, cũng đã tổ chức nhiều giải vô địch quốc gia các bộ môn, đồng thời cử một số đội tuyển tham dự các giải quốc tế. Tại giải Judo Đông Nam Á, đội tuyển Judo Việt Nam đã xếp thứ nhất toàn đoàn với 10 huy chương vàng; đội tuyển Karatedo Việt Nam đạt 6 huy chương vàng tại giải vô địch Karatedo thế giới. Tại giải thể dục dụng cụ nghệ thuật ASEAN lần thứ nhất, đội tuyển Việt Nam đạt 10 huy chương vàng.
4. Giáo dục và đào tạo
Tổng kết năm học 2003-2004
Năm 2003-2004 cả nước có 1782 nghìn học sinh phổ thông tốt nghiệp tiểu học, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 99,82%; 1343,5 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, đạt 96,10% và 682,3 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt 91,57%. Trong năm học qua đã có gần 1,9 triệu học sinh phổ thông được học nghề, tăng 16,9% so với năm học trước. Trong các kỳ thi học sinh giỏi, đã có 2250 học sinh đoạt giải quốc gia lớp 12 ở 11 môn thi, trong đó 1438 học sinh đã được tuyển thẳng vào đại học; bốn đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic quốc tế các môn toán, vật lý, hoá học và tiếng Nga đã giành được 10 huy chương vàng, 9 huy chương bạc và 3 huy chương đồng.
Về chương trình kiên cố hoá trường, lớp học: đến tháng 5/2004 đã có trên 33,2 nghìn phòng học được triển khai xây dựng, trong đó 14 nghìn phòng đã được đưa vào sử dụng ngay trong năm học; số còn lại sẽ đưa vào sử dụng trong năm học 2004-2005. So với năm học trước, số phòng học kiên cố đã tăng lên, trong đó cấp tiểu học tăng 1,7%; cấp trung học cơ sở tăng 6% và cấp trung học phổ thông tăng 7,5%. Số phòng học 3 ca đã giảm, cấp tiểu học còn 225 phòng, giảm 369 phòng so với năm học trước; cấp trung học cơ sở 104 phòng, giảm 25 phòng và cấp trung học phổ thông 13 phòng, giảm 4 phòng.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong năm học 2003-2004 cũng còn những tồn tại như mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non chưa phủ kín các thôn bản ở vùng cao; tỷ lệ giáo viên so với số lớp học hoặc tỷ lệ số học sinh so số với giáo viên ở các cấp học, bậc học (trừ tiểu học) vẫn còn thấp so với định mức; giáo viên nhiều bộ môn như giáo dục công dân, âm nhạc, mỹ thuật, thể dục, quốc phòng còn thiếu. Số các trường học đạt chuẩn quốc gia còn thấp: cả nước có khoảng 2,6% số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ này ở trường tiểu học là 20,1%; trường trung học cơ sở là 2,2%; trường trung học phổ thông là 1,3%. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ năm học 2003-2004 ở một số địa phương đạt thấp (dưới 80%) như Hà Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh và Quảng Nam.
Khai giảng năm học 2004-2005
Năm học 2004-2005, cả nước có khoảng 514 nghìn trẻ em đi nhà trẻ, tăng 24,3% so với năm học trước và đạt 13% tổng số trẻ em từ 0-2 tuổi; 2449 nghìn học sinh mẫu giáo, tăng 12,8% và đạt 60% số trẻ em từ 3-5 tuổi. Số học sinh tiểu học là 7948 nghìn em, giảm 4,8% so với năm học trước; học sinh trung học cơ sở 6792 nghìn em, tăng 2,7% và học sinh trung học phổ thông là 2847 nghìn em, tăng 8,8%. Số lượng giáo viên các cấp trong năm học này đều tăng: Cả nước có khoảng 366 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 0,3% so với năm học trước; 308 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tăng 10% và 110 nghìn giáo viên trung học phổ thông, tăng 13,4%. Tuy vậy, so với định mức, giáo viên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông vẫn thiếu nhiều: thiếu khoảng 6,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 22,3 nghìn giáo viên trung học phổ thông.
Tình hình tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2004:
Kỳ thi tuyển sinh năm nay đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và chính quyền các địa phương từ các khâu lập hồ sơ thí sinh, ra đề, tổ chức thi, coi thi, chấm thi, xác định điểm sàn, công bố điểm thi và tuyển sinh.
Tổng chỉ tiêu tuyển mới đại học và cao đẳng năm học 2004-2005 là 210 nghìn chỉ tiêu hệ chính qui, trong đó tuyển mới đại học khoảng 134 nghìn chỉ tiêu. Trong kỳ thi tuyển sinh vừa qua đã có 39 thí sinh đạt số điểm tuyệt đối. Đến nay, đã tuyển xong nguyện vọng 1 và nguyện vọng 2 (xét tuyển khoảng 52 nghìn chỉ tiêu). Hiện nay, các trường còn thiếu đang tiếp tục xét tuyển nguyện vọng 3, khoảng 8 nghìn chỉ tiêu.
Trong tháng 8/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo tổ chức thi tuyển học sinh trung học chuyên nghiệp. Đến nay đã có trên 60 trường và cơ sở đào tạo trung học chuyên nghiệp gửi báo cáo kết quả thi tuyển và các phương án xét điểm trúng tuyển. Chỉ tiêu tuyển mới trung học chuyên nghiệp năm 2004 dự kiến khoảng 225,7 nghìn chỉ tiêu cho các hệ đào tạo, trong đó khối các trường Trung ương tuyển mới khoảng 99,3 nghìn chỉ tiêu và khối các trường địa phương tuyển mới 126,4 nghìn chỉ tiêu.
5. Tình hình dịch bệnh
Bệnh sốt rét: Trong tháng 9/2004 có 9,1 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 2 người đã tử vong, giảm 1,9 nghìn trường hợp so với tháng trước và số người chết giảm 1 người. Tính từ đầu năm đến 19/9/2004, cả nước có 79,1 nghìn trường hợp bị bệnh sốt rét, trong đó 13 người đã tử vong.
Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng 9 có trên 9,1 nghìn trường hợp mắc bệnh, trong đó 9 người đã tử vong. So với tháng trước, số trường hợp bị bệnh giảm 3,8 nghìn người; số người chết giảm 10 người. Tính từ đầu năm đến 19/9/2004, cả nước có 50 nghìn trường hợp bị sốt xuất huyết, trong đó 73 người đã tử vong. Bệnh sốt xuất huyết tập trung chủ yếu là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ.
Trong tháng cũng đã có 58 trường hợp mắc bệnh viêm màng não, trong đó 1 trường hợp tử vong. Số người mắc bệnh viêm màng não từ đầu năm đến nay là gần 800 trường hợp, trong đó có 9 người đã tử vong.
Về bệnh viêm phổi cấp do virus, trong tháng có 1 trường hợp viêm phổi cấp do virus dương tính với cúm A týp H5N1 và đã tử vong. Số trường hợp được xác định mắc cúm A týp H5N1 từ đầu năm đến nay là 27 người, trong đó 20 người đã tử vong.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 9/2004 đã phát hiện thêm 969 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người bị nhiễm HIV trong cả nước đến 19/9/2004 lên 84,9 nghìn người, trong đó 13,4 nghìn bệnh nhân AIDS và gần 7,7 nghìn nguời đã chết do AIDS.
Trong tháng cũng đã xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm với 98 trường hợp bị ngộ độc tại Tiền Giang, Yên Bái và Quảng Ngãi, đồng thời nâng tổng số người bị ngộ độc từ đầu năm đến nay lên 1,9 nghìn người, trong đó 37 người đã tử vong.
6. Tai nạn giao thông
Trong tháng 8/2004, trên phạm vi cả nước đã xẩy ra 1,4 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 1 nghìn người và bị thương trên 1,2 nghìn người. So với tháng 7/2004, số vụ tai nạn tăng 7,3%, số người chết tăng 15,1% và số người bị thương tăng 3,5%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,4%; số người bị thương giảm 23,5%; số người chết tăng 5,7%. Tính chung 8 tháng đầu năm 2004, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 12,1 nghìn vụ tai nạn giao thông làm chết 8,2 nghìn người và làm bị thương 11,1 nghìn người. So với 8 tháng đầu năn 2003, số vụ tai nạn giao thông giảm 15,3%; số người bị thương giảm 23,6%; riêng số người chết tăng 3,2%. Bình quân 1 ngày trong 8 tháng qua đã xảy ra 57 vụ tai nạn, làm chết 38 người và làm bị thương 52 người.
7. Thiệt hại do thiên tai
Trong 9 tháng đầu năm 2004 đã xảy ra lụt, bão, lốc, lũ ống, lũ quét, mưa to, mưa đá, sạt lở đá, sạt lở đất tại nhiều địa phương trong cả nước, gây thiệt hại lớn về người và tài sản, trong đó mưa lũ, lở đất tại Hà Giang đã làm 36 người chết; lở đất, mưa lũ ở Lào Cai làm 33 người chết. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 107 người chết; 161 người bị thương; hàng trăm km kênh mương bị sạt lở, hư hỏng; trên 20 vạn ha lúa, hoa màu bị ngập úng, hư hại, trong đó mất trắng khoảng 3 vạn ha lúa; trên 1,7 nghìn ngôi nhà bị sập đổ; gần 16 nghìn ngôi nhà bị tốc mái, hư hại và nhiều công trình văn hoá kinh tế, xã hội khác bị ảnh hưởng. Tổng số thiệt hại ước tính trên 400 tỷ đồng.

Khái quát lại, tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2004 tiếp tục phát triển và ổn định. Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đạt kết quả cao hơn so với 9 tháng đầu năm trước. Tổng sản phẩm trong nước tăng 7,4% là tốc độ tăng tương đối cao. Tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn nhập khẩu, vì vậy đã giảm được nhập siêu. Thu ngân sách đạt 78,9% dự toán năm 2004 và tăng 16,3% so với cùng kỳ đã đảm bảo được những khoản chi theo dự toán và bôị chi ngân sách ở mức thấp so với GDP. Tình hình xã hội ổn định; văn hoá, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển.
Với xu hướng phát triển của các ngành kinh tế hiện nay, nếu Chính phủ tiếp tục chỉ đạo sát sao và các ngành, các cấp nỗ lực vượt bậc nhằm đẩy mạnh sản xuất, kiềm chế mức độ tăng giá tiêu dùng và ảnh hưởng của giá nhập khẩu một số nguyên liệu, vật tư quan trọng đến sản xuất trong nước để quí IVđạt tốc độ tăng trưởng 8% thì cả năm tổng sản phẩm trong nước sẽ tăng khoảng 7,5-7,6% so với năm 2003, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra đầu năm là tăng 7,5-8% .

TỔNG CỤC THỐNG KÊ