Kinh tế – xã hội năm 2021 của nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi khi các nước đẩy mạnh chương trình tiêm chủng vắc – xin phòng chống dịch Covid-19 nhưng sự xuất hiện các biến chủng mới làm cho quá trình phục hồi kinh tế có dấu hiệu chậm lại. Đại dịch gây tắc nghẽn trong chuỗi giá trị toàn cầu, làm tăng giá nguyên liệu sản xuất tạo ra thách thức không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các quốc gia. Trong nước, làn sóng dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng Tư với biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh chóng, nguy hiểm, diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, đặc biệt tại các tỉnh kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Cần Thơ,… đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, an sinh của người dân và phát triển kinh tế – xã hội.
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo thống nhất của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong ban hành những quyết sách kịp thời để phòng, chống dịch bệnh và phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 về ban hành quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Cùng với đó là các chính sách bảo đảm an sinh xã hội; sự đồng lòng, nhất trí của các cấp, các ngành, các địa phương; sự đồng tình, ủng hộ, chia sẻ và tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế – xã hội nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý IV và năm 2021 như sau:
- Tăng trưởng kinh tế
Ước tính GDP năm 2021 tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%) so với năm trước do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021 nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23%.
Hình 1: Tốc độ tăng/giảm GDP theo quý năm 2021 (%)

- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, thể hiện rõ vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn và đảm bảo về nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu.
Năng suất lúa ước đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.
Chăn nuôi cả nước nhìn chung ổn định. Ước tính tháng 12/2021, tổng số trâu cả nước giảm 3% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số bò tăng 1,3%; tổng số lợn tăng 3%; tổng số gia cầm tăng 2%.
Hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ phát triển tốt. Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước tính đạt 277,8 nghìn ha, tăng 2,8 % so với năm trước.
Hoạt động thủy sản phục hồi mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Tổng sản lượng thủy sản năm 2021 ước đạt 8.726,6 nghìn tấn, tăng 1% so với năm 2020.
- Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trong 2 tháng cuối năm 2021 khởi sắc ngay khi các địa phương trên cả nước thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12/2021 ước tính tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, quý IV tăng 6,4%, đưa tốc độ tăng cả năm 2021 đạt 4,8% so với năm 2020 (năm 2020 tăng 3,3%); trong đó, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6% (năm 2020 tăng 4,8%).
Mặc dù tốc độ tăng chỉ số IIP năm 2021 thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của các năm 2017-2019 nhưng cho thấy ngành công nghiệp đã có sự phục hồi đáng kể trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp (năm 2017 tăng 11,3%; năm 2018 tăng 10,1%; năm 2019 tăng 9,1%).
Hình 2: Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp các năm 2017-2021 (%)
4. Đăng ký doanh nghiệp
Trong quý IV/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 31,4 nghìn doanh nghiệp với số vốn đăng ký 415,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 205,1 nghìn lao động, tăng 70,4% về số doanh nghiệp, tăng 64,1% về số vốn đăng ký và tăng 24,7% về số lao động so với quý III/2021.
Tính chung năm 2021, cả nước có 116,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.611,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 854 nghìn lao động, giảm 13,4% về số doanh nghiệp, giảm 27,9% về vốn đăng ký và giảm 18,1% về số lao động so với năm trước. Nếu tính cả doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, năm 2021 có gần 160 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 10,7% so với năm trước. Bình quân một tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp tham gia vào thị trường.
Cũng trong năm 2021, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 55 nghìn doanh nghiệp, tăng 18% so với năm trước; 48,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 27,8%; 16,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 4,1%, trong đó có 14,8 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 4%; 211 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 20,7%. Bình quân một tháng có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
5. Thương mại và dịch vụ
a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng khôi phục nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý IV/2021 tăng 28,1% so với quý trước. Tuy nhiên, tính chung cả năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 3,8% so với năm trước (năm 2020 tăng 1,7%) do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Hình 3: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các năm 2017-2021

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Trong tháng 12/2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%[1].
– Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2021 ước đạt 336,25 tỷ USD, tăng 19% so với năm trước. Có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu quý IV/2021 ước đạt 95,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,4% so với quý III/2021 (tăng 19,5% so với quý II/2021 và tăng 21,9% so với quý I/2021);
– Kim ngạch nhập khẩu năm 2021 đạt 332,25 tỷ USD, tăng 26,5%, chủ yếu nhập khẩu tư liệu sản xuất chiếm đến 93,5% tổng kim ngạch (tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm trước); kim ngạch nhập khẩu quý IV/2021 ước đạt 89,07 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,2% so với quý III/2021 (tăng 6,5% so với quý II/2021 và tăng 17,6% so với quý I/2021).
![]() |
![]() |
– Cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười Hai ước tính xuất siêu 2,54 tỷ USD. Tính chung năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4 tỷ USD (năm trước xuất siêu 19,94 tỷ USD).
Hình 6: Xuất siêu

c) Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách và hàng hóa quý IV/2021 đều tăng so với quý III/2021, trong đó vận chuyển hành khách tăng 48,4% và luân chuyển hành khách tăng 51,3%; vận chuyển hàng hóa tăng 31,8% và luân chuyển hàng hóa tăng 28,4%.
Tính chung năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 33% so với năm trước và luân chuyển giảm 42%; vận chuyển hàng hóa giảm 8,7% và luân chuyển giảm 1,8%.
d) Khách quốc tế đến Việt Nam
Một số địa phương thí điểm tổ chức đón khách du lịch quốc tế và các chuyến bay thương mại quốc tế bắt đầu được khôi phục nên khách quốc tế đến nước ta tháng Mười Hai tăng 14,2% so với tháng trước; quý IV/2021 tăng 62,7% so với quý III/2021 và giảm 12,4% so với cùng kỳ năm 2020. Tính chung năm 2021, khách quốc tế đến nước ta (chủ yếu là các chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam) đạt 157,3 nghìn người, giảm 95,9% so với năm trước và giảm 99,1% so với năm 2019.
- Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội và vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả khả quan trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên diện rộng.
Năm 2021, dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều địa phương áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội làm đứt gãy chuỗi sản xuất và cung ứng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Ước tính năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm trước và là tốc độ tăng thấp nhất trong giai đoạn 2017-2021 (Năm 2017 tăng 13,5%; năm 2018 tăng 11%; năm 2019 tăng 10,1%; năm 2020 tăng 5,0%; năm 2021 tăng 3,2%).
Hình 7: Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phân theo loại hình kinh tế
theo giá hiện hành các năm 2017-2021 (Nghìn tỷ đồng)

Trong vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước giảm đáng kể ở mức 2,9% so với mức tăng 14,3% của năm 2020. Đây là vốn mồi nhằm thu hút vốn đầu tư khác để tạo động lực phát triển, tuy nhiên năm 2021 bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 nên các nguồn lực của nền kinh tế được tập trung cho công tác phòng chống dịch bệnh. Vốn đầu tư khu vực ngoài Nhà nước tăng khá ở mức 7,2%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng 3,0% của năm 2020 và đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung của vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của các năm 2017-2019. Vốn đầu tư từ khu vực FDI giảm 1,1% (năm 2020 giảm 1,3%) và mức giảm này cùng với xu hướng giảm vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia trong bối cảnh dịch Covid-19 chưa được kiểm soát trên thế giới.
Hình 8: Tốc độ tăng/giảm vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội
theo giá hiện hành các năm 2017-2021 (%)

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục phục hồi, vốn đăng ký mới và tăng thêm giữ xu hướng tăng cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/12/2021 đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2021 đạt 19,74 tỷ USD, giảm 1,2%.
- Thu, chi ngân sách Nhà nước
Kết quả thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2021 vượt dự toán năm. Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế tiếp tục phục hồi, tác động tích cực làm thu ngân sách Nhà nước năm 2021 ước tính đạt 1.523,4 nghìn tỷ đồng, bằng 113,4% dự toán năm. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, khắc phục thiên tai, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. Chi ngân sách nhà nước năm 2021 ước tính đạt 1.839,2 nghìn tỷ đồng, bằng 109% dự toán năm.
- Chỉ số giá, lạm phát cơ bản
Giá xăng dầu, giá gas trong tháng giảm theo giá nhiên liệu thế giới; dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước; học phí học kỳ I năm học 2021-2022 tiếp tục được miễn, giảm tại một số địa phương là các nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2021 giảm 0,18% so với tháng trước và tăng 1,81% so với tháng 12/2020. Bình quân năm 2021, CPI tăng 1,84% so với năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[1]. Lạm phát cơ bản 12 tháng tăng 0,81%.

- Một số vấn đề xã hội
a) Lao động, việc làm
Tình hình lao động, việc làm quý IV/2021 khởi sắc so với quý trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tính chung năm 2021 cao hơn năm trước trong khi số người có việc làm, thu nhập của người làm công hưởng lương thấp hơn năm trước.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2021 ước tính đạt 67,7%, giảm 1,9 điểm phần trăm so với năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2021 là 3,22% (quý I là 2,42%; quý II là 2,62%; quý III là 3,98%; quý IV là 3,56%).
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động năm 2021 là 3,1% (quý I là 2,2%; quý II là 2,6%; quý III là 4,46%; quý IV ước tính 3,37%.
b) Mức sống dân cư
Tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống dân cư. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương ưu tiên cho công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh với nhiệm vụ trọng tâm là bảo đảm công tác an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là người dân ở các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, bảo đảm người dân có đủ ăn, đủ mặc. Theo kết quả sơ bộ từ Khảo sát mức sống dân cư năm 2021, ước tính thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2021 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,2 triệu đồng, giảm 73 ngìn đồng so với năm 2020; tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 4,4%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với năm 2020.
c) Tiêm phòng dịch Covid-19
Chiến dịch tiêm vắc-xin phòng Covid-19 thần tốc, tính đến ngày 27/12/2021: Tổng số liều vắc-xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 146.335.052 liều, trong đó tiêm mũi 1 là 77.138.616 liều; tiêm mũi 2 là 66.402.056 liều; tiêm mũi 3 (tiêm bổ sung, tiêm nhắc lại và tiêm mũi 3 của vaccine Abdala) là 2.794.380 liều. Như vậy, độ bao phủ vắc-xin đã tăng lên đáng kể từ đầu tháng 9 đến nay. Đối với dân số từ 18 tuổi trở lên, tỷ lệ bao phủ ít nhất 1 liều vắc-xin là 98,8% và tỷ lệ tiêm đủ 2 liều là 88,5%. Đối với dân số từ 12-17 tuổi, tỷ lệ bao phủ ít nhất 1 liều vắc-xin là 81,0% và tỷ lệ bao phủ đủ 2 liều là 43,5%.
- Một số vấn đề cần lưu ý
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế nước ta năm 2021 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể như sau:
(1) Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là việc xuất hiện biến chủng mới Omicron có khả năng lây nhiễm cao; số ca nhiễm mới trong cộng đồng có xu hướng tăng ở nhiều địa phương, ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
(2) Ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng từ cuối năm 2020 đến nay, chủ yếu do giá nhập khẩu nguyên liệu tăng cao[1]. Bên cạnh đó, giá thịt lợn hơi giảm liên tục từ cuối tháng Tư[2], các cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ gặp nhiều khó khăn về kênh tiêu thụ và bán với giá thấp hơn giá thị trường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ thua lỗ dẫn đến tâm lý lo ngại, không dám tái đàn của người nuôi. Dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp tại một số địa phương làm ảnh hưởng đến nguồn cung phục vụ nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán sắp tới.
(3) Trong sản xuất công nghiệp, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2021 so với thời điểm năm trước tăng cao (21,9%) do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ cho đầu ra của các ngành sản xuất.
(4) Do dịch Covid-19 bùng phát mạnh vào quý III/2019 nên doanh thu năm 2021 của các ngành dịch vụ bị sụt giảm lớn so với năm 2020, trong đó các ngành chịu ảnh hưởng nhiều đó là dịch vụ giáo dục và đào tạo (giảm 37,7%); dịch vụ vui chơi và giải trí (giảm 20,6%); dịch vụ hành chính và hỗ trợ (giảm 12,98%)…
(5) Thực hiện các quy định về phòng chống dịch bệnh nên người dân hạn chế các hoạt động vui chơi, giải trí, ăn uống ngoài gia đình. Tính chung cả năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 3,8% so với năm trước (năm 2020 tăng 1,7%. Hoạt động vận tải năm 2021 gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát mạnh và trên diện rộng. Vận chuyển hành khách năm 2021 giảm 33,0% so với năm trước và luân chuyển hành khách giảm 42,0% ; vận chuyển hàng hóa giảm 8,7% và luân chuyển hàng hóa giảm 1,8%.
(6) Giá nguyên, nhiên, vật liệu, cước vận tải, chi phí logistic… tăng cao làm tăng chi phí sản xuất và gia tăng áp lực lạm phát, tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô. Năm 2021, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất tăng 5,51% so với năm 2020; chỉ số giá nhập khẩu phân bón tăng 10,02%; chỉ số giá nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 18,34%; chỉ số giá nhập khẩu xăng, dầu các loại tăng 44,88%.
(7) So với quý trước, số lao động có việc làm trong quý IV/2021 đã có dấu hiệu phục hồi sau khi nới lỏng giãn cách xã hội, tuy nhiên sự phục hồi này chủ yếu do tăng số lao động phi chính thức (số liệu). Điều này cho thấy sự phục hồi chưa bền vững. Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đã đẩy tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn trong năm 2021. Điều này trái với xu hướng thị trường lao động quan sát trước đây ở nước ta với tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thường nghiêm trọng hơn so với thành thị.
- Kiến nghị
Để kịp thời có giải pháp khắc phục khó khăn, đồng thời chủ động khai thác các cơ hội đạt được kết quả phát triển kinh tế – xã hội cao nhất trong năm 2022 tạo đà phát triển mạnh cho những năm tiếp theo, cần tập trung vào một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2020 quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”; bảo đảm sự chỉ đạo nhất quán, tập trung, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân cùng với tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ hiệu quả người dân và doanh nghiệp.
Hai là, kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát giá cả, thị trường, bảo đảm cung ứng hàng hóa và các cân đối lớn của nền kinh tế; thực hiện chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cần linh hoạt vừa đảm bảo kiềm chế lạm phát, vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng; nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế.
Ba là, tiếp tục triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ người dân, người lao động, doanh nghiệp chống chịu, vượt qua khó khăn, ổn định và phục hồi sản xuất. Đặc biệt, hỗ trợ cho người lao động bị mất việc làm, mất thu nhập cần được triển khai hiệu quả với phương châm: “không để ai bị bỏ lại”, từ đó tạo tâm lý yên tâm, không di dời khỏi nơi làm việc về quê hương, dẫn tới xáo trộn, thiếu hụt nguồn lực lao động.
Bốn là, phát triển mạnh thị trường nội địa, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ cho sản xuất, không để đứt gãy chuỗi cung ứng. Tháo gỡ rào cản, tạo thuận lợi cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng từng loại nông sản, gắn với nguồn gốc xuất xứ, phát triển hạ tầng logistics nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo chuỗi cung ứng thị trường trong nước.
Năm là, cơ cấu lại, phục hồi và phát triển một số ngành, lĩnh vực quan trọng và doanh nghiệp đang bị tác động trực tiếp bởi dịch Covid-19 như: thương mại, dịch vụ, logistics, vận tải, hàng không, du lịch…; khẩn trương khôi phục thị trường du lịch, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hành khách quốc tế, trong nước, hỗ trợ phù hợp các doanh nghiệp du lịch gắn với an toàn dịch bệnh.
Sáu là, tích cực và đẩy nhanh hơn việc hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp Việt Nam trong mọi lĩnh vực, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số thiết thực, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành và xử lý công việc; tái cấu trúc quy trình, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi tối đa các doanh nghiệp
Bên cạnh đó, cần theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống của người dân. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ./.
[1] Chỉ số giá của nhóm thức ăn gia súc và nguyên liệu của năm 2021 tăng 18,34% so với năm trước.
[2] So với tháng trước, giá thịt lợn tháng 10/2021 giảm 9,38%; tháng 11/2021 giảm 5,62%; tháng 12/2021 giảm 0,64%.
[1] Tốc độ tăng CPI bình quân các năm so với năm trước giai đoạn 2017-2021 lần lượt là: tăng 2,66%; tăng 3,53%; tăng 3,54%; tăng 2,79%; tăng 3,23%; tăng 1,84%.
[1] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2020 đạt 545,32 tỷ USD, tăng 5,3% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 282,63 tỷ USD, tăng 6,9%; nhập khẩu đạt 262,69 tỷ USD, tăng 3,7%.

