Tình hình sản xuất quí I diễn biến trong điều kiện trong nước và thế giới có những khó khăn. Trong nước, rét đậm và khô hạn ở nhiều tỉnh phía Bắc, mưa lũ ở Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long; dịch rầy nâu phát triển trên diện rộng ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Thị trường thế giới tiếp tục biến động, nhất là giá dầu thô và một số nguyên liệu vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao gây áp lực tăng giá nguyên liệu đầu vào trong nước. Tuy vậy, ngay từ đầu năm, nhờ Chính phủ đã có sự điều hành sát sao và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp và toàn dân, tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục phát triển và ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 2 tháng đầu năm và số liệu ước tính tháng 3, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội quí I năm 2006 như sau:
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
- Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Tổng sản phẩm trong nước quí I/2006 ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 7,3% đã đạt được trong quí I/2005, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,1%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 4,3% của năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,7%; khu vực dịch vụ tăng 7,4%. Trong 7,2 % tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,3 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,7 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,2 điểm phần trăm.
Bảng 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
(Theo giá so sánh 1994)
%
| Tốc độ tăng so với cùng quí năm trước | Đóng góp vào tăng trưởng quí I/2006 (điểm%) | |||
| Quí I/2004 | Quí I/2005 | Quí I/2006 | ||
| GDP | 7.1 | 7.3 | 7.2 | 7.2 |
| Khu vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản | 2.8 | 4.3 | 2.1 | 0.3 |
| Khu vực công nghiệp và xây dựng | 9.6 | 8.5 | 8.7 | 3.7 |
| Khu vực dịch vụ | 6.3 | 7.2 | 7.4 | 3.2 |
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2006 có mức tăng trưởng tương đối thấp so với mức tăng 4,3% của quí I/2005, chủ yếu do nông nghiệp trong quí I tăng không đáng kể, nguyên nhân do ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh năng suất lúa đông xuân ước tính sẽ giảm và làm giảm sản lượng. Tuy nhiên, trong quí I giá nông sản và thực phẩm tăng cao đã khuyến khích người dân đã chuyển sang trồng các cây cho hiệu quả cao và tăng chăn nuôi gia súc, phục hồi đàn gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm từ gia cầm tăng lên ngay sau khi dịch cúm gia cầm đã được không chế, đã phần nào bù lại sản lượng lúa đông xuân giảm và nông nghiệp vẫn tăng nhẹ trong quí I. Thuỷ sản tăng ở mức 7,7%, nhưng tỷ trọng còn nhỏ nên vẫn không kéo được mức tăng chung cho cả khu vực.
Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng biến động nhẹ so với mức tăng trưởng 8,5% của quí I năm trước, chủ yếu do giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến tăng 16%, cao hơn mức tăng của quí I/2005, trong khi ngành công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 2,6% (Quí I/2005 tăng 4,3%) và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, ga và nước tăng 12,5% (Quí I/2005 tăng 11,8%). Tăng trưởng của ngành xây dựng đạt 8,1%.
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng quí I năm nay là 7,4%, cao hơn mức tăng 7,2% của quí I/2005 và mức tăng 6,3% của quí I/2004. Trong quí I năm nay, một số ngành dịch vụ kinh doanh có tỷ trọng lớn như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều duy trì được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ: Mức tăng trưởng của ngành thương nghiệp là 7,7%; khách sạn, nhà hàng tăng 9,5%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,1%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 9,4%.
Kinh tế tăng trưởng cao và giá dầu thô tiếp tục tăng mạnh trên thị trường quốc tế đã góp phần tích cực vào tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước quí I/2006 ước tính đạt 23,5% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 23%; thu từ dầu thô 24,8%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 23%. Trong các khoản thu nội địa chủ yếu, thu từ kinh tế quốc doanh đạt 23,9% dự toán năm, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) 19,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 25,9%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 27,1%; thu về nhà đất đạt 19,1%. Thu từ dầu thô đạt trên một phần tư dự toán thu cả năm nhờ giá dầu thô trong quí I vẫn tiếp tục tăng cao hơn giá xuất khẩu dầu thô cùng quí năm trước. Trong thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu, thu thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 26,5% dự toán cả năm; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu đạt 22%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước quí I/2006 ước tính đạt 22,1% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 23,9%; chi cho đầu tư phát triển mới đạt 20,8% (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản 20,6%). Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên (trừ chi sự nghiệp kinh tế đạt 25,2% dự toán cả năm) đạt tỷ lệ phổ biến 23-24%: Chi cho giáo dục và đào tạo đạt 23,3% dự toán cả năm; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 23,7%; chi cho y tế 23,8%; chi quản lý hành chính Nhà nước, Đảng, Đoàn thể 24,4%… Bội chi ngân sách quí I ước tính bằng 19% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 74% và vay nước ngoài 26%.
- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông nghiệp đầu năm nay gặp một số khó khăn về thời tiết như: Rét đậm kéo dài ở phía Bắc, mưa lũ ở Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, sâu bệnh phát triển ở các tỉnh phía Nam làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất. Tính chung giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 của quý I ước tính đạt 39,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với quý I năm 2005, trong đó nông nghiệp 30,04 nghìn tỷ đồng, tăng 1,04%; lâm nghiệp đạt 1,38 nghìn tỷ đồng, tăng 0,2%; thuỷ sản 8,25 nghìn tỷ đồng, tăng 7,93%. Tình hình cụ thể từng ngành sản xuất như sau:
Nông nghiệp
Tính đến ngày 15/3/2006, cả nước đã gieo cấy được 2946,5 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 102,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1111 nghìn ha, bằng 100,1%; các địa phương phía Nam gieo sạ 1835,5 nghìn ha, bằng 103,3%.
Cùng thời gian này, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 934,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 76,9% cùng kỳ năm 2005. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 895,8 nghìn ha, chiếm 60% diện tích xuống giống và bằng 74,6%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất toàn vùng năm nay thấp hơn so với năm trước, sản lượng ước tính đạt 8,8 triệu tấn, giảm 182 nghìn tấn.
Cũng đến trung tuần tháng 3, cả nước đã gieo trồng được 379,4 nghìn ha ngô, bằng 104,1% cùng kỳ năm trước; 104,9 nghìn ha khoai lang, bằng 97,4%; 148,5 nghìn ha lạc, bằng 92,9%; 76,7 nghìn ha đậu tương, bằng 109,4% và 334,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 97,7%.
Chăn nuôi trong quí I năm nay phát triển khá so với cùng kỳ năm trước, đàn bò cả nước ước tính tăng 7% do nhiều mô hình trang trại, nông trại nuôi bò phát triển nhanh tại một số địa phương như: Hải Phòng, Tây Ninh, Thái Nguyên… và nguồn thức ăn được đảm bảo. Đàn lợn ước tính tăng 5%, chất lượng được nâng lên theo hướng nạc hoá. Đàn gia cầm ước tính tăng 1-2%, dịch cúm gia cầm đã được khống chế trên cả nước sau 3 tháng kể từ khi phát dịch. Sản phẩm thịt và trứng gia cầm đến nay đã được phép lưu thông trên thị trường, nhiều hộ bắt đầu khôi phục lại đàn dẫn đến nhu cầu con giống tăng cao, hiện nay các địa phương đang tích cực triển khai tiêm phòng vắc xin đợt I.
Lâm nghiệp
Tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng đầu năm nay ước tính đạt 38,7 nghìn ha, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây phân tán đạt 61,4 triệu cây, bằng 100,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 477,7 nghìn m3, bằng 99,9%.
Do công tác bảo vệ rừng được quan tâm và thực hiện tốt nên trong quí I năm nay diện tích rừng thiệt hại đã giảm nhiều, tổng diện tích rừng bị thiệt hại 217,2 ha, bằng 10% cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 88,2 ha. Tuy nhiên hiện tượng đốt, phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra rải rác ở một số địa phương như: Đắk Nông, Bình Phước…
Thủy sản
Tổng sản lượng thuỷ sản 3 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 828 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 6,4%; tôm tăng 10,7%. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển khá nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Phong trào nuôi cá bè được nhân rộng ở Tiền Giang, một số diện tích nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long được chuyển sang nuôi cá. Mô hình nuôi các loại cá nước ngọt và thuỷ sản khác như cá lóc, rô phi, bống tượng, lươn, ếch… tiếp tục phát triển mạnh. Cũng trong thời gian này, phần lớn diện tích nuôi tôm sú vụ chính đã được thả giống, hiện tượng tôm chết rải rác và con giống thả nuôi không qua kiểm dịch vẫn xảy ra. Ước tính sản lượng nuôi trồng quí I/2006 đạt 284,5 nghìn tấn, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 12,9%; tôm tăng 14,4%.
Thời tiết đang rất thuận lợi cho hoạt động đánh bắt thuỷ sản xa bờ tại khu vực biển Nam Bộ. Các loại cá nam, cá cơm, cá ngừ đại dương, cá thu… xuất hiện dày ngoài biển, đây là cơ hội cho các tàu thuyền ra khơi bám biển. Ước tính sản lượng thuỷ sản khai thác quí I năm nay đạt 543,5 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 496,4 nghìn tấn, tăng 3,5%.
- Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2006 ước tính đạt 40,91 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 4,5% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,6% (dầu khí giảm 1%, do sản lượng cả hai sản phẩm dầu thô khai thác và khí đốt đều thấp hơn tháng 3 năm trước).
Công nghiệp tháng 3 năm nay tăng thấp là do (1) Một số ngành sản phẩm có giá trị cao, nhưng mức sản xuất của tháng 3 sụt giảm hoặc tăng không đáng kể so với tháng 3 năm 2005 như: Dầu thô khai thác giảm 0,1%; khí đốt thiên nhiên giảm 4,5%; ô tô lắp ráp giảm 40,8%; xe máy lắp ráp giảm 13,7%; ti vi lắp ráp giảm 9%; xe đạp giảm 15,8%; xi măng giảm 0,9%; xà phòng, bột giặt giảm 5,4%; than sạch khai thác tăng 4,3%; giấy, bìa tăng 2,3%; phân hoá học tăng 4%… Bên cạnh đó một số ngành gia công xuất khẩu như: May mặc, da giày, sản xuất hoá mỹ phẩm, thuốc chữa bệnh… cũng giảm nhịp độ tăng trong tháng 3, nhất là khu vực trong nước. (2) Tiêu thụ một số sản phẩm trên thị trường trong nước chững lại do các nguyên nhân khác nhau: ô tô lắp ráp giảm mạnh do ảnh hưởng Nhà nước thay đổi chính sách (như cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng, nhập khẩu thành phẩm nguyên chiếc, giảm thuế nhập khẩu); nhu cầu tiêu thụ xi măng trong quí I chưa cao, nên lượng xi măng đã sản xuất trong hai tháng còn tồn đọng nhiều; nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm tăng chậm như xà phòng, bột giặt; các loại hoá mỹ phẩm; thuốc lá… Mặt khác, các nước nhập khẩu đang gây các rào cản như vấn đề chống bán phá giá mặt hàng giày của EU, hạn ngạch hàng dệt may; chưa tăng được các hợp đồng tiêu thụ… (3) Giá cả trong tháng 3 có hiện tượng biến động theo chiều hướng tăng, đã tác động đến tâm lý một số nhà sản xuất cầm chừng, thăm dò biến động giá cả chung trên thị trường.
Tính chung quí I/2006, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,7%, do sản xuất công nghiệp tháng 3 năm nay tăng thấp hơn so với mức tăng của tháng 3 năm trước và thấp hơn mức tăng 2 tháng đầu năm, đã kéo nhịp độ tăng chung của cả quí I giảm xuống thấp hơn mức tăng trong hai tháng, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 6,9% (các doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 9,9%, trong khi doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 0,2%); kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,4% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,3% (dầu khí giảm 2,2%, các ngành khác tăng 21,2%). Trong các ngành công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ tăng 2,6%, công nghiệp chế biến tăng 16% và sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước tăng 12,5%.
Trong các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp chế biến, sản phẩm dệt, may quí I đã tăng cao so với quí I năm trước: vải lụa tăng 27,9%, quần áo dệt kim tăng 19,6%, quần áo may sẵn tăng 27,4%, nguyên nhân chủ yếu do tăng mạnh xuất khẩu; trong khi thuỷ sản chế biến tăng 11,1%; giấy bìa tăng 5,6%; xi măng tăng 9%; thép cán tăng 5,5% và nhiều sản phẩm cơ khí chế tạo (trừ động cơ điện), ti vi lắp ráp, ô tô lắp ráp, xe máy lắp ráp, xe đạp đều giảm sút so với quí I năm trước.
- Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư quí I/2006 theo giá thực tế ước tính đạt 64,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó vốn Nhà nước thực hiện 32,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19%; vốn ngoài Nhà nước 18 nghìn tỷ đồng, tăng 20% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 13,2 nghìn tỷ đồng, tăng 21,3%.
Bảng 2. Thực hiện vốn đầu tư quí I/2006
| Kế hoach 2006 (Nghìn tỷ đồng) | Ước thực hiện quí I/2006 | |||
| (Nghìn tỷ đồng) | So với kế hoạch năm (%) | Tốc độ tăng so với quí I/ 2005 (%) | ||
| TỔNG SỐ | 376.6 | 64.1 | 17.0 | 19.8 |
| Vốn Nhà nước | 193.6 | 32.9 | 17.0 | 19.0 |
| Vốn ngoài quốc doanh | 127.0 | 18.0 | 14.2 | 20.0 |
| Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài | 56.0 | 13.2 | 23.6 | 21.3 |
Thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước quí I/2006 ước tính đạt 11,85 nghìn tỷ đồng, bằng 21,1% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do ngân sách Trung ương quản lý thực hiện 3650 tỷ đồng, đạt 21% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 22,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 27,5%; Bộ Y tế đạt 19,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 18,4%; Bộ Văn hoá Thông tin đạt 20%; Bộ Thuỷ sản đạt 21,9%; Bộ Công nghiệp đạt 19,8%; riêng Bộ Xây dựng mới đạt 11,4%. Vốn đầu tư do ngân sách Nhà nước địa phương quản lý thực hiện 8200 tỷ đồng, bằng 21,2% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 1596 tỷ đồng, bằng 34,7%; Hải Phòng 241,3 tỷ đồng, bằng 18%; Đồng Nai 318 tỷ đồng, bằng 24,6%; Bà Rịa-Vũng Tàu 375,4 tỷ đồng, bằng 18,3%; thành phố Hồ Chí Minh 932,7 tỷ đồng, bằng 11,7%…
Một số dự án lớn về giao thông như nút giao thông Ngã Tư Sở (Hà Nội) đang được tập trung thi công khẩn trương, phấn đấu hoàn thành cầu vượt trước 19/5/2006, sớm hơn 3 tháng so với dự kiến. Dự án cầu Vĩnh Tuy (Hà Nội) đến nay cơ bản hoàn thành việc khoan cọc nhồi các trụ vượt sông. Dự án Đại lộ Đông Tây (thành phố Hồ Chí Minh) nhìn chung thực hiện chậm so với tiến độ đề ra, chủ yếu do giải tỏa chậm; nhiều hạng mục của dự án thay đổi thiết kế làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện.
Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Trong quí I/2006 có 215 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1625,2 triệu USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án đạt 7,6 triệu USD. Trong 3 tháng qua, còn có 68 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 426 triệu USD, nâng tổng số vốn cấp mới và tăng thêm trong quí I/2006 lên 2,05 tỷ USD. Dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép trong quí I năm nay tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng với 165 dự án và khoảng 1,23 tỷ USD, chiếm 76,7% số dự án và 75,5% tổng vốn đăng ký; khu vực dịch vụ 44 dự án với 392,6 triệu USD; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 dự án với số vốn 5,3 triệu USD.
Trong các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu cả nước với 75 dự án và 698,2 triệu USD, chiếm 34,9% tổng số dự án và 43% vốn đăng ký; Hà Nội với 26 dự án và 455 triệu USD; Hải Dương 6 dự án và 95,9 triệu USD; Hải Phòng 25 dự án và 88,7 triệu USD; Đồng Nai 25 dự án và 57,6 triệu USD; Bình Dương 27 dự án và 38 triệu USD…
Có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới được cấp phép vào Việt Nam trong quí I năm nay, trong đó Đặc khu Hành chính Hồng Công (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Xin-ga-po chiếm tới 95,9% tổng số vốn đăng ký (Hồng Công 672,9 triệu USD, chiếm 41,4%; Hàn Quốc 378,4 triệu USD, chiếm 23,3%; Nhật Bản 299,8 triệu USD, chiếm 18,4%; Đài Loan 118,3 triệu USD, chiếm 7,3%; Xin-ga-po 89,5 triệu USD, chiếm 5,5%).
- Thương mại, giá cả và dịch vụ
Thị trường trong nước quí I thường sôi động, nhất là tháng 1 và 2, là tháng có nhiều lễ, Tết, hội, ngày nghỉ nhiều hơn, tuy trong tháng 3 nhu cầu tiêu dùng của dân cư giảm tương đối so với 2 tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2006 theo giá thực tế ước tính đạt 135 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, còn tăng trên 10%. Biến động của tổng mức so với quí I năm trước của các khu vực kinh tế có xu hướng đồng đều hơn mức biến động của các khu vực trong quí I năm trước. Ngoài khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 11,6% tổng mức quí I, tăng 7,3% (năm trước khu vực này giảm), thấp hơn mức tăng chung, các khu vực kinh tế khác đều tăng trên 20-25%: kinh tế tập thể tỷ trọng gần 1% và tăng 20,2%; kinh tế cá thể tỷ trọng 63,7%, tăng 20,1%; kinh tế tư nhân tỷ trọng 21,2%, tăng 24,5% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tỷ trọng 2,5%, tăng 21,7%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp và khách sạn nhà hàng có tỷ trọng lớn, tăng xấp xỉ mức tăng chung, trong khi các ngành du lịch lữ hành và dịch vụ tỷ trọng nhỏ nhưng tăng ở mức 27-30%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2006 trên địa bàn Hà Nội chiếm 9,7% tổng mức, tăng 20,9%, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 22,2%, tăng 18%.
Giá tiêu dùng tháng 3/2006 giảm 0,5% so với tháng 2/2006, chủ yếu do cầu giảm (vì là tháng sau Tết các nhu cầu tiêu dùng của người dân đã trở về mức bình thường), trong khi nguồn cung dồi dào. Quan sát dãy số liệu chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong quí I các năm từ 2001 trở lại đây cho thấy, giá tiêu dùng trong quí I năm nay biến động theo xu hướng tương tự các năm 2005 và trước đó với mức tăng giá tháng Hai có xu hướng cao hơn mức tăng giá tháng Một và giá tháng Ba tăng chậm hơn mức tăng giá tháng Hai.
Trong các nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng, giá lương thực, thực phẩm giảm 0,9% (chủ yếu do giá thực phẩm giảm 1,1% trong khi giá lương thực chỉ tăng 0,2%); cùng xu hướng giảm là giá các nhóm đồ uống và thuốc lá; phương tiện đi lại, bưu điện; văn hoá thể thao, giải trí… trong khi một số nhóm còn lại như nhà ở và vật liệu xây dựng; giáo dục; may mặc, mũ nón, giày dép; thiết bị và đồ dùng gia đình… chỉ tăng nhẹ ở mức từ 0,1 đến 0,5%.
Bảng 3. Chỉ số giá tiêu dùng
%
| 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | |
| Tháng trước = 100 | ||||||
| Tháng 1 | 100,3 | 101,1 | 100,9 | 101,1 | 101,1 | 101,2 |
| Tháng 2 | 100,4 | 102,2 | 102,2 | 103,0 | 102,5 | 102,1 |
| Tháng 3 | 99,3 | 99,2 | 99,4 | 100,8 | 100,1 | 99,5 |
| Tháng 12 năm trước=100 | ||||||
| Tháng 1 | 100,3 | 101,1 | 100,9 | 101,1 | 101,1 | 101,2 |
| Tháng 2 | 100,7 | 103,3 | 103,1 | 104,1 | 103,6 | 103,3 |
| Tháng 3 | 100,0 | 102,5 | 102,5 | 104,9 | 103,7 | 102,8 |
So với tháng 12 năm 2005, giá tiêu dùng tháng 3/2006 tăng 2,8% thấp hơn mức tăng giá tiêu dùng 3,7% của tháng 3/2005 so với tháng 12/2004 gần 1 điểm phần trăm, trong đó giá của tất cả các nhóm đều tăng, đặc biệt là giá lương thực, thực phẩm đều tăng 4%; các nhóm khác tăng phổ biến ở mức từ 0,3% đến 2,2%. Do tăng cao và tỷ trọng lớn nhất nên giá lương thực, thực phẩm vẫn là yếu tố chính đóng góp cho tăng giá so với tháng 12 năm trước.
Tuy mức tăng giá tiêu dùng các tháng trong quí I/2006 so với cùng kỳ có xu hướng tích cực là giảm dần qua các tháng (giá tháng 1 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tháng 2 tăng 8,4% và tháng 3 tăng 7,7%), nhưng giá bình quân 12 tháng tại thời điểm tháng 3/2005 vẫn còn tăng đáng kể, tăng 8,1% là điều đáng quan tâm trong thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng.
Giá vàng tháng 3 chỉ còn tăng 1,8% so với tháng trước, sau khi đã tăng với mức kỷ lục 7,5% trong tháng 12/2005; 4% trong tháng 1/2006 và 5,4% trong tháng 2/2006; tăng 11,6% so với tháng 12 năm trước và tăng 26,7% so với tháng 3 năm 2005. Giá đô la Mỹ khá ổn định trong quí I/2006, giá tháng 3/2006 giảm 0,1% so với tháng trước, bằng mức giá tháng 12/2005 và chỉ tăng 0,8% so với tháng 3 năm 2005.
Tổng mức lưu chuyển ngoại thương quí I/2006 ước tính đạt 17,08 tỷ USD, tăng 10,4% so với quí I năm trước, trong đó xuất khẩu hàng hoá tăng 20,3% và nhập khẩu hàng hoá tăng 1,9%. Tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng nhập khẩu, vì vậy Quí I đã xuất siêu 56 triệu USD, tuy tỷ lệ xuất siêu so với xuất khẩu khá nhỏ (0,7%) và cũng chỉ có tính chất ước lệ tạm thời, vì nhập khẩu tăng thấp, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu giảm 3,6% là chưa tương xứng với nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển và cần nhập khẩu nhiều nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị từ bên ngoài để phát triển sản xuất trong nước đạt mức tăng trưởng cao .
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá quí I/2006 ước tính đạt 8,57 tỷ USD, tăng 20,3% so với quí I năm trước và bằng 22,7% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3,54 tỷ USD, tăng 14,1%, đóng góp 6,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; dầu thô gần 2 tỷ USD, tăng 16,1%, đóng góp 3,9 điểm phần trăm và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 3,04 tỷ USD, tăng 31,7%, đóng góp 10,3 điểm phần trăm.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, 4 mặt hàng lớn là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản đạt 4,59 tỷ USD, tăng 19,9% so với quí I năm trước, đóng góp hơn một nửa số điểm phần trăm tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá (+10,7 điểm phần trăm). Xuất khẩu dầu thô quí I ước tính đạt 2 tỷ USD, tương đương với lượng xuất khẩu 4,19 triệu tấn và kim ngạch tăng lên nhờ tăng giá dầu thô xuất khẩu bình quân 3 tháng tăng lên 29,6% đã bù lại lượng giảm 10,4% so với quí I năm trước. Kim ngạch xuất khẩu dệt may 1,24 tỷ USD, tăng 31,2%; giày, dép 816 triệu USD, tăng 23,2% và thuỷ sản 532 triệu USD, tăng 7,1%.
Một số mặt hàng công nghiệp khác có kim ngạch lớn và tăng khá như điện tử, máy tính; sản phẩm gỗ; dây điện và cáp điện và có thêm mặt hàng túi xách, ví, va li, mũ, ô dù có kim ngạch trên 100 triệu USD, tăng 11%. Xuất khẩu than đá là 5719 triệu tấn, tăng 54,7% về lượng và đạt 40,8% kế hoạch cả năm, tuy tăng về lượng quá cao, nhưng giá xuất khẩu than 3 tháng năm nay đã giảm gần 19% nên kim ngạch tăng 25,4%.
Xuất khẩu các mặt hàng nông sản và nông sản chế biến chủ yếu mới đạt khoảng 1 tỷ USD, chỉ tăng khoảng 4,4% so với quí I năm trước, do một số mặt hàng tăng khá về lượng (trừ gạo, cà phê và lạc), và số mặt hàng có lợi về giá xuất khẩu như cao su, cà phê và lạc. Xuất khẩu cao su tăng 44,5% về lượng và 100,1% về kim ngạch; tiêu lượng tăng 11,9, kim ngạch tăng 17,7%; gạo lượng giảm 1%, kim ngạch tăng 0,6%; cà phê lượng giảm 31,9%, kim ngạch giảm 21,1%; điều lượng tăng 14,3%, kim ngạch giảm 2,7%, do giá xuất giảm 14,9%… Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ như xe đạp và phụ tùng xe đạp, sản phẩm mây tre, cói, thảm; hạt điều, rau quả.
Bảng 4. Xuất khẩu một số mặt hàng quí I/2006
| Kim ngạch xuất khẩu quí I (Triệu USD) | Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu (%) | Tốc độ tăng so với quí I năm trước (%) | Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu (%) | ||
| Dầu thô | 1993 | 23,26 | 16,1 | 19,1 | |
| Than đá | 169 | 1,97 | 25,4 | 2,4 | |
| Dệt, may | 1244 | 14,52 | 31,2 | 20,5 | |
| Giày dép | 816 | 9,52 | 23,2 | 10,6 | |
| Điện tử, máy tính | 382 | 4,46 | 18,1 | 4,1 | |
| Gạo | 306 | 3,57 | 0,6 | 1,4 | |
| Cà phê | 288 | 3,36 | -21,1 | -5,3 | |
| Cao su | 261 | 3,05 | 100,1 | 9,0 | |
| Sản phẩm gỗ | 444 | 5,18 | 21,5 | 5,4 | |
| Thuỷ sản | 532 | 6,21 | 7,1 | 2,5 | |
Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá quí I/2006 ước tính đạt 8,51 tỷ USD, tăng 1,9% so cùng kỳ năm trước và đạt 20% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 5,26 tỷ USD, giảm 3,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3,25 tỷ USD, tăng 12,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số nguyên, nhiên vật liệu chính cho sản xuất trong nước đạt tốc độ tăng cao như xăng dầu tăng 15%, chất dẻo tăng 21,1%; hoá chất tăng 18%; vải tăng 22,7%. Tuy nhiên, trong quí I năm nay nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; nguyên phụ liệu dệt, da, may; gỗ và nguyên liệu gỗ cũng như lượng nhập khẩu một số nhiên liệu, vật tư như xăng dầu, sắt thép, phân bón, bông đều thấp hơn quí I năm trước (Lượng nhập khẩu xăng dầu so với quí I năm trước giảm 12%; sắt thép giảm 20,3%; phân bón giảm 5,6% (urê giảm 15,6%); bông giảm 15,7%), là vấn đề cần quan tâm vì sẽ ảnh hưởng đến sản xuất những sản phẩm liên quan ở trong nước quí tới.
Vận chuyển hành khách quí I/2006 ước đạt 324,1 triệu lượt hành khách và 13,5 tỷ lượt hành khách.km; so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8% về lượt hành khách và tăng 8,6% về lượt hành khách.km, trong đó vận chuyển hành khách do các đơn vị trung ương đảm nhận tăng 0,2% về số khách và 8,8% về số khách.km; vận chuyển hành khách do các đơn vị địa phương tăng 8% về số khách và 8,5% về số khách.km. Vận chuyển hành khách bằng đường sắt so với quí I năm trước giảm cả về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển, chủ yếu giảm do nhu cầu đi lại của dân cư trong tháng 3/2006 đã giảm hẳn so với tháng Một và Hai nên cũng từ tháng Ba ngành đường sắt đã cắt hết các tuyến tàu tăng cường trong dịp Tết; bên cạnh đó còn có sự cạnh tranh của vận chuyển hành khách bằng đường bộ và hàng không. Vận chuyển hành khách bằng đường bộ tăng 8,9% về khách và tăng 9% về số khách.km, do lợi thế thuận tiện, giá rẻ, có thể đến tận nơi đón và trả khách theo yêu cầu; vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tăng nhanh do rút ngắn được thời gian vận chuyển và các chính sách khuyến mại, giảm giá vé, tăng 16% về khối lượng vận chuyển và 14,8% về khối lượng luân chuyển; vận tải chuyển bằng đường biển tăng 6,5% và tăng 8,5%; đường sông tăng 2,7% và tăng 3,5%.
Vận chuyển hàng hoá tăng trong tháng Ba, do các nhà máy và các công trình đã ổn định và đang đẩy nhanh tiến độ sản xuất, kinh doanh; nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh so với Quí I năm trước. Vận chuyển hàng hoá trong quí I/2006 ước tính đạt 84 triệu tấn và 21 tỷ tấn.km; so với cùng kỳ năm trước tăng 7,8% về tấn và tăng 7,5% về tấn.km. Vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt giảm 0,8% về khối lượng vận chuyển nhưng khối lượng luân chuyển tăng 17,2%, do lượng hàng hoá vận chuyển đường dài tăng, cả chiều vào các tỉnh phía Nam cũng như nguồn hàng từ phía Nam chuyển ra khá dồi dào; vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ tăng 8,9% và tăng 9,1%; đường biển tăng 6% và tăng 7%; đường sông tăng 6,1% và tăng 6,3%. Riêng vận tải hàng hoá bằng đường hàng không giảm mạnh giảm 17,3% về khối lượng vận chuyển và giảm 8,4% về khối lượng luân chuyển.
Hoạt động du lịch quí I năm nay diễn ra khá nhộn nhịp. Các lễ hội, đền, chùa, danh lam thắng cảnh không những thu hút du khách trong nước mà còn thu hút rất nhiều du khách nước ngoài đến thăm quan như lễ hội Chùa Hương, Yên Tử… Khách quốc tế đến Việt Nam quí I năm 2006 ước tính đạt 980,1 nghìn lượt người, tăng 16,3% so với quí I năm 2005, trong đó khách đến vì công việc tăng 34%; du lịch, nghỉ ngơi tăng 15,5%, thăm thân nhân tăng 12% và các mục đích khác tăng 9,1%. Đáng chú ý là khách quốc tế đến Việt Nam quí I năm nay tăng chủ yếu ở số khách đến bằng đường hàng không, tăng tới 26,9% so với quí I năm trước, trong khi khách đến bằng đường bộ và đường biển đều giảm. Khách đến từ CHND Trung Hoa 142,7 nghìn lượt người, giảm 24,9% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ Hàn Quốc 121,6 nghìn lượt người, tăng 61,9%; khách đến từ Mỹ 110,5 nghìn lượt người, tăng 28,8%; khách đến từ Ôx-trây-li-a 48,4 nghìn lượt người, tăng 25,5%; khách đến từ Pháp 34 nghìn lượt người tăng 3,1%; riêng khách đến từ Nga mới đạt mức 1 vạn người trong quí I, nhưng đã tăng khá cao (+65,9%)…
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
- Đời sống dân cư
Đời sống dân cư những tháng đầu năm nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp thiết thực tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời, góp phần cải thiện đời sống của người lao động, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Bính Tuất vừa qua. ở nông thôn, đời sống dân cư cũng từng bước được cải thiện do giá nông sản, thực phẩm cao người dân đã tập trung vào phát triển các loại cây trồng cho hiệu quả cao hơn, và tăng chăn nuôi gia súc; dịch cúm gia cầm đã được khống chế, sản phẩm gia cầm đã lưu thông trên thị trường, mức tiêu dùng tăng; đồng thời nhiều địa phương đã thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo và công tác đền ơn đáp nghĩa, trợ giúp các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội. Thiếu đói trong nông dân 3 tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Số lượt hộ thiếu đói giảm 5,8% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 5,9%.
- Văn hoá thông tin, thể dục thể thao
Hoạt động văn hoá thông tin những tháng đầu năm tập trung vào công tác thông tin tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của đất nước, các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc và đón Xuân Bính Tuất 2006. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức rộng khắp trong cả nước. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa, thông tin cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa được tăng cường, nhất là công tác quản lý lễ hội, nhằm chấn chỉnh các biểu hiện tiêu cực và vấn đề ô nhiễm môi trường. Hoạt động thể dục thể thao quần chúng mừng Đảng, mừng xuân được tổ chức rộng khắp, nội dung phong phú như thi đấu biểu diễn, trò chơi dân gian… thu hút nhiều người tham gia. Trong quí I năm nay đã tổ chức 6 giải thi đấu thể thao thành tích cao, đồng thời cũng tham dự 5 giải thi đấu quốc tế.
- Công tác phổ cập giáo dục
Tính đến cuối tháng 2/2006 cả nước có 35 tỉnh, thành phố đạt phổ cập tiểu học đúng độ tuổi là: Bắc Giang, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thanh Hoá, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bình Dương, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hoà Bình, Nghệ An, Bình Định, Long An, Tây Ninh, Quảng Ninh, Bến Tre và Hậu Giang. Công tác phổ cập trung học cơ sở cũng được các địa phương tích cực thực hiện. Cũng đến thời điểm trên có 30 tỉnh thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở là: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Bình Dương, Bình Định, Thái Nguyên, Đồng Nai, Cần Thơ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hậu Giang, Thừa Thiên Huế, Bắc Kạn, Quảng Bình, Quảng Trị và Vĩnh Long.
- Tình hình dịch bệnh
Trong 3 tháng đầu năm 2006 có gần 10 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, trong đó 2 người tử vong; 6,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 3 người đã tử vong; 1,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút và khoảng 180 trường hợp mắc bệnh thương hàn nhưng không có trường hợp nào tử vong.
Về bệnh cúm A-H5N1, trong tháng 3/2006 không có trường hợp nào nghi nhiễm bệnh. Như vậy, tính từ 14/11/2005 đến nay, nước ta không có trường hợp mới nào mắc bệnh.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 3/2006 đã phát hiện thêm 952 trường hợp nhiễm mới, nâng tổng số trường hợp nhiễm HIV trong cả nước đến 20/3/2006 lên 105,6 nghìn người, trong đó 17,8 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 10,3 nghìn người đã chết do AIDS.
Ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 3 tại Hà Giang, Bình Thuận, Nghệ An và Bắc Kạn đã xảy ra 7 vụ ngộ độc thực phẩm làm 200 trường hợp bị ngộ độc, trong đó 9 người đã tử vong. Tính từ đầu năm đến nay, cả nước đã có 1,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 20 người đã tử vong.
- Tai nạn giao thông
Trong tháng 2 (từ 22/1 – 21/2) trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1177 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1027 người và làm bị thương 921 người. So với tháng 1/2006, số vụ tai nạn giảm 21%; số người chết giảm 18,6%; số người bị thương giảm 27,1%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 26,8%; số người chết giảm 13,7% và số người bị thương giảm 34,7%.
Tính chung 2 tháng đầu năm nay tai nạn giao thông vẫn ở mức cao, đặc biệt số người chết tăng so với cùng kỳ năm 2005. Trong 2 tháng đầu năm 2006, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 2,7 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 2,3 nghìn người và làm bị thương 2,2 nghìn người; bình quân 1 ngày xảy ra 45 vụ tai nạn, làm chết 39 người và làm bị thương 37 người. So với 2 tháng đầu năm 2005, số vụ tai nạn 2 tháng đầu năm nay giảm 9,7%; số người bị thương giảm 16%, riêng số người chết tăng 3,9%. Ngoài ra, trong những tháng đầu năm cũng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ