Thu nhập và chi tiêu phản ảnh chủ yếu đến mức sống và chất lượng sống của người dân. Kết quả của tăng trưởng kinh tế lan tỏa đến những lĩnh vực của đời sống văn hóa-xã hội. Trong giai đoạn 2016-2020, đi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập tăng theo và kéo theo mức chi tiêu tăng. Chi tiêu của dân cư chủ yếu là tiêu dùng cho đời sống và có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng kinh tế, nhóm dân cư. Có thể thấy sự khác biệt qua số liệu khảo sát mức sống dân cư năm 2020 như sau.
Chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng năm 2020 là 2,9 triệu đồng, trong đó chi đời sống chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình và không có thay đổi nhiều trong giai đoạn 2016-2020, chiếm khoảng 93% – 94%. Năm 2020 chi cho đời sống bình quân một người một tháng là 2,7 triệu đồng (chiếm tới 93% trong tổng chi tiêu hộ gia đình), trong đó chi cho ăn uống bình quân đầu người một tháng xấp xỉ 1,35 triệu đồng và không phải ăn uống hút là hơn 1,2 triệu đồng.
Tại khu vực thành thị, chất lượng sống của người dân cao hơn khu vực nông thôn khi chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng là gần 3,8 triệu đồng, khu vực nông thôn là 2,4 triệu đồng. Theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ có mức chi tiêu lớn nhất cả nước với 3,9 triệu đồng, gấp gần 2 lần mức chi tiêu ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc có mức chi tiêu thấp nhất cả nước là 2,1 triệu đồng. Nhóm giàu nhất chi tiêu bình quân 4,6 triệu đồng, gấp 3,5 lần so với nhóm nghèo nhất với mức chi tiêu chỉ gần 1,4 triệu đồng.
Biểu 1: Chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng

Trong chi tiêu cho lương thực, ở mỗi nhóm dân cư khác nhau tiêu dùng cho từng loại lương thực, thực phẩm cũng có nhiều khác biệt, phản ánh chất lượng sống của các nhóm dân cư là khác nhau. Trong năm 2020, lượng gạo tiêu thụ bình quân 1 người 1 tháng là 7,6 kg, do ảnh hưởng của thói quen sinh hoạt, môi trường sống, môi trường làm việc hộ gia đình sống ở vùng nông thôn thường tiêu thụ nhiều gạo hơn so với các hộ gia đình thành thị (8,5 kg so với 6,1 kg/người/tháng). Những hộ gia đình thuộc nhóm nghèo nhất có lượng gạo tiêu thụ là 9,1 kg/người/tháng cao hơn so với những hộ gia đình thuộc nhóm khá giả nhất 6,6 kg/người/tháng. Thịt các loại bình quân tiêu thụ 2,3 kg/người/tháng và không có sự khác biệt giữa khu vực thành thị, nông thôn, nhóm nghèo nhất chỉ tiêu thụ 1,6 kg ít hơn nhiều so với 2,9 kg trong nhóm người giàu nhất. Lượng tiêu thụ rượu bia bình quân 1,3 lít/người/tháng, trong đó khu vực nông thôn là 1,4 lít, thành thị là 1,2 lít, lượng tiêu thụ mặt hàng này của nhóm hộ gia đình khá giả nhất cũng cao hơn so với nhóm hộ gia đình nghèo nhất (2,2 lít so với 1,0 lít/người/tháng).
Như vậy, theo kết quả khảo sát cho thấy do sư khác nhau về điều kiện kinh tế, thu nhập và điều kiện sống dấn đến sự khác biệt rõ rệt về chất lượng sống giữa dân cư sống ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị đặc biệt là khoảng cách rất lớn về chất lượng sống giữa nhóm người nghèo nhất và nhóm người giàu nhất khi chênh lệch về chi tiêu giữa 2 nhóm này lên tới 3,5 lần.