Điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) hàng quý bao gồm 6.500 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 6.600 doanh nghiệp ngành xây dựng được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành chế biến, chế tạo và xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng số doanh nghiệp thực tế trả lời trong kỳ điều tra quý IV/2020 đạt xấp xỉ 90,0%. Báo cáo gồm hai phần:
“Phần I: Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo”, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về : (1) Biến động của các yếu tố đầu vào (số lượng đơn đặt hàng; sử dụng lao động; chi phí sản xuất; sử dụng công suất máy móc, thiết bị); (2) Dự kiến kết quả đầu ra (khối lượng sản xuất; giá bán bình quân của một sản phẩm); (3) Biến động về tồn kho (tồn kho thành phẩm; tồn kho nguyên vật liệu) và (4) Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh.
“Phần II: Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành xây dựng”, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về: (1) Biến động của các yếu tố đầu vào (sử dụng lao động, tổng chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công); (2) Hỗ trợ chính sách và tiếp cận vốn vay; (3) Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh.
PHẦN I. XU HƯỚNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO
1. Biến động của các yếu tố đầu vào
1.1. Số lượng đơn đặt hàng
Có 76,5% số doanh nghiệp đánh giá số lượng đơn hàng mới quý IV/2020 tăng và giữ nguyên so với quý III/2020 (37,6% doanh nghiệp đánh giá tăng và 38,9% giữ nguyên), 23,5% doanh nghiệp đánh giá số lượng đơn hàng mới giảm[1]. Dự báo số lượng đơn hàng mới quý I/2021 so với quý IV/2020, 82,5% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (40,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 42,2% giữ nguyên), 17,5% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn hàng mới giảm. Số lượng đơn đặt hàng mới được dự báo khả quan hơn ở 6 tháng đầu năm 2021 so với 6 tháng cuối năm 2020 với 86,8% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (49,9% doanh nghiệp dự báo tăng và 36,9% giữ nguyên).
Theo loại hình doanh nghiệp: Số lượng đơn đặt hàng quý IV/2020 so với quý III/2020 của khu vực FDI khả quan nhất với 78,6% doanh nghiệp nhận định tăng và giữ nguyên (40,7% tăng, 37,9% giữ nguyên), khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 75,9% (36,9% tăng, 39,0% giữ nguyên) và khu vực doanh nghiệp nhà nước với 72,1% (30,7% tăng, 41,4% giữ nguyên). Quý I/2021 so với quý IV/2020, có 84,6% số doanh nghiệp khu vực FDI dự báo đơn hàng mới tăng và giữ nguyên (41,4% tăng), trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 81,8% (40,4% tăng) và khu vực doanh nghiệp nhà nước là 80,2% (34,0% tăng). Tỷ lệ các doanh nghiệp dự báo đơn hàng mới tăng và giữ nguyên khả quan hơn ở 6 tháng đầu năm 2021 so với 6 tháng cuối năm 2020 cao nhất là khu vực FDI 87,3%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 86,6% và khu vực doanh nghiệp nhà nước 86,3%.
Các ngành có tỷ lệ dự báo cao về triển vọng đơn hàng mới quý I/2021 tăng so quý IV/2020 lần lượt gồm: Sản xuất xe có động cơ 54,0%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 53,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 51,7%; sản xuất thiết bị điện 47,4%; sản xuất kim loại 46,8%…
Đơn đặt hàng xuất khẩu
Có 74,1% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn hàng xuất khẩu mới quý IV/2020 tăng và giữ nguyên so với quý III/2020 (31,8% doanh nghiệp đánh giá tăng và 42,3% doanh nghiệp giữ nguyên), trong khi tỷ lệ doanh nghiệp trả lời có đơn hàng xuất khẩu mới giảm là 25,9%[2]. Các doanh nghiệp dự báo số lượng đơn hàng xuất khẩu mới quý I/2021 khả quan hơn với 81,2% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên so với quý IV/2020 (số doanh nghiệp dự báo tăng là 33,8% và 47,4% doanh nghiệp giữ nguyên), 18,8% doanh nghiệp dự báo giảm. Có 86,3% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng đầu năm 2021 tăng và giữ nguyên so với 6 tháng cuối năm 2020.
Theo loại hình doanh nghiệp: Đơn hàng xuất khẩu quý IV/2020 so với quý III/2020 khu vực FDI có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tăng và giữ nguyên cao nhất với 76,6%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 72,2%, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 70,4%. Dự báo về đơn hàng xuất khẩu quý I/2021 so với quý IV/2020 khu vực FDI có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo khả quan nhất với 83,0% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên, khu vực doanh nghiệp nhà nước 79,9% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với tỷ lệ 79,6%. Xu hướng dự báo đơn hàng xuất khẩu tăng và giữ nguyên cao hơn ở 6 tháng đầu năm 2021 so với 6 tháng cuối năm 2020 đều tăng ở cả ba khu vực, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 88,9%; khu vực FDI với 87,1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 85,3%.
Một số ngành có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo đơn hàng xuất khẩu quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 như: Sản xuất xe có động cơ 60,0%; sản xuất các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 46,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 46,8%; sản xuất kim loại 44,8%; sản xuất thiết bị điện 41,9%…
1.2. Sử dụng lao động
Có 83,9% doanh nghiệp nhận định số lượng lao động quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng và giữ nguyên (14,7% doanh nghiệp nhận định tăng và 69,2% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên), 16,1% doanh nghiệp nhận định giảm[3]. Số lượng lao động có xu hướng tăng ở quý I/2021 so với quý IV/2020 khả quan hơn với 88,2% số doanh nghiệp dự kiến số lao động tăng và giữ nguyên (16,4% doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng và 71,8% dự kiến ổn định), 11,8% doanh nghiệp dự kiến quy mô lao động giảm. Xu hướng thu hút thêm lao động có chiều hướng tăng ở 6 tháng đầu năm 2021 so với 6 tháng cuối năm 2020 với 89,0% số doanh nghiệp dự kiến quy mô lao động tăng và giữ nguyên.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực FDI luôn có xu hướng thu hút thêm lao động đạt tỷ lệ cao nhất với 21,4% doanh nghiệp nhận định số lượng lao động bình quân tăng trong quý IV/2020 so với quý III/2020, tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 12,4% và khu vực doanh nghiệp nhà nước là 8,5%. Xu hướng thu hút thêm lao động ở quý I/2021 so với quý IV/2020 cao nhất với 22,0% của khu vực FDI 14,6% của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và 11,0% của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Xu hướng thu hút thêm lao động của ba khu vực có chiều hướng tăng khả quan hơn ở 6 tháng đầu năm 2021. Dự báo số lượng lao động bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng so với 6 tháng cuối năm 2020 ở khu vực FDI 34,2%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 27,2% và khu vực doanh nghiệp nhà nước 19,2%.
Các ngành có dự báo số lượng lao động quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 bao gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 33,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 29,3%; sản xuất trang phục 22,0%; sản xuất thiết bị điện 21,4%; Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị 20,4%…
1.3. Chi phí sản xuất
Có 91,9% số doanh nghiệp đánh giá chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm chính quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng và giữ nguyên (26,5% doanh nghiệp đánh giá tăng và 65,4% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên), 8,1% doanh nghiệp đánh giá giảm[4]. Dự báo quý I/2021 so với quý IV/2020 có 90,8% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm chính tăng và giữ nguyên (21,1% doanh nghiệp dự báo tăng và 69,7% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên), 9,2% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất giảm.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực FDI có 30,6% doanh nghiệp đánh giá chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý IV/2020 tăng so với quý III/2020, khu vực doanh nghiệp nhà nước 25,7% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 24,9%. Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất quý I/2021 so với quý IV/2020 có 22,8% doanh nghiệp ở khu vực doanh nghiệp nhà nước dự báo tăng chi phí, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực FDI với tỷ lệ lần lượt là 20,3% và 22,6%.
Các ngành dự báo chi phí sản xuất quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 nhiều nhất gồm: Sản xuất máy vi tính và sản phẩm quang học 26,4%; sản xuất chế biến thực phẩm 24,7%; sản xuất trang phục 23,9%…
1.4. Sử dụng công suất máy móc, thiết bị
Tỷ lệ sử dụng công suất máy móc thiết bị bình quân được các doanh nghiệp đánh giá qua mỗi quý. Trong quý IV/2020, tỷ lệ sử dụng công suất máy móc thiết bị bình quân của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo là 75,5%[5]. Trong đó, khu vực FDI có tỷ lệ sử dụng công suất máy móc thiết bị bình quân cao nhất với 80,4%, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 76,8% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 73,4%. Những ngành có hệ số sử dụng công suất máy móc thiết bị quý IV/2020 cao trên 78% tiêu biểu như: Sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất thiết bị điện; sản xuất xe có động cơ;… Trong số những doanh nghiệp tham gia đánh giá tỷ lệ công suất máy móc thiết bị quý IV/2020, có 49,1% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng trong khoảng từ 70% đến dưới 90%; 27,0% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 90% đến 100%; 17,6% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 50 đến dưới 70% và 6,3% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng dưới 50%.
2. Dự kiến kết quả đầu ra
2.1. Khối lượng sản xuất
Quý IV/2020 có 75,6% doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên so với quý III/2020 (42,5% doanh nghiệp đánh giá tăng và 33,1% doanh nghiệp giữ nguyên), 24,4% doanh nghiệp đánh giá giảm[6]. Khối lượng sản xuất của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo quý I/2021 so với quý IV/2020, có 81,5% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (43,0% doanh nghiệp dự báo tăng và 38,5% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên), 18,5% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm. Cùng với xu hướng dự báo tăng của quý I/2021, 86,3% doanh nghiệp cho rằng 6 tháng đầu năm 2021 khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên so với 6 tháng cuối năm 2020 (54,0% doanh nghiệp dự báo tăng và 32,3% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên).
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (khu vực FDI) khả quan nhất với 77,2% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng và giữ nguyên (45,4% doanh nghiệp cho rằng tăng và 31,8% giữ nguyên), khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 75,5% (41,8% cho rằng tăng và 33,7% giữ nguyên), khu vực doanh nghiệp nhà nước có 69,5% (36,3% cho rằng tăng và 33,2% giữ nguyên). Quý I/2021 so với quý IV/2020, khu vực FDI có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo về khối lượng sản xuất khả quan nhất với 83,4% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 80,9% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 79,7% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên. Dự báo 6 tháng đầu năm 2021 so với 6 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên khu vực FDI là 87,2%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 86,0%, thấp nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 85,6%.
Các ngành có dự báo khả quan về khối lượng sản xuất quý I/2021 tăng so với quý IV/2020: Cao nhất là ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học với tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tăng là 53,5%; sản xuất xe có động cơ 53,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 51,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 50,3%; sản xuất kim loại 48,0%…
2.2. Giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm
Có 90,0% doanh nghiệp nhận định giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm chủ yếu quý IV/2020 tăng và giữ nguyên so với quý III/2020 (16,6% doanh nghiệp nhận định tăng và 73,4% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên giá bình quân), 10,0% doanh nghiệp cho rằng giảm[7]. Tỷ lệ này ở quý I/2021 so với quý IV/2020 là 91,8% (16,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 75,5% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên), có 8,2% doanh nghiệp dự báo giá bán bình quân giảm.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực FDI có tỷ lệ đánh giá giá bán bình quân một sản phẩm quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng 19,3%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 15,7%; khu vực doanh nghiệp nhà nước với 14,0%. Tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng giá bán bình quân giảm cao nhất ở khu vực doanh nghiệp nhà nước với 12,7%, khu vực FDI 9,9%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 9,8%. Dự báo giá bán bình quân quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 cao nhất là khu vực FDI với 17,5%, tiếp đến khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 15,9%, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 13,8%.
Các ngành dự báo về giá bán bình quân quý I/2021 giảm nhiều so với quý IV/2020 gồm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác và sản xuất chế biến thực phẩm cùng là 10,6%; sản xuất máy móc thiết bị chưa được phân vào đâu 10,0%…
3. Biến động về tồn kho
3.1. Tồn kho thành phẩm
Có 19,5% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng thành phẩm tồn kho quý IV/2020 tăng so với quý III/2020, 47,5% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên và 33,0% đánh giá giảm[8]. Dự kiến quý I/2021 so với quý IV/2020, 13,9% doanh nghiệp dự báo tăng, 53,3% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên khối lượng thành phẩm tồn kho, 32,8% doanh nghiệp dự báo giảm khối lượng thành phẩm tồn kho.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực doanh nghiệp FDI có 25,3% doanh nghiệp đánh giá khối lượng tồn thành phẩm quý IV/2020 so với quý III/2020, khu vực doanh nghiệp nhà nước có 17,8% doanh nghiệp nhận định tăng và khu vực FDI là 17,4%. Quý I/2021 so với quý IV/2020, khu vực FDI có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tăng khối lượng tồn kho thành phẩm với 18,2%, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 12,3%, khu vực doanh nghiệp nhà nước có 12,1% doanh nghiệp dự báo tăng khối lượng tồn kho.
Các ngành có dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 22,5%; sản xuất thiết bị điện 21,4%; sản xuất đồ uống 18,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 17,2%…
3.2. Tồn kho nguyên vật liệu
Có 68,3% doanh nghiệp đánh giá tồn kho nguyên vật liệu quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng và giữ nguyên (18,0% doanh nghiệp nhận định tăng và 50,3% doanh nghiệp nhận định giảm), 31,7% doanh nghiệp đánh giá tăng[9]. Cùng xu hướng đó, quý I/2021 so với quý IV/2020 có 69,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng và giữ nguyên (14,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 54,9% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên), 30,8% doanh nghiệp dự kiến giảm khối lượng tồn kho nguyên vật liệu.
Theo loại hình doanh nghiệp: Có 71,0% doanh nghiệp thuộc khu vực FDI đánh giá tồn kho nguyên vật liệu quý IV/2020 so với quý III/2020 tăng và giữ nguyên, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước 67,8%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 67,3%. Dự báo tồn kho nguyên vật liệu quý I/2021 tăng so với quý IV/2020 cao nhất là khu vực FDI với 17,6%, tiếp đến khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 13,2%, khu vực doanh nghiệp nhà nước với 11,4%.
Các ngành có tỷ lệ dự báo tồn kho nguyên vật liệu quý I/2021 so với quý IV/2020 tăng nhiều nhất gồm: Sản xuất thiết bị điện 23,1%; sản xuất, chế biến xe có động cơ 19,0%; sản xuất máy vi tính và sản phẩm quang học 17,8%…
4. Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh
Có 75,3% số doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo cho rằng tình hình SXKD quý IV/2020 so với quý III/2020 của doanh nghiệp tốt lên và giữ ổn định (40,6% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và 34,7% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định), 24,7% doanh nghiệp cho rằng SXKD khó khăn hơn[10]. Trong đó, khu vực FDI có 76,5% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và giữ ổn định (42,8% nhận định tốt lên và 33,7% giữ ổn định). Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ 75,3% (40,0% doanh nghiệp cho rằng tốt lên và 35,3% doanh nghiệp giữ ổn định), khu vực doanh nghiệp nhà nước có 70,0% (37,2% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và 32,8% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định).
Dự báo quý I/2021 so với quý IV/2020 với 81,0% số doanh nghiệp dự báo tình hình SXKD của doanh nghiệp tốt lên và giữ ổn định (42,8% doanh nghiệp dự báo tốt lên và 38,2% giữ ổn định), 19,0% doanh nghiệp dự báo tình hình SXKD khó khăn hơn. Khu vực FDI có tỷ lệ dự báo tình hình SXKD tốt lên và giữ nguyên ở quý I/2021 so với quý IV/2020 cao nhất với 83,0% (44,6% doanh nghiệp dự báo tốt lên và 38,4% doanh nghiệp giữ ổn định), khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 80,5% (42,5% doanh nghiệp dự báo tốt lên và 38,0% doanh nghiệp giữ ổn định) và khu vực doanh nghiệp nhà nước với 77,7% (37,5% doanh nghiệp dự báo tốt lên và 40,2% doanh nghiệp giữ ổn định).
(1) Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD: Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao vẫn là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp khi có tới 53,6% doanh nghiệp cho rằng yếu tố này ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp; 49,8% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp; 33,4% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 27,6% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 25,6% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 25,3% doanh nghiệp không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 24,7% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 20,7% doanh nghiệp đánh giá do thiết bị công nghệ lạc hậu; 19,9% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 12,0% doanh nghiệp đánh giá do chính sách pháp luật của nhà nước; 6,9% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận vốn vay ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp.
(2) Đơn đặt hàng mới: Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá đơn hàng mới quý IV/2020 so với quý III/2020 với chỉ số cân bằng là 14,1% (37,6% doanh nghiệp nhận định tăng và 23,5% doanh nghiệp nhận định giảm). Trong đó chỉ số cân bằng của khu vực FDI đạt cao nhất với 19,3%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 12,8%, thấp nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,9%. Chỉ số cân bằng quý I/2021 so với quý IV/2020 là 22,8% (40,3% doanh nghiệp dự báo tăng đơn hàng và 17,5% doanh nghiệp dự bảo giảm), khu vực FDI có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 26,0%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 22,2% và khu vực doanh nghiệp nhà nước 14,2%.
(3) Số lượng lao động: Chỉ số cân bằng về việc tăng và giảm quy mô lao động ở quý IV/2020 so với quý III/2020 là -1,4% (14,7% doanh nghiệp đánh giá tăng và 16,1% doanh nghiệp nhận định giảm), khu vực FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với 4,8%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với -3,3% và khu vực doanh nghiệp nhà nước -10,3%. Biến động lao động có xu hướng khả quan tăng ở quý I/2021 so với quý IV/2020 với chỉ số cân bằng là 4,6% (16,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 11,8% doanh nghiệp dự báo giảm), tăng cao nhất vẫn là khu vực FDI với 11,4%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 2,4% và khu vực doanh nghiệp nhà nước -1,7%.
(4) Khối lượng sản xuất: Chỉ số cân bằng (thể hiện số phần trăm doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng trừ đi số phần trăm doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm) ở quý IV/2020 so với quý III/2020 là 18,1% (42,5% doanh nghiệp cho rằng tăng và 24,4% doanh nghiệp cho rằng giảm). Trong đó, khu vực FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với 22,6%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 17,3% và doanh nghiệp nhà nước với 5,8%. Chỉ số cân bằng quý I/2021 so với quý IV/2020 là 24,5% (43,0% doanh nghiệp dự báo tăng và 18,5% doanh nghiệp dự báo giảm), trong đó chỉ số cân bằng của khu vực FDI đạt cao nhất với 27,8%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 23,8% và khu vực doanh nghiệp nhà nước với 16,8%.
(5) Tồn kho thành phẩm: Chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm quý IV/2020 so với quý III/2020 là -13,5% (33,0% doanh nghiệp cho rằng tồn kho thành phẩm giảm và 19,5% doanh nghiệp nhận định tăng), khu vực FDI với chỉ số cân bằng -3,8%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -17,0%, khu vực doanh nghiệp nhà nước -17,5%. Chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm quý I/2021 so với quý IV/2020 là -18,9% (32,8% doanh nghiệp dự báo giảm và 13,9% doanh nghiệp dự báo tăng), trong đó chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -22,2%, khu vực doanh nghiệp nhà nước -20,1% và khu vực FDI -10,5%.
Xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo quý cuối năm 2020 khả quan hơn so với quý đầu năm. Quý IV năm 2020 có số lượng doanh nghiệp đánh giá tổng quan xu hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp so với quý trước cao nhất với chỉ số cân bằng 15,9% (40,6% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn và chỉ có 24,7% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn). Đánh giá về khối lượng sản xuất, hầu hết các doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất quý IV/2020 tăng cao hơn các quý trước, cụ thể, chỉ số cân bằng về khối lượng sản xuất quý IV so với quý III/2020 là 18,1% (có tới 42,5% doanh nghiệp dự báo tăng trong khi chỉ có 24,4% doanh nghiệp dự báo giảm), cao hơn mức 6,0% dự báo của quý III so quý II/2020. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá đơn đặt hàng mới tăng khả quan hơn ở quý IV/2020 so quý III/2020 với chỉ số cân bằng 14,1%. Về tồn kho thành phẩm, doanh nghiệp luôn có xu hướng giảm khối lượng tồn kho khi tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá giảm tồn kho luôn lớn hơn tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tăng khối lượng tồn kho, quý IV/2020 có chỉ số cân bằng thấp so với quý III/2020 với -13,5%. Về số lượng lao động, thu hút lao động của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo tăng và giữ nguyên cao nhất ở quý IV/2020 với chỉ số cân bằng so quý III/2020 là -1,4%.
PHẦN II. XU HƯỚNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGÀNH XÂY DỰNG
1. Biến động của các yếu tố đầu vào
1.1. Sử dụng lao động
Kết quả điều tra cho thấy, tổng số lao động quý IV/2020 giảm 16,8% so với cùng kỳ, trong đó: lao động thường xuyên giảm 9,1% so với cùng kỳ và chiếm 46,7% tổng số lao động quý IV/2020; lao động thời vụ giảm 22,6% so với cùng kỳ và chiếm 53,3% tổng số lao động quý IV/2020.
Theo kết quả khảo sát quý IV/2020, có 74,8% doanh nghiệp nhận định lao động trong doanh nghiệp xây dựng tăng và không đổi (21,2% tăng và 53,6% không đổi) so với quý III/2020[11], 25,2% nhận định giảm. Khu vực doanh nghiệp nhà nước có 78,6% nhận định lao động tăng và không đổi (25,0% tăng và 53,6% không đổi), 21,4% giảm; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 75,0% nhận định tăng và không đổi (21,9% tăng và 53,1% không đổi), có 25,0% nhận định giảm; khu vực doanh nghiệp FDI là 72,0% (13,0% tăng, 59,0% không đổi), 28,0% nhận định giảm.
Theo dự báo của các doanh nghiệp hoạt động ngành Xây dựng quý I/2021, nhu cầu sử dụng lao động có xu hướng tăng so với quý IV/2020, với 78,4% doanh nghiệp cho rằng quy mô lao động tăng và không đổi (20,4% tăng và 58,0% không đổi), có 21,6% dự báo giảm.
Quý IV/2020 có 74,5% doanh nghiệp nhận định lao động thường xuyên không đổi, 9,8% nhận định tăng và 15,7% nhận định giảm. Tỷ lệ này của lao động thời vụ tương ứng là: 21,5% doanh nghiệp nhận định tăng, 51,9% không đổi và 26,6% giảm. Dự báo quý I/2021, có 77,5% doanh nghiệp dự báo lao động thường xuyên không đổi, 9,7% dự báo tăng và 12,7% dự báo giảm. Tỷ lệ này của lao động thời vụ là: 20,5% doanh nghiệp dự báo tăng, 56,4% không đổi và 23,1% giảm.
1.2. Chi phí sản xuất
Kết quả khảo sát quý IV/2020 về tổng chi phí cho hoạt động xây dựng cho thấy có 35,0% doanh nghiệp nhận định tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm xây dựng không thay đổi, 21,2% nhận định giảm và 43,8% nhận định tổng chi phí sản xuất tăng so với quý III/2020[12]. Dự báo quý I/2021 so với quý IV/2020 có 37,6% doanh nghiệp dự báo không đổi, 20,4% dự báo giảm và 42,0% dự báo tăng. Khu vực doanh nghiệp FDI có dự báo khả quan hơn so với hai khu vực còn lại với 35,8% doanh nghiệp dự báo tăng, 39,2% không đổi và 25,0% dự báo giảm; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 37,3% không đổi, 20,2% giảm và 42,5% dự báo tăng; khu vực doanh nghiệp nhà nước có 46,3% không đổi, 12,2% giảm và 41,5% dự báo tăng.
a) Chi phí nguyên, vật liệu
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp dùng cho hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Theo kết quả khảo sát quý IV/2020, tỷ lệ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp cho hoạt động xây dựng chiếm 50,9% trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng và tỷ lệ này có xu hướng giảm so với quý III/2020[13]. Khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm xây dựng chiếm 50,7%; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 52,1% và khu vực doanh nghiệp FDI là 36,1%, vì đối với khu vực doanh nghiệp FDI, chi phí thực hiện hạng mục công trình do nhà thầu phụ thi công trong tổng chi phí xây dựng thường chiếm tỷ trọng cao hơn các khu vực doanh nghiệp còn lại.
* Các chi phí khác gồm: Chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí quản lý kinh doanh, chi trả lãi ngân hàng và các chi phí khác.
b) Chi phí nhân công
Kết quả khảo sát quý IV/2020 phản ánh, chi phí nhân công trực tiếp trên một đơn vị sản phẩm xây dựng chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp với 14,4% tổng chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng. Khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ chi phí nhân công trực tiếp cao nhất, chiếm 21,3% trong tổng chi phí cho hoạt động xây dựng; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 14,7% và khu vực doanh nghiệp FDI là 8,9%.
Quý IV/2020, có 40,3% doanh nghiệp nhận định chi phí nhân công trực tiếp không đổi, 20,4% giảm và 39,3% tăng so với quý III/2020[14]. Dự báo quý I/2021 so với quý IV/2020, có 43,3% doanh nghiệp cho rằng chi phí nhân công trực tiếp không đổi, 20,0% giảm và 36,7% tăng.
2. Hỗ trợ chính sách và tiếp cận vốn vay
2.1. Hỗ trợ chính sách
Theo đánh giá của các doanh nghiệp xây dựng trong quý IV/2020 so với quý III/2020[15], có 83,8% doanh nghiệp cho rằng hỗ trợ của hệ thống hành chính nhà nước cho doanh nghiệp giữ nguyên và thuận lợi hơn (58,9% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và 24,9% nhận định thuận lợi hơn); 16,2% nhận định khó khăn hơn. Khu vực doanh nghiệp FDI có nhận định khả quan hơn so với hai khu vực doanh nghiệp còn lại với 85,8% doanh nghiệp nhận định chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của nhà nước giữ nguyên và thuận lợi hơn (65,6% giữ nguyên và 20,2% thuận lợi hơn), 14,2% khó khăn hơn; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 83,6% (58,3% giữ nguyên và 25,3% thuận lợi hơn), 16,4% khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp nhà nước là 85,4% (59,8% giữ nguyên và 25,6% thuận lợi hơn), 14,6% khó khăn hơn.
2.2. Tiếp cận vốn vay
Theo kết quả khảo sát quý IV/2020, có 65,1% doanh nghiệp xây dựng có vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, tỷ lệ này giảm nhẹ với quý III/2020[16]. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ vay vốn nhiều nhất với 68,3%, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 37,8% và khu vực doanh nghiệp FDI là 32,2%.
Trong số doanh nghiệp vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong quý IV/2020, có 94,5% doanh nghiệp vay vốn từ hệ thống ngân hàng và 5,6% doanh nghiệp vay từ nguồn vốn khác.
Nhận định của các doanh nghiệp xây dựng trong quý IV/2020, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ hệ thống ngân hàng vẫn gặp nhiều khó khăn với 30,9% doanh nghiệp đánh giá tình hình vay vốn ngân hàng thuận lợi hơn, 47,6% nhận định giữ nguyên và 21,5% khó khăn hơn so với quý III/2020[17]. Doanh nghiệp ngoài nhà nước nhận định tình hình vay vốn ngân hàng có xu hướng khả quan hơn với 31,0% nhận định vay vốn ngân hàng tốt hơn, 47,6% giữ nguyên và 21,4% khó khăn hơn; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 27,6% thuận lợi hơn, 37,9% giữ nguyên và 34,5% khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp FDI là 25,9% thuận lợi hơn, 53,1% giữ nguyên và 21,0% khó khăn hơn.
3. Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp và khó lường, các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp ngành Xây dựng theo Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 vẫn tiếp tục được áp dụng. Trong quý IV/2020 có 23,4% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 32,5% đánh giá giữ nguyên và 44,1% cho rằng khó khăn hơn so với quý III/2020[18]. Dự báo quý I/2021 có 21,9% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 33,3% nhận định giữ nguyên và 44,8% đánh giá khó khăn hơn.
Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước khả quan hơn so với hai khu vực còn lại với 24,3% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV/2020 tốt hơn so với quý III/2020[19], 32,1% nhận định hoạt động sản xuất kinh doanh giữ nguyên và 43,6% nhận định khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (khu vực doanh nghiệp FDI) có 14,4% doanh nghiệp nhận định tốt hơn, có 36,3% giữ nguyên và 49,3% khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp nhà nước có 13,4% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 41,5% giữ nguyên và 45,1% khó khăn hơn. Quý I/2021, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có 22,5% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 32,9% doanh nghiệp giữ nguyên và 44,6% khó khăn hơn so với quý IV/2020; tỷ lệ này của khu vực doanh nghiệp FDI là 14,4% tốt hơn, 36,8% giữ nguyên và 48,8% khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp nhà nước là 18,3% tốt hơn, 47,5% giữ nguyên và 34,2% khó khăn hơn.
Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng vẫn còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã có những chuyển biến tích cực và tiếp tục có những dấu hiệu phục hồi. Có thể đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên một số chỉ số cân bằng như: Chỉ số cân bằng về xu hướng sản xuất kinh doanh, chỉ số cân bằng về biến động tổng chi phí, chi phí nguyên, vật liệu, nhân công và chỉ số cân bằng về lao động.
Chỉ số cân bằng về xu hướng sản xuất kinh doanh[20] ngành xây dựng quý IV/2020 so với quý III/2020 là -20,7% (23,4% doanh nghiệp nhận định tốt hơn và 44,1% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn)[21]. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được nhận định khó khăn hơn trong quý I/2021 với chỉ số cân bằng so với quý IV/2020 là -22,9% (21,9% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 44,8% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn).
Chỉ số cân bằng về biến động tổng chi phí, chi phí nguyên, vật liệu, chi phí nhân công và chỉ số cân bằng về lao động, lao động thường xuyên, lao động thời vụ thể hiện số phần trăm doanh nghiệp dự báo tăng trừ số phần trăm doanh nghiệp dự báo giảm.
Chỉ số cân bằng về biến động tổng chi phí cho hoạt động xây dựng quý IV/2020 là 22,6% (43,8% doanh nghiệp nhận định tăng và 21,2% doanh nghiệp nhận định giảm), chỉ số này quý I/2021 có xu hướng giảm với 21,6% (42,0% doanh nghiệp dự báo tăng và 20,4% doanh nghiệp dự báo giảm).
Chỉ số cân bằng về chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp quý IV/2020 là 22,1% (42,7% doanh nghiệp nhận định tăng và 20,6% nhận định giảm), dự báo quý I/2021 là 21,4% (41,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 19,9% dự báo giảm); chỉ số này của chi phí nhân công trực tiếp quý IV/2020 là 18,9% (39,3% doanh nghiệp nhận định tăng và 20,4% nhận định giảm) và dự báo quý I/2021 là 16,6% (36,7% doanh nghiệp dự báo tăng và 20,0% dự báo giảm).
Chỉ số cân bằng về tăng và giảm số lượng lao động quý IV/2020 là -3,9% (21,2% doanh nghiệp nhận định tăng và 25,2% nhận định giảm). Dự báo quý I/2021 chỉ số cân bằng về tăng và giảm quy mô lao động có xu hướng tăng với -1,3% (20,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 21,6% dự báo giảm), trong đó chỉ số cân bằng về tăng và giảm quy mô lao động thường xuyên là -3,0% (9,7% doanh nghiệp dự báo tăng và 12,7% doanh nghiệp dự báo giảm), chỉ số cân bằng về tăng và giảm quy mô lao động thời vụ là -2,6% ( 20,5% doanh nghiệp dự báo tăng và 23,1% doanh nghiệp dự báo giảm).
Theo đánh giá chung của các doanh nghiệp xây dựng, tình hình sản xuất kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn, để thúc đẩy hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh trong các quý tiếp theo, cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đề xuất một số kiến nghị sau:
(1) Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm thủ tục, giấy tờ trong công tác nghiệm thu, bàn giao công trình, đẩy nhanh công tác thanh quyết toán vốn và giải ngân đầu tư công;
(2) Có cơ chế đấu thầu minh bạch, thông báo rộng rãi tới các doanh nghiệp để doanh nghiệp biết và tham gia;
(3) Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thông qua các chính sách tài chính, tín dụng và bảo hiểm: giảm lãi suất cho vay, gia hạn thêm thời gian nộp thuế, giãn thời gian đáo hạn các khoản vay miễn tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho doanh nghiệp;
(4) Hệ thống hóa toàn diện, đầy đủ văn bản pháp luật, hướng dẫn chi tiết và giảm bớt các thủ tục hành chính để giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tới gói hỗ trợ doanh do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19./.
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
[1] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 69,4% doanh nghiệp đánh giá đơn hàng mới tăng và giữ nguyên (30,9% doanh nghiệp đánh giá tăng; 38,5% giữ nguyên) và 30,6% dự báo giảm.
[2] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 67,4% doanh nghiệp đánh giá đơn hàng xuất khẩu mới tăng và giữ nguyên (26,5% doanh nghiệp đánh giá tăng; 40,9% giữ nguyên) và 32,6% đánh giá giảm.
[3] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 79,6% doanh nghiệp đánh giá lao động tăng và giữ nguyên (11,6% đánh giá tăng; 68,0% đánh giá giữ nguyên) và 20,4% đánh giá giảm.
[4] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 90,6% doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất trên một một đơn vị sản phẩm chính tăng và giữ nguyên (24,0% nhận định tăng; 66,6% giữ nguyên) và 9,4% nhận định giảm.
[5] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Tỷ lệ sử dụng công suất máy móc, thiết bị bình quân 73,6%.
[6] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 70,0% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên (36,0% doanh nghiệp đánh giá tăng; 34,0% giữ nguyên) và 30,0% doanh nghiệp đánh giá giảm.
[7] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 87,5% doanh nghiệp nhận định giá bình quân trên một một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (13,7% nhận định tăng; 73,8% giữ nguyên) và 12,5% nhận định giảm.
[8] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 22,7% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm tăng, 48,8% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên; 28,5% doanh nghiệp đánh giá giảm.
[9] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 18,8% doanh nghiệp đánh giá tồn kho nguyên vật liệu tăng, 52,2% đánh giá giữ nguyên; 29,0% đánh giá giảm.
[10] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Có 68,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD tốt lên và giữ ổn định (32,2% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và 35,9% doanh nghiệp giữ ổn định) và 31,9% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.
[11] Chỉ số tương ứng quý III/2020: có 67,7% doanh nghiệp nhận định lao động tăng và giữ nguyên (17,7% tăng; 50,0% giữ nguyên) và 32,3% doanh nghiệp nhận định giảm.
[12] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Toàn ngành có 32,2% doanh nghiệp đánh giá tổng chi phí trên một đơn vị sản phẩm giữ nguyên, 26,6% nhận định giảm và 41,2% nhận định tăng so với quý II/2020.
[13] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: toàn ngành 51,9%; khu vực doanh nghiệp nhà nước 52,1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 53,6%; khu vực doanh nghiệp FDI 33,6%.
[14] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Toàn ngành: có 36,8% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên, 26,3% giảm và 36,9% doanh nghiệp nhận định chi phí nhân công tăng so với quý II/2020.
[15] Chỉ số tương ứng quý III/2020: 24,6% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 57,7% doanh nghiệp cho rằng giữ nguyên và 17,7% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn.
[16] Tỷ lệ tương ứng quý III/2020: Toàn ngành 65,2%, khu vực doanh nghiệp nhà nước là 40,5%, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 68,1% và khu vực doanh nghiệp FDI là 33.7%.
[17] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: 30,9% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 43,5% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và 25,6% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.
[18]Chỉ số tương ứng của quý III/2020: 18,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn; 28,6% nhận định giữ nguyên và 53,3% cho rằng sản xuất kinh doanh khó khăn hơn so với quý II/2020.
[19] Chỉ số tương ứng của quý III/2020: Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có 18,8% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 28,3% giữ nguyên và 52,9% khó khăn hơn so với quý II/2020; Khu vực doanh nghiệp FDI: 10,7% tốt hơn, 32,3% giữ nguyên và 57,0% khó khăn hơn; Khu vực doanh nghiệp nhà nước: 10,7% tốt hơn, 26,2% giữ nguyên và 63,1% khó khăn hơn.
[20]Chỉ số cân bằng về xu hướng sản xuất kinh doanh thể hiện số phần trăm doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất tốt hơn trừ đi số phần trăm doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất khó khăn hơn.
[21] Chỉ số tương ứng của quý III/2020 là -35,2% (18,1% doanh nghiệp nhận định tốt hơn và 53,3% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn).