I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm 2013 ước tính tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%. Trong mức tăng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,39%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,20%, đóng góp 1,99 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,25%, đóng góp 2,71 điểm phần trăm.
Khu vực dịch vụ tiếp tục là khu vực đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế với mức tăng của một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như sau: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 5,92%; ngành kinh doanh bất động sản tăng 1,91%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,66%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,69%; giáo dục và đào tạo tăng 7,98%; vận tải kho bãi tăng 5,65%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; khu vực công nghiệp và xây dựng là hai khu vực có mức tăng thấp hơn. Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đã có chuyển biến tích cực với tốc độ tăng ngày càng cao hơn trong năm: Quý I tăng 4,60%; quý II tăng 6,90%; quý III tăng 8,57%.
Quy mô tổng sản phẩm trong nước 9 tháng năm nay theo giá hiện hành ước tính đạt 2420,9 nghìn tỷ đồng, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,86%; khu vực dịch vụ chiếm 44,29%.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chín tháng năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 535,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 387,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%; lâm nghiệp đạt 17,2 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6%; thuỷ sản đạt 131,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4%.
a. Nông nghiệp
Tính đến trung tuần tháng Chín, cả nước đã gieo cấy được 1734,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 101% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1185,6 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 549 nghìn ha, bằng 103,1%. Nếu điều kiện thời tiết những tháng cuối năm thuận và ít bị ảnh hưởng của sâu bệnh thì sản lượng lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 9,6 triệu tấn, tăng 0,9% so với vụ mùa năm 2012; năng suất ước tính đạt 48,1 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha, trong đó năng suất các tỉnh phía Nam tăng 0,8 tạ/ha, chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tính đến 15/9/2013, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1894,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 111,6% cùng kỳ năm trước và chiếm 68,6% diện tích gieo trồng. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 51,9 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng ước tính đạt 14,3 triệu tấn, tăng 2,7%.
Ước tính diện tích lúa cả năm 2013 đạt 7890,7 nghìn ha, tăng 129,5 nghìn ha so với năm 2012; năng suất đạt 55,9 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 44,1 triệu tấn, tăng 407 nghìn tấn.
Tính đến giữa tháng Chín, đàn trâu, bò cả nước giảm 2-3% so với cùng kỳ năm 2012; đàn lợn giảm 0,5%; đàn gia cầm giảm 1,5-2%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng chín tháng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; thịt lợn hơi xấp xỉ cùng kỳ năm trước; thịt gia cầm giảm 1,3%. Tính đến 24/9/2013.
b. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước chín tháng ước tính đạt 128,6 nghìn ha, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 167,6 triệu cây, tăng 2,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3645 nghìn m3, tăng 6,6%.
Trong chín tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 1446 ha, giảm 52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 868,8 ha, giảm 57,9%; diện tích rừng bị phá 578 ha, giảm 8,9%.
c. Thủy sản
Sản lượng thủy sản chín tháng năm 2013 ước tính đạt 4496 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng ước tính đạt 2353 nghìn tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1764 nghìn tấn, tăng 0,3%; tôm đạt 362 nghìn tấn, tăng 8%, thủy sản nuôi trồng khác đạt 227 nghìn tấn, tăng 7%.
Trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất cá tra gặp nhiều khó khăn với tình trạng thua lỗ kéo dài nên diện tích nuôi ngày càng bị thu hẹp. Một số địa phương có diện tích và sản lượng cá tra giảm nhiều là: An Giang giảm 13% về diện tích và giảm 8% về sản lượng; Cần Thơ giảm 5% về diện tích; Vĩnh Long giảm 2% về diện tích và giảm 11% về sản lượng; Bến Tre giảm 5% về diện tích và giảm 4% về sản lượng.
Nuôi tôm phát triển theo hướng nuôi tôm thẻ chân trắng thay cho tôm sú vì hiệu quả kinh tế cao hơn cũng như ít bị dịch bệnh hơn. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng trong kỳ ước tính đạt 49 nghìn ha, tăng 47,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 154,3 nghìn tấn, tăng 39,2%.
Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm nay ước tính đạt 2143 nghìn tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2004 nghìn tấn, tăng 3,5%. Riêng sản lượng cá ngừ đại dương chín tháng ước tính đạt 13 nghìn tấn, giảm 5,7% do chất lượng cá không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu làm giá cá giảm mạnh.
- Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chín tháng ước tính tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó ngành khai khoáng giảm 0,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,3%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 9,5%.
Một số ngành có chỉ số sản xuất chín tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,7%; dệt tăng 16,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 14%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,6%; sản xuất trang phục tăng 11,4%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm và ngành sản xuất thuốc lá cùng tăng 4,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 1,3%; sản xuất kim loại giảm 1,1%; khai thác than cứng và than non giảm 5,1%; khai khoáng khác giảm 6,2%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6%; Đồng Nai tăng 7,5%; Bình Dương tăng 8,4%; Hà Nội tăng 4,3%; Hải Phòng tăng 4,9%; Bắc Ninh tăng 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 21,6%; Cần Thơ tăng 7,6%; Hải Dương tăng 9,3%; Đà Nẵng tăng 10,6%; Bà Rịa Vũng Tàu giảm 1,5%; Quảng Ninh giảm 2,3%; Quảng Nam tăng 5,3%; Quảng Ngãi tăng 23,7%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tám tháng năm nay tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất xe có động cơ tăng 35,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 31,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 24,9%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,6%; dệt tăng 14,8%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tám tháng tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá tăng 5,9%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 4,7%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất tăng 2,4%; sản xuất kim loại tăng 1,5%.
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/9/2013 toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,3% so với cùng thời điểm năm 2012, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Dệt tăng 8,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,1%; sản xuất trang phục tăng 5,1%; sản xuất thuốc lá tăng 2,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 1,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 2,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 11,6%; sản xuất xe có động cơ giảm 36,8%. Tuy nhiên vẫn còn những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao như: Sản xuất đồ uống tăng 121%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 41,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 38,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 18,9%; sản xuất kim loại tăng 11,5%.
Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2013 tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 1,4%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 1,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,4%. Chỉ số sử dụng lao động của ngành công nghiệp khai khoáng giảm 1,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,1%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,9%.
Một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng thời điểm năm trước là: Xử lý ô nhiễm và hoạt động quản lý chất thải tăng 28,3%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 13,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và các sản phẩm quang học tăng 12,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 9,9%; sản xuất trang phục tăng 7,5%; sản xuất kim loại tăng 5,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,3%.
- Hoạt động xây dựng
Giá trị sản xuất xây dựng chín tháng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 531,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 63,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9%; khu vực ngoài Nhà nước 446,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 84%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 22,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,1%.
Giá trị sản xuất xây dựng chín tháng theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực Nhà nước tăng 2,2%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 4,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 37,5%.
- Hoạt động dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng ước tính đạt 1932 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, loại trừ yếu tố giá tăng 5,3%. Trong mức tăng chung của tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng, kinh doanh thương nghiệp tăng 12,1%; khách sạn nhà hàng tăng 14,7%; dịch vụ tăng 14,6%; du lịch tăng 3,9%.
b. Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách chín tháng năm nay ước tính đạt 2209,7 triệu lượt khách, tăng 5,3% và 93,1 tỷ lượt khách.km, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2012. Vận tải hành khách đường bộ chín tháng ước tính đạt 2076 triệu lượt khách, tăng 5,4% và 67 tỷ lượt khách.km, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; đường hàng không đạt 13 triệu lượt khách, tăng 8,4% và 20,5 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5%; đường sắt đạt 9,3 triệu lượt khách, tăng 0,8% và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 2%; đường biển đạt 3,6 triệu lượt khách, tăng 4,4% và 182,3 triệu lượt khách.km, tăng 3,6%.
Vận tải hàng hóa chín tháng ước tính đạt 742,8 triệu tấn, tăng 3,8% và 150,5 tỷ tấn.km, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 561 triệu tấn, tăng 4,3% và 33,5 tỷ tấn.km, tăng 4%; đường sông đạt 133 triệu tấn, tăng 5,4% và 28,7 tỷ tấn.km, tăng 4,2%; đường biển đạt 43,8 triệu tấn, giảm 6,3% và 85,1 tỷ tấn.km, giảm 6,6%; đường sắt đạt 4,9 triệu tấn, giảm 5,2% và 2,8 tỷ tấn.km, giảm 5,8%.
c. Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong chín tháng ước tính đạt 5490,2 nghìn lượt người, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 3364,6 nghìn lượt người, tăng 12,7%; đến vì công việc 918,6 nghìn lượt người, tăng 7,8%; thăm thân nhân đạt 913,8 nghìn lượt người, tăng 7,1%. Trong chín tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không đạt 4348,6 nghìn lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2012; khách đến bằng đường bộ đạt 972,1 nghìn lượt người, tăng 31,2%; khách đến bằng đường biển đạt 169,6 nghìn lượt người, giảm 13,6%.
Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta chín tháng qua tăng so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc 1359 nghìn lượt người, tăng 37%; Hàn Quốc 562,1 nghìn lượt người, tăng 6,8%; Nhật Bản 450,5 nghìn lượt người, tăng 5,1%; Cam-pu-chia 247,7 nghìn lượt người, tăng 4,5%; Ôx-trây-li-a 238,6 nghìn lượt người, tăng 12,5%; Ma-lai-xi-a 237,1 nghìn lượt người, tăng 12,5%; Liên bang Nga 206 nghìn lượt người, tăng 65,9%; Thái Lan 195 nghìn lượt người, tăng 23,1%; Vương quốc Anh 136,1 nghìn lượt người, tăng 8%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta giảm so với cùng kỳ năm trước là: Hoa Kỳ 328,2 nghìn lượt người, giảm 3,1%; Đài Loan 297,6 nghìn lượt người, giảm 6,3%; Pháp 157,6 nghìn lượt người, giảm 6,7%; Xin-ga-po 136,3 nghìn lượt người, giảm 2,1%; Lào 96,3 nghìn lượt người; giảm 10%; Ca-na-đa 77,5 nghìn lượt người, giảm 11,6%.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
- Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện chín tháng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 755,9 nghìn tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 297,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2%; khu vực ngoài Nhà nước 280 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 178,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6%.
Trong vốn đầu tư thực hiện 9 tháng của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 144,5 nghìn tỷ đồng, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2012, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 30 nghìn tỷ đồng, giảm 16,3% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 114,5 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7%.
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2013 đạt 15005,3 triệu USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 872 dự án được cấp phép mới đạt 9294,1 triệu USD, giảm 7,3% về số dự án và tăng 34,9% về số vốn; vốn đăng ký bổ sung của 340 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 5711,2 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chín tháng năm nay ước tính đạt 8,6 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chín tháng tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 12969,3 triệu USD, chiếm 86,4% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 588,1 triệu USD, chiếm 3,9%; các ngành khác đạt 1447,9 triệu USD, chiếm 9,7%.
Trong số 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới vào Việt Nam chín tháng qua, Xin-ga-po tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 2695 triệu USD, chiếm 29% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 2237 triệu USD, chiếm 24,1%; Nhật Bản 1123 triệu USD, chiếm 12,1%; Liên bang Nga 1018 triệu USD, chiếm 11%; Đặc khu Hành chính Hồng Kông 584 triệu USD, chiếm 6,3%…
- Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2013 ước tính đạt 509,7 nghìn tỷ đồng, bằng 62,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 331,2 nghìn tỷ đồng, bằng 60,7%; thu từ dầu thô 77,5 nghìn tỷ đồng, bằng 78,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 96,8 nghìn tỷ đồng, bằng 58,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 98,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 74,1 nghìn tỷ đồng, bằng 69%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 72,1 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9%; thuế thu nhập cá nhân 35 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9%; thuế bảo vệ môi trường 8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,3%; thu phí, lệ phí 6,7 nghìn tỷ đồng, bằng 64,8%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2013 ước tính đạt 640,4 nghìn tỷ đồng, bằng 65,5% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 114,1 nghìn tỷ đồng, bằng 65,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 110,5 nghìn tỷ đồng, bằng 65%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 453 nghìn tỷ đồng, bằng 67,2%; chi trả nợ và viện trợ 73,3 nghìn tỷ đồng, bằng 69,8%.
- Xuất, nhập khẩu hàng hóa
a. Xuất khẩu hàng hoá
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu chín tháng ước tính đạt 96,5 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 32,5 tỷ USD, tăng 4,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 63,9 tỷ USD, tăng 22,4%.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực chín tháng, một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 15,1 tỷ USD, tăng 75,5%; hàng dệt, may đạt 13,2 tỷ USD, tăng 18%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,8 tỷ USD, tăng 45,3%; giày dép đạt 6,1 tỷ USD, tăng 16,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 13,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 3,9 tỷ USD, tăng 13,7%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù đạt 1,4 tỷ USD, tăng 25,1%; rau quả đạt 0,8 tỷ USD, tăng 24,5%. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô, gạo, cao su và than đá giảm so với cùng kỳ năm 2012, trong đó dầu thô đạt 5,5 tỷ USD, giảm 11,8%; gạo đạt 2,4 tỷ USD, giảm 14,6%; cao su đạt 1,7 tỷ USD, giảm 16,1%; than đá đạt 0,7 triệu USD, giảm 25,3%.
b. Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu chín tháng đạt 96,6 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 42,1 tỷ USD, tăng 5,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 54,5 tỷ USD, tăng 24,8%.
Trong chín tháng qua, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện tử máy tính và linh kiện đạt 13 tỷ USD, tăng 40,5%; vải đạt 6,1 tỷ USD, tăng 19,1%; chất dẻo đạt 4,2 tỷ USD, tăng 17%; nguyên phụ liệu dệt may, giày, dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 19,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,4 tỷ USD, tăng 39,4%. Một số mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước là: Xăng dầu đạt 5,3 tỷ USD, giảm 25,4%; cao su đạt 502 triệu USD, giảm 17,1%; dầu mỡ động thực vật đạt 467 triệu USD, giảm 18,3%; khí đốt hóa lỏng đạt 439 triệu USD, giảm 12,6%.
Trong tám tháng năm nay, xuất siêu hàng hóa thực hiện là 176 triệu USD; tháng Chín nhập siêu ước tính 300 triệu USD; tính chung chín tháng, nhập siêu 124 triệu USD, bằng 0,1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.
- Chỉ số giá
a. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 1,06% so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 9,38% (Dịch vụ giáo dục tăng 10,66%). Các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác có chỉ số giá tăng dưới 1% hoặc giảm gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,91%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,65% (Lương thực tăng 0,41%; thực phẩm tăng 0,87%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giao thông giảm 0,24%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2013 tăng 4,63% so với tháng 12/2012 và tăng 6,30% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm nay tăng 6,83% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.
b. Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất chín tháng năm 2013 có một số biến động: Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 1,9% so với quý trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2012. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,5% so với quý trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,4% so với quý trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá cước vận tải tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III tăng 0,3% so với quý trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2012.
c. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá chín tháng năm 2013 giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 0,7% so với quý trước và giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2012. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá chín tháng giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá quý III giảm 1,7% so với quý trước và giảm 1,7% so với cùng kỳ năm 2012.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
- Lao động và việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01/10/2013 là 53,9 triệu người, tăng 446,1 nghìn người so với lực lượng lao động tại thời điểm 01/7/2013. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm 01/10/2013 là 47,7 triệu người, tăng 366 nghìn người so với thời điểm 01/7/2013. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế chín tháng ước tính 52,4 triệu người, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm nay của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số, không biến động nhiều so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7%, giảm 0,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 0,5 điểm phần trăm.
Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm 2013 ước tính 33,7%, trong đó khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 28%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,22%, trong đó khu vực thành thị là 3,67%, khu vực nông thôn là 1,56% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là: 2,06%; 3,31%; 1,48%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi chín tháng năm 2013 ước tính là 2,66%, trong đó khu vực thành thị là 1,50%, khu vực nông thôn là 3,18% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là: 2,75%; 1,46%; 3,33%).
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 chín tháng năm 2013 ước tính là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,79%, tăng 1,27 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 4,49%, tăng 0,05 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên chín tháng năm 2013 ước tính là 1,29%, trong đó khu vực thành thị là 2,45%, khu vực nông thôn là 0,77%.
- Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội
Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo chín tháng năm nay là 2694 tỷ đồng, bao gồm: 1211 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1085 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 398 tỷ đồng dành cho cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Ngoài ra, các địa phương đã thực hiện cấp trên 7,2 triệu sổ/thẻ bảo hiểm y tế và giấy khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng chính sách.
Trong tháng Chín, cả nước có 16,4 nghìn hộ thiếu đói, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 70 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tăng 3%. Tính chung chín tháng năm nay, cả nước có 387,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 1628 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 4,1%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 42 nghìn tấn lương thực và 13,3 tỷ đồng.
- Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong chín tháng năm 2013, cả nước có 53,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (19 trường hợp tử vong); 44,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (25 trường hợp tử vong); 612 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (16 trường hợp tử vong); 468 trường hợp mắc thương hàn; 33 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 2 trường hợp mắc cúm A (H5N1) và 18 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân.
Trong tháng Chín đã phát hiện thêm 576 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến 17/9/2013 lên 215,3 nghìn người, trong đó 63,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 63,9 nghìn người đã tử vong do AIDS.
Trong tháng Chín, cả nước đã xảy ra 13 vụ ngộ độc thực phẩm làm 157 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 1 trường hợp tử vong. Tính chung chín tháng năm 2013, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 108 vụ ngộ độc thực phẩm làm 2,8 nghìn trường hợp bị ngộ độc, trong đó 18 người tử vong.
- Tai nạn giao thông
Trong chín tháng năm nay, cả nước đã xảy ra 8155 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, làm 7040 người chết và 4931 người bị thương. Số vụ va chạm giao thông trong chín tháng là 13706 vụ, làm 16849 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm 2012, số vụ tai nạn giao thông tăng 4,1%, số vụ va chạm giao thông giảm 10,7%, số người chết tăng 2,1%, số người bị thương giảm 11,9% và số người bị thương nhẹ giảm 10,9%.
- Thiệt hại do thiên tai
Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai xảy ra trong chín tháng đã làm 176 người chết và mất tích, 262 người bị thương; 1,6 nghìn ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; 83,7 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, sạt lở, tốc mái; 14,8 km đề, kè, 2,1 nghìn công trình, đập, cống bị hư hỏng và 2,2 nghìn cột điện bị gãy, đổ; gần 88,3 nghìn ha lúa và 51,7 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Lào Cai là địa phương bị thiệt hại nặng nhất với 23 người chết và mất tích, 82 người bị thương; 18,9 nghìn ngôi nhà bị sập, sạt lở, tốc mái và gần 2 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong chín tháng ước tính 4,5 nghìn tỷ đồng, trong đó Lào Cai thiệt hại khoảng 686 tỷ đồng, chiếm 15% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong chín tháng năm nay là gần 10 tỷ đồng.
- Tình trạng cháy, nổ
Trong chín tháng năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1,8 nghìn vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 73 người chết và 163 người bị thương, thiệt hại do các vụ cháy, nổ gây ra ước tính hơn 1069 tỷ đồng. Riêng tháng Chín đã xảy ra 159 vụ cháy, nổ, làm 3 người chết, 25 người bị thương với giá trị thiệt hại ước tính gần 521 tỷ đồng.