1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp: Tính đến ngày 15/4, các địa phương phía Bắc đã gieo cấy được 1138,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,4% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng 557,1 nghìn ha, bằng 98,6%. Các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1624,4 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 88,5% diện tích gieo cấy và bằng 100,4%, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long cơ bản thu hoạch xong. Theo báo cáo sơ bộ, do đầu vụ khô hạn, lúa chậm phát triển lại gặp dịch rày nâu phá hoại trên diện rộng nên ước tính năng suất lúa đông xuân của vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ đạt 60 tạ/ha, giảm 1-1,5 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2005 và sản lượng đạt trên 9 triệu tấn, giảm 10 vạn tấn.

Cùng với việc thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 657,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 86,6% cùng kỳ năm trước. Trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long 637,5 nghìn ha, bằng 86,8%. Cũng đến trung tuần tháng 4, cả nước đã gieo trồng được 472,5 nghìn ha ngô, bằng 101,3% cùng kỳ năm 2005; 112,8 nghìn ha khoai lang, bằng 95%; 129,7 nghìn ha sắn, bằng 125,7%; 187,5 nghìn ha lạc, bằng 108,1%; 95,2 nghìn ha đậu tương, bằng 102,4%; 24,3 nghìn ha thuốc lá, bằng 118%.

Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp trong tháng này chủ yếu tập trung vào chăm sóc rừng, trồng mới, quản lý và bảo vệ rừng hiện có. Thời tiết đang vào thời điểm khô hạn, nên các địa phương cũng đang tích cực đẩy mạnh công tác phòng chống cháy rừng. Trong tháng xảy ra 32 vụ cháy làm thiệt hại 22 ha, chủ yếu ở các tỉnh: Kon Tum, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Tây Ninh.

Thuỷ sản: Sản lượng thuỷ sản tháng 4 ước tính đạt 298,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 211,3 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm 37,7 nghìn tấn, tăng 6,5%. Nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển mạnh ở hầu hết các địa phương trong cả nước, đặc biệt là phong trào nuôi cá nước ngọt. Sản lượng nuôi trồng đạt 105,9 nghìn tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 66,6 nghìn tấn, tăng 11%; tôm 25 nghìn tấn, tăng 8,7%.

Thời tiết thuận lợi cho khai thác thuỷ sản, sản lượng tháng này đạt 192,4 nghìn tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển 171,7 nghìn tấn, tăng 3,2%, riêng cá biển đạt 130,2 nghìn tấn, tăng 3,3%.

Tính chung 4 tháng đầu năm nay, sản lượng thuỷ sản đạt 1126,3 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 390,4 nghìn tấn, tăng 12%; khai thác đạt 735,9 nghìn tấn, tăng 3.1 %.

  1. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2006 ước tính đạt 43,07 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2005, đây là mức tăng cao trở lại sau khi công nghiệp tháng 3 và quí I đạt mức tăng thấp hơn mục tiêu kế hoạch đề ra. Trong các khu vực kinh tế, kinh tế Nhà nước tăng 12,1% (trung ương quản lý tăng 16%; địa phương quản lý tăng 2%); kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,1% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 20,8% (dầu mỏ và khí đốt giảm 0,1% do sản lượng khí đốt thiên nhiên giảm 4%; các ngành kinh tế khác tăng 26,4%). Công nghiệp tháng 4 năm nay tăng khá hơn tốc độ tăng của tháng 3/2006 và cao hơn cả  tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp quí I, thể hiện ở một số ngành, sản phẩm có giá trị cao như: than sạch khai thác, dầu thô khai thác, thuỷ sản chế biến, đường mật các loại, bia, vải lụa thành phẩm, giấy, bìa, phân hoá học, thuốc ống các loại, thép cán, máy công cụ, ô tô lắp ráp,  xe máy lắp ráp và điện sản xuất.

Do tháng 4 tăng khá hơn nên tính chung 4 tháng đầu năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước và như vậy đã tăng lên gần 1 điểm phần trăm so với tốc độ tăng của công nghiệp quí I. Trong các loại hình kinh tế, khu vực kinh tế Nhà nước 4 tháng tăng 8,3% (trung ương quản lý tăng 11,8%; địa phương quản lý giảm 0,2 %); kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,2% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18% (dầu mỏ khí đốt giảm 2,5%; các ngành khác của khu vực này tăng 23,5%).

Trong các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, sản lượng than sạch khai thác tháng 4 tăng không nhiều so với tháng trước nhưng đã tăng tới 24,6% so với tháng 4/2005 nên 4 tháng tăng 18,6%. Sản lượng dầu thô khai thác 4 tháng bằng 96,6% cùng kỳ, do tháng 4 sản lượng dầu thô khai thác đã tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng điện phát ra tăng 14,5%. Một số sản phẩm công nghiệp chế biến tăng khá, do tăng tiêu thụ trên thị trường nội địa và tăng xuất khẩu như: Thuỷ sản chế biến, vải lụa thành phẩm, quần áo dệt kim, quần áo may sẵn, thuốc ống các loại, thép cán.

Bên cạnh đó, một số sản phẩm mặc dù tháng 4 đã tăng khá hơn nhưng  tính chung cả 4 tháng năm nay vẫn còn tăng thấp hoặc sút giảm so với cùng kỳ như giấy, bìa tăng 6,2%; phân hoá học tăng 2,9%; xi măng tăng 9,8%; xe máy lắp ráp tăng 5,9%; dầu thô khai thác giảm 3,4%; đường mật giảm 3,1%; máy công cụ giảm 15,4%; ô tô lắp ráp giảm 39,6% (chủ yếu do ảnh hưởng tâm lý người tiêu dùng khi Chính phủ cho nhập ô tô qua sử dụng đã ảnh hưởng đến cầu sản xuất ô tô trong nước và bản thân người sản xuất cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với chủ trương này).

  1. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc vốn ngân sách Nhà nước tháng 4/2006 ước tính đạt 4,68 nghìn tỷ đồng, bằng 8,3% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị trung ương quản lý 1,58 nghìn tỷ đồng, bằng 9,1% và các đơn vị địa phương quản lý 3,1 nghìn tỷ đồng, bằng 8%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách Nhà nước ước tính thực hiện 16,54 nghìn tỷ đồng, đạt 29,5% kế hoạch cả năm. Vốn đầu tư do trung ương quản lý ước tính đạt 5,24 nghìn tỷ đồng, bằng 30,1% kế hoạch năm, trong đó Bộ Giao thông Vận tải thực hiện 2,05 nghìn tỷ đồng, bằng 30,8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 783 tỷ đồng, bằng 39,3%; Bộ Xây dựng 344,2 tỷ đồng, bằng 20,8%; Bộ Y tế 185 tỷ đồng, bằng 20,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 171,1 tỷ đồng, bằng 19,3%; Bộ Văn hoá Thông tin 115,5 tỷ đồng, bằng 27%. Vốn đầu tư do địa phương quản lý 11,3 nghìn tỷ đồng, bằng 29,2% kế hoạch năm, trong đó Hà Nội 1,38 nghìn tỷ đồng, bằng 30%; Hải Phòng 334,1 tỷ đồng, bằng 25%; Nghệ An 309,4 tỷ đồng, bằng 30,8%; Đồng Nai 387,9 tỷ đồng, bằng 30,1%; Bà Rịa – Vũng Tàu 536,2 tỷ đồng, bằng 26,1%; thành phố Hồ Chí Minh 1,44 nghìn tỷ đồng, bằng 18%.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến 20/4/2006 có 199 dự án được cấp giấy phép với số vốn đăng ký 1,91 tỷ USD, tăng 12,4% về số dự án và tăng 31,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2005. Ngoài ra, trong 4 tháng qua còn có 117 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 359 triệu USD, nâng tổng số vốn được cấp mới và tăng thêm lên 2,3 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ 2005. Từ đầu năm đến nay đã có 26 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp phép đầu tư tại Việt Nam, trong đó Hồng Công (Trung Quốc) là đối tác dẫn đầu về vốn đăng ký với 613 triệu USD, chiếm 32% tổng số vốn; Hàn Quốc 417 triệu USD, chiếm 21,8%; Nhật Bản 310 triệu USD, chiếm 16,2%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài 4 tháng đầu năm nay tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng với 145 dự án và 1238 triệu USD (chiếm 72,9% số dự án và 64,7% vốn đăng ký);  khu vực dịch vụ 45 dự án và 668 triệu USD; khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản 9 dự án và 7,6 triệu USD. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài trong 4 tháng đầu năm với 54 dự  án và 632 triệu USD, chiếm 27,1% số dự án và 33% số vốn đăng ký của cả nước; tiếp đến là Hà Nội với 25 dự án và 478 triệu USD; Bà Rịa – Vũng Tàu 311 triệu USD; Hải Dương 119 triệu USD…

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế 4 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 175,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng trên 11%). Trong tổng mức, kinh tế Nhà nước đạt 21,2 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; kinh tế tập thể 1,8 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4%; kinh tế tư nhân 37 nghìn tỷ đồng, tăng 24,6% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 4,5 nghìn tỷ đồng, tăng 21,8%. Hai ngành thương nghiệp và khách sạn, nhà hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng mức với tỷ trọng lần lượt là 82% và 11,8% và có tốc độ tăng so cùng kỳ năm trước là 18,7% và 20,5%; ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 5,5%, tăng 27,9%; du lịch chiếm 0,7%, tăng 30,5%. Hai thành phố lớn là Hà Nội có tổng mức đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9% và tăng 25,2% so với 4 tháng đầu năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 39,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,6% và tăng 18,9%.

Giá tiêu dùng tháng 4/2006 so với tháng trước tăng 0,2%, trong đó giá của hầu hết các nhóm đều tăng từ 0,1% đến 0,4%: nhóm lương thực, thực phẩm tăng 0,2%; thiết bị và đồ dùng gia đình có mức tăng cao nhất 0,4%. Giá lương thực tháng 4/2006 tăng 0,3% và tăng ở hầu hết các vùng trong cả nước với mức giao động từ 0,1% đến 0,8% (riêng giá lương thực của vùng Duyên hải miền Trung giảm 0,7% và Tây Nguyên giảm 0,2%); giá thực phẩm tăng 0,2%, chủ yếu do giá thực phẩm ở các thành phố lớn tăng: Hà Nội tăng 0,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,6% và Đà Nẵng tăng 1,3%; giá bưu chính viễn thông ổn định và không tăng trong tháng 4/2006. Nhóm hàng có mức giá giảm so với tháng trước là nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,3%; văn hoá, thể thao, giải trí giảm 0,2%.

So với tháng 12 năm 2005 giá tiêu dùng tháng 4/2006 tăng 3%, trong đó giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng, riêng giá lương thực thực phẩm tăng 4,2%. Giá tiêu dùng so với tháng 4 năm trước tăng 7,3%. Tuy nhiên, giá xăng dầu và một số nguyên vật liệu cho sản xuất vẫn tiếp tục tăng sẽ ảnh hưởng đến tăng giá tiêu dùng và kiểm  soát chặt chẽ giá vẫn cần được quan tâm thường xuyên.

Giá vàng tăng mạnh, giá vàng tháng 4/2006 tăng 4,8% so với tháng trước và tăng 16,9% so với tháng 12 năm trước, do giá vàng thế giới liên tục tăng cao do  tăng nhu cầu mua vàng trang sức và tăng dự trữ quốc gia của nhiều nước; đồng thời có một phần bị tác động do tâm lý tiêu dùng mua vàng tích trữ của dân cư trên thị trường trong nước. Giá đô la Mỹ tăng nhẹ so với tháng trước cũng như so với tháng 12 năm trước, cả hai chỉ số đều tăng ở mức (+0,1%). Nếu so với tháng 4/2005 thì giá đô la Mỹ tăng 0,8%.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương 4 tháng ước tính đạt 24,44 tỷ USD, tăng 15,2% so với 4 tháng đầu năm 2005, trong đó xuất khẩu 12,11 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu 12,33 tỷ USD, tăng 6,9%. Do tốc độ nhập khẩu 4 tháng tăng chậm hơn tốc độ xuất khẩu 18,2 điểm phần trăm, nên nhập siêu chỉ còn 222 triệu USD, bằng 1,8% trị giá xuất khẩu, thấp so với tỷ lệ tương ứng 19% của 4 tháng đầu năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2006 tăng khá, ước tính đạt 12,11 tỷ USD, bằng 32,1% so kế hoạch năm và tăng 25,1% so cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô 9,48 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,19 tỷ USD, tăng 22,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,29 tỷ USD, tăng 35,9%.

Kim ngạch xuất khẩu của 20 mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu dầu thô đứng đầu về kim ngạch, ước đạt 2,63 tỷ USD, tăng 15,6% so cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá dầu thô xuất khẩu bình quân trong 4 tháng đã tăng 26,8% so với cùng kỳ, lên 483 USD/tấn, trong khi lượng dầu thô xuất khẩu giảm 8,9%. Xuất khẩu than đá vẫn ở mức cao, lượng xuất khẩu 4 tháng đã đạt 62,1% kế hoạch cả năm và tăng 70,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với kim ngạch 280 triệu USD, tăng 47,8% so cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng khá cao. Xuất khẩu hàng dệt may 4 tháng đầu năm nay đạt 1,74 tỷ USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ, do xuất khẩu sang các thị trường lớn trong quí I/2006 đạt tốc độ cao như: xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 41,8%; Nhật Bản tăng 3,7%; Anh tăng 97,4%… Xuất khẩu giày dép tháng 4 bắt đầu có sự giảm sút do xuất khẩu sang thị trường EU đã bị áp dụng thuế từ ngày 7/4/2006 nên tính chung 4 tháng kim ngạch đạt 1,07 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ, thấp hơn tốc độ tăng của quý I. Hàng điện tử tăng khá, đạt 540 triệu USD, tăng 18,1%. Hàng thuỷ sản đứng thứ 4 về kim ngạch xuất khẩu đạt, 845 triệu USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ và hoàn thành 27,3% kế hoạch năm 2006.

Xuất khẩu hàng nông sản diễn biến theo các chiều hướng khác nhau: xuất khẩu gạo giảm cả về lượng và kim ngạch: lượng đạt 1,7 triệu tấn, giảm 7,5% và kim ngạch giảm 9%; cao su có sức tăng cao nhất trong các mặt hàng chủ yếu, kim ngạch 349 triệu USD, tăng 116% và lượng xuất khẩu 209 ngàn tấn, tăng 52,3%, riêng xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc 4 tháng 148 ngàn tấn, chiếm 70,8% lượng xuất khẩu; hạt điều giảm 5,9% về kim ngạch, trong khi lượng tăng 18,9%; xuất khẩu lạc chỉ bằng 28,1% lượng xuất cùng kỳ và kim ngạch bằng 31,7%.

Kim ngạch nhập khẩu 4 tháng/2006 ước tính đạt 12,33 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước và đạt 29% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 7,55 tỷ USD, chiếm 61,2% tổng kim ngạch, tăng 0,3%, tương đối thấp so với mức tăng kim ngạch chung và thấp xa so với mức tăng 19,3% của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nhập khẩu của khu vực trong nước tăng chậm là vấn đề cần quan tâm, vì sản xuất trong nước thường phải nhập khẩu nhiều vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị. Trong khi tăng nhập khẩu ở mức thấp, trong đó đã hàm chứa yếu tố tăng giá thì lượng nhập một số vật tư nguyên liệu không đạt mức của cùng kỳ năm trước, sẽ ảnh hưởng đến sản xuất những tháng tiếp theo.

Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu 4 tháng đầu năm nay tăng 22,4% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá tăng, trong khi lượng nhập khẩu giảm 10,3%; nhập khẩu máy móc, thiết bị 1,9 tỷ USD, tăng 14,2%; vải tăng 28,7%; hàng điện tử tăng 15,9%; hoá chất tăng 17,7%. Bên cạnh đó, nhập khẩu một số mặt hàng vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước giảm về cả lượng và trị giá như: sắt thép lượng giảm 14,9% và kim ngạch giảm 30,1%, trong đó phôi thép lượng nhập giảm 31%, kim ngạch giảm 39,5%; phân urê giảm 8,2% về lượng và giảm 12,3% về kim ngạch; lúa mỳ lượng giảm 9,1%, kim ngạch giảm 20%; nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 5,4% kim ngạch. Hai mặt hàng nhập khẩu là ô tô và xe máy giảm đáng kể về trị giá nhập khẩu, trong đó ô tô giảm 54,9% và xe máy giảm 8,6%. Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc giảm 29,5% về lượng và 14,3% về trị giá do Chính phủ đã cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng từ tháng 5/2006.

Vận chuyển hành khách 4 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 430,8 triệu lượt hành khách và 18 tỷ lượt hành khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,9% về lượt hành khách và tăng 9,4% về lượt hành khách.km. Vận chuyển hành khách bằng đường sắt giảm cả về khối lượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển, giảm 12% và giảm 7,3% nhưng sẽ tăng trở lại vào dịp  lễ 30/4 và 1/5. Vận tải đường hàng không tiếp tục tăng cao, tăng 10,6% về khối lượng vận chuyển và tăng 19,5% về khối lượng luân chuyển; đường bộ tăng 8,9% và tăng 8,8%; đường biển tăng 6,5% và tăng 8,3%; đường sông tăng 2,8% và tăng 3,4%. Dự kiến trong những ngày cuối tháng lượng hành khách vận chuyển sẽ tăng mạnh. Các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp để đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp Lễ 30/4 và 1/5 sắp tới như: tăng cường về số lượng và chất lượng phương tiện; có kế hoạch dự phòng phương tiện phục vụ kịp thời khi có nhu cầu tăng đột biến; tăng cường hệ thống thông tin công cộng tại các bến xe, nhà ga và sân bay. Đặc biệt, ngành đường sắt tăng thêm tuyến, nhất là các tuyến du lịch đường ngắn phía Nam và nối thêm các toa tàu cho một số tuyến tàu phục vụ nhu cầu đi du lịch ngắn ngày của hành khách.

Vận chuyển hàng hoá 4 tháng đầu năm ước tính đạt 112,1 triệu tấn và 27,6 tỷ tấn km, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,9% về tấn và tăng 7,8% về tấn.km. Do sản xuất ổn định và thời tiết thuận lợi nên vận chuyển hàng hoá ở hầu hết các ngành tiếp tục tăng: vận chuyển hàng hoá bằng đường biển tăng 6% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,1% về khối lượng luân chuyển; đường bộ tăng 8,9% và tăng 9,1%; đường sắt tăng 1,6% và tăng 20,3% (chủ yếu do  lượng hàng hoá vận chuyển các tuyến đường dài được tăng cường, luồng hàng vận chuyển Bắc – Nam luôn ổn định); đường sông tăng 6,2% và tăng 6,2% và hàng không tăng 3,7% và tăng 8,8%.

Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 1286,8 nghìn lượt khách, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích công việc tăng 34,3%; du lịch nghỉ ngơi tăng 16,5%; thăm thân nhân tăng 14,6%; riêng khách đến với mục đích khác giảm 5,6%. Số khách đến từ các nước có trên 100 nghìn lượt khách đến nước ta trong 4 tháng qua vẫn tiếp tục tăng mạnh: Khách đến từ Hàn Quốc đạt 154,9 nghìn lượt người, tăng 53,3%; từ Nhật 118,6 nghìn lượt người, tăng 34%; từ Mỹ 136,9 nghìn lượt người, tăng 26,5%. Trong tháng 4/2006 đã diễn ra tuần lễ Festival Biển Bà Rịa-Vũng Tàu thu hút được nhiều du khách, hầu hết khách đến từ các nước Đông Nam Á đều tăng: khách đến từ Cam-pu-chia đạt 89,3 nghìn lượt người, tăng 59,7%; từ Thái Lan 35,6 nghìn lượt người, tăng 54,8%; từ Xin-ga-po 31,2 nghìn lượt người, tăng 48%; từ Ma-lai-xi-a 27,9 nghìn lượt người, tăng 33,9%. Số khách đến từ CHND Trung Hoa vẫn giữ vị trí dẫn đầu, với 210,3 nghìn lượt người, tiếp tục giảm 15,1% so với cùng kỳ năm trước.

Bưu chính, viễn thông: Số thuê bao điện thoại mới trong tháng 4/2006 ước tính đạt 600 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao trong 4 tháng đầu năm nay lên 2,3 triệu thuê bao và số thuê bao trên cả nước tính đến cuối tháng 4/2006 khoảng 17,7 triệu thuê bao trong đó Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông 14,8 triệu thuê bao, chiếm 83,8% tổng số thuê bao của toàn ngành. Dự tính trong những tháng tới số thuê bao điện thoại tiếp tục tăng mạnh do một số nguyên nhân như: đầu tháng 3/2006 Tổng Công ty Điện lực đã chính thức công bố thử nghiệm dịch vụ viễn thông di động E- Mobile trên toàn quốc; Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông đang thực hiện giảm giá cước hai  mạng Vinaphone và Mobilephone; công ty Viễn thông Quân đội Vietel cũng đã trình Bộ Bưu chính Viễn thông phương án tính cước mới…

Thị trường Internet liên tục phát triển cả về số thuê bao và loại hình dịch vụ mới. Số thuê bao Internet của toàn mạng ước tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2006 có thêm hơn 659 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao Internet của toàn mạng lên 3,6 triệu thuê bao.

Tổng doanh thu bưu chính viễn thông 4 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 10,9 nghìn tỷ đồng, trong đó doanh thu viễn thông 9,9 nghìn tỷ đồng ; doanh thu bưu chính 440 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông khác và thu khác 493 tỷ đồng.

  1. Thu chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 4 tháng đầu năm 2006 ước tính đạt 32,6% dự toán cả năm và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Các khoản thu nội địa đạt 32,1% dự toán cả năm, trong đó thu từ kinh tế quốc doanh đạt 33,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 35,7%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 41,4%… Bên cạnh đó một số khoản thu còn chậm so với tiến độ chung như: thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) mới đạt 26,9%; các khoản thu về nhà đất đạt 27,1%. Thu từ dầu thô đạt 34,1% dự toán cả năm. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 31,3%, trong đó thuế xuất, nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu đạt 35%; thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu đạt 30,3%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 4 tháng ước tính đạt 30,6% dự toán cả năm, trong đó chi cho đầu tư phát triển đạt 28,7% (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 28,3%); chi thường xuyên đạt 33,2%; chi trả nợ, viện trợ đạt 33,4%. Các khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đạt tỷ lệ khá so với dự toán cả năm như: Chi giáo dục và đào tạo đạt 31,8%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội đạt 34,1%; chi cho y tế đạt 37,9%; chi quản lý hành chính đạt 34,7%… Bội chi ngân sách 4 tháng đầu năm ước tính bằng 26,1% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 70,8% và vay nước ngoài  29,2%.

  1. Một số vấn đề xã hội

Thiếu đói trong nông dân: Trong tháng có 127,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 561,3 nghìn nhân khẩu, chiếm 1% tổng số hộ và số nhân khẩu nông nghiệp của cả nước. Mặc dù số hộ thiếu đói trong tháng tăng 6,1% so với tháng trước và số nhân khẩu thiếu đói tăng 7,1%, nhưng so với thời điểm cuối tháng 4/2005, số hộ thiếu đói đã giảm 27,7% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 31,8%. Để hỗ trợ các hộ thiếu đói khắc phục khó khăn, từ đầu năm đến nay các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân đã trợ giúp 4,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 4 tỷ đồng.

Tình hình dịch bệnh: Trong tháng 4/2006 có 3,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 1,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết và 3,5 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút. Như vậy, từ đầu năm đến nay đã có 15,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét và 8,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, trong đó 6 người đã tử vong. So với cùng kỳ năm trước, số người mắc bệnh sốt rét giảm 11,9%; trong khi số người mắc bệnh sốt xuất huyết lại tăng 46,5%. Số mắc bệnh viêm gan vi rút là 1,9 nghìn trường hợp.

Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong tháng 4/2006 đã phát hiện thêm 1143 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 228 bệnh nhân AIDS. Tính đến 20/4/2006, tổng số người nhiễm HIV trong cả nước là 106,8 nghìn người, trong đó có gần 18 nghìn bệnh nhân AIDS và 10,4 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng 4/2006, tại Yên Bái, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Phú Yên, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tây, Hà Giang, Bến Tre, Bình Dương, Đồng Nai, Đắk Nông, Đắk Lắk đã xảy ra 15 vụ ngộ độc thực phẩm với 697 trường hợp bị ngộ độc, nâng tổng số trường hợp bị ngộ độc thực phẩm tính từ đầu năm đến nay lên 1,9 nghìn trường hợp, trong đó 22 người tử vong.

Tai nạn giao thông: Trong tháng 3/2006 (từ 22/2 đến 21/3), trên phạm vi cả nước đã xảy ra 1173 vụ tai nạn giao thông, làm chết 986 người và bị thương 826 người. So với tháng 2/2006, tai nạn giao thông đã giảm cả về số vụ và số người bị thiệt hại: Số vụ tai nạn giảm 0,8%; số người chết giảm 4,3%; số người bị thương giảm 10,3%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, tai nạn giao thông lại tăng thêm 104 vụ và số người chết tăng 160 người.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2006, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 3,9 nghìn vụ tai nạn, làm chết 3,3 nghìn người và bị thương 3,1 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 3,2% và số người bị thương giảm 14,3%; riêng số người chết tăng 10,2%. Bình quân một ngày trong 3 tháng đầu năm nay xảy ra  43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 37 người và làm bị thương 34 người. Tai nạn giao thông trong 3 tháng qua vẫn xảy ra chủ yếu trên đường bộ, chiếm tới 96,4% số vụ; 97,2% số người chết và 98,5% số người bị thương.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ