Lạng Sơn là tỉnh thuộc miền núi phía Bắc có hệ thống giao thông thuận lợi, có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 253 km; có 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng). Trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu thì Lạng Sơn càng có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại – du lịch – dịch vụ.

Giai đoạn 2018 – 2022, kinh tế của tỉnh Lạng Sơn có bước chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm của cả giai đoạn đạt 6,39%/năm, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,67%/năm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,22%/năm; khu vực dịch vụ tăng 5,70%/năm. Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự dịch chuyển theo hướng tích cực; thu nhập bình quân đầu người được nâng lên; sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, duy trì và đảm bảo an ninh lương thực, sản lượng một số cây trồng qua các năm đều tăng khá; sản xuất công nghiệp và xây dựng tiếp tục phục hồi và tăng trưởng cao, môi trường đầu tư kinh doanh được tập trung cải thiện, thu hút đầu tư đạt kết quả tốt. Trong kết quả đạt được đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Tính đến 31/12/2022, trên địa bàn tỉnh có 1.967 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng 41,5% (tăng 577 doanh nghiệp) so với năm 2018. Giai đoạn 2018 – 2022, bình quân mỗi năm số doanh nghiệp tăng 9,0% (giai đoạn 2016-2020, số lao động bình quân mỗi năm giảm 4,6%). Trong năm 2022 các doanh nghiệp thu hút 19,4 nghìn lao động, giảm 14,8% (giảm 3,3 nghìn lao động) so với năm 2018 do một số doanh nghiệp chuyển đến các khu công nghiệp của tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh. Trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước có 10 doanh nghiệp, chiếm 0,51% tổng số doanh nghiệp và giảm 28,6% so với năm 2018; trong đó có 02 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chiếm 0,10% và 08 doanh nghiệp 50% vốn nhà nước, chiếm 0,41%. Số doanh nghiệp Nhà nước giảm so với năm 2018 chủ yếu do thực hiện cổ phần hóa theo chủ trương của Chính phủ. Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước có 1.941 doanh nghiệp, chiếm 98,68% và tăng 42,83% (tăng 582 doanh nghiệp). Doanh nghiệp ngoài nhà nước tập trung nhiều doanh nghiệp và người lao động nhất. Các loại hình doanh nghiệp của khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước năm 2022 có nhiều biến động so với năm 2018, trong đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn tăng nhiều nhất với 518 doanh nghiệp; công ty cổ phần không có vốn nhà nước tăng 88 doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 16 doanh nghiệp, chiếm 0,8% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh, giảm 5,9%. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài giữ nguyên là 06 doanh nghiệp; doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có 10 doanh nghiệp, giảm 9,1%.

Xét theo thành phần kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 24 doanh nghiệp, chiếm 1,2% tổng số doanh nghiệp và tăng 4,4% so với năm 2018. Khu vực công nghiệp và xây dựng có 524 doanh nghiệp, chiếm 26,6% và tăng 39,4%, trong đó: Doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 44,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 61,6%; ngành sản xuất và và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 100%; ngành cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,7%; doanh nghiệp ngành xây dựng tăng 24,8%. Khu vực dịch vụ có 1.419 doanh nghiệp, chiếm 72,1% tổng số doanh nghiệp, tăng 43,2% trong đó: Doanh nghiệp thương nghiệp có 692 doanh nghiệp, chiếm 49,2% số doanh nghiệp toàn tỉnh, tăng 39,7%; ngành vận tải kho bãi có 102 doanh nghiệp, chiếm 7,9% số doanh nghiệp toàn tỉnh, tăng gần 52%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống có 38 doanh nghiệp, chiếm 1,9% và tăng 26,7%; ngành dịch vụ khác có 259 doanh nghiệp, chiếm 13,2%. Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tập trung ở cả các huyện, thành phố nhưng nhiều nhất là ở thành phố Lạng Sơn và 02 huyện Cao Lộc, huyện Hữu Lũng với tổng số doanh nghiệp chiếm 79,9% số doanh nghiệp toàn tỉnh; trong đó thành phố Lạng Sơn có 1.104 doanh nghiệp, chiếm 56,1% và tăng 37,31%. Huyện có tốc độ tăng số doanh nghiệp cao nhất so với năm 2018 là huyện Cao Lộc  với 68,3%; thành phố Lạng Sơn có mức đóng góp nhiều nhất vào tốc độ tăng doanh nghiệp của tỉnh với 4 điểm phần trăm và tốc độ tăng đạt 37,3%.

Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh
năm 2022 so với năm 2018 phân theo huyện, thành phố

Những năm vừa qua, cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đạt được hiệu quả rõ rệt, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn đã hỗ trợ tích cực thành lập doanh nghiệp, từ đó góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp thời điểm 31/12/2022 đạt 19.417 người, giảm 14,8% (giảm 3.374 lao động) so với năm 2018. Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút nhiều lao động nhất với 18.337 người, chiếm tỷ trọng 94,4% số lao động của toàn bộ doanh nghiệp, giảm 10,8% (giảm 2.216 lao động). Khu vực doanh nghiệp nhà nước là 559 người, chiếm 2,9% và giảm 68,2% (giảm 1.200 lao động). Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 521 người, chiếm 2,68% và tăng 8,77% (tăng 42 lao động). Như vậy, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đã thu hút và giải quyết việc làm gần 95% số lao động của toàn bộ doanh nghiệp.

Ngành thương mại – dịch vụ là ngành thu hút nhiều lao động nhất, với 9.881 lao động, chiếm 50,9% số lao động của toàn bộ doanh nghiệp, tăng 1,5% (tăng 148 lao động) so với năm 2018. Ngành công nghiệp – xây dựng là 9.273 lao động, chiếm tỷ lệ 47,8%, giảm 27,4% (giảm 3.499 lao động) do doanh nghiệp áp dụng những công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại nên cũng cắt giảm bớt lao động giản đơn. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản thu hút 263 lao động đang làm việc, chiếm 1,4% số lao động của toàn bộ doanh nghiệp, giảm 8,4% (giảm 24 lao động).

Phân theo quy mô lao động trên địa bàn tỉnh tại thời điểm 31/12/2022: Số doanh nghiệp có quy mô dưới 10 lao động chiếm 76,7% số doanh nghiệp toàn tỉnh, tương ứng 1.509 doanh nghiệp, trong đó: Doanh nghiệp có quy mô dưới 5 lao động là 1.074 doanh nghiệp, chiếm 54,6%, tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (1.071 doanh nghiệp); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 03 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có quy mô từ 200 lao động trở lên có 05 doanh nghiệp, chiếm 0,25% tổng số doanh nghiệp, trong đó: Doanh nghiệp có từ 500 đến dưới 1.000 lao động có 01 doanh nghiệp (Công ty cổ phần hữu nghị Xuân Cương) ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Số doanh nghiệp còn lại có quy mô từ 10 đến dưới 200 lao động là 453 doanh nghiệp, chiếm 23% tổng số doanh nghiệp; trong đó tập trung chủ yếu là doanh nghiệp có từ 10 đến dưới 50 lao động là 393 doanh nghiệp, chiếm gần 20% tổng số doanh nghiệp.

Tổng vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp thời điểm 31/12/2022 đạt 59.144 tỷ đồng, tăng 43,3% (tăng 17.868 tỷ đồng) so với năm 2018. Trong đó, vốn sản xuất kinh doanh khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút 56.489 tỷ đồng, chiếm 95,5% vốn sản xuất kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp, tăng 58,18% (tăng 20.778 tỷ đồng) và đóng góp 22,4 điểm phần trăm vào tốc độ tăng vốn của toàn bộ doanh nghiệp. Vốn sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 1.453 tỷ đồng, chiếm 2,5% vốn của toàn bộ doanh nghiệp, giảm 38,6% (giảm 912 tỷ đồng). Vốn sản xuất kinh doanh của khu vực vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.202 tỷ đồng, chiếm 2, % vốn của toàn bộ doanh nghiệp, giảm 62, 4%, (giảm 1.998 tỷ đồng. Vốn bình quân trên 1 doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2022 đạt mức 28,30 tỷ đồng/1 doanh nghiệp.

Doanh thu thuần của toàn bộ doanh nghiệp năm 2022 là 54.591 tỷ đồng, tăng 44,23% (tăng 16.740 tỷ đồng) so với năm 2018. Mức tăng trưởng doanh thu thuần có xu hướng phát triển không đồng đều, với tốc độ các năm 2022, 2021, 2020, 2019, 2018 lần lượt là giảm 1,70%; giảm 1,84%; tăng 7,24%; tăng 39,19%; giảm 1,57%. Tính riêng giai đoạn 2022-2018, tốc độ tăng bình quân doanh thu thuần của doanh nghiệp là 4,96%. Phân theo loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp ngoài nhà nước tạo ra nhiều doanh thu thuần cao nhất đạt 52.283 tỷ đồng, cao gấp 43,1 lần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gấp 47,7 lần doanh nghiệp nhà nước, tăng 49,15% (+17.230 tỷ đồng) so với năm 2018 và chiếm tỷ trọng 95,77% tổng doanh thu thuần của toàn bộ doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài có doanh thu thuần đạt 1.212 tỷ đồng, tăng 196,33% so với năm 2018, chiếm 2,22% tổng doanh thu. Doanh nghiệp nhà nước có doanh thu thuần 1.096 tỷ giảm 54,12% so với năm 2018, chiếm 2,01% tổng doanh thu.

Thu nhập bình quân một lao động năm 2022 là 7,57 triệu đồng/tháng, giảm 16,83% so với năm 2018. Theo loại hình kinh tế, doanh nghiệp nhà nước là khu vực có thu nhập bình quân người lao động cao nhất đạt 8,05 triệu đồng/người/tháng, giảm 24,13% so năm 2018. Tiếp đến, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt mức 7,56 triệu đồng/người/tháng, giảm 16,28%. Thu nhập bình quân người lao động thấp nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,46 triệu đồng/người/tháng giảm 2,90%. Mức thu nhập bình quân của người lao động năm 2022 giảm qua các năm do doanh nghiệp kinh doanh lãi thấp, lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp đang hoạt động từ năm 2018 đến năm 2022 đều giảm (lần lượt là giảm 137 tỷ, giảm 17 tỷ, giảm 205 tỷ, giảm 131 tỷ, giảm 352 tỷ).

Mặc dù phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp, đầu tư vốn nhưng quy lao động giảm do tỷ trọng doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ chiếm 61,68%, lao động tại quy mô này doanh nghiệp sử dụng ít lao động. Nhìn chung năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh còn hạn chế, tỷ lệ doanh nghiệp có lãi thấp chỉ đạt 40,69%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả tại thị trường đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, khu vực này chủ yếu là hoạt động gia công, lắp ráp, hoạt động trong các ngành nghề phổ thông, sử dụng lao động, tay nghề thấp, ít đầu tư vào các ngành công nghệ cao, sử dụng nguyên vật liệu, phụ tùng, linh kiện chủ yếu nhập khẩu hoặc do công ty mẹ ở nước ngoài định giá, chuyển vào Việt Nam phục vụ sản xuất kinh doanh, tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu trong nước hạn chế dẫn đến tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra cho nền kinh tế thấp. Doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp, tuy nhiên năng lực quản trị kinh doanh còn hạn chế, chưa có nhiều sản phẩm có thương hiệu, chưa thực sự là đòn bẩy cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững của tỉnh.

Chỉ số quay vòng vốn năm 2022 của toàn bộ doanh nghiệp đạt 0,92 lần. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt chỉ số 1,01 lần, cao nhất trong ba loại hình doanh nghiệp; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 0,93 lần; khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt thấp nhất với chỉ số đạt 0,75 lần.

Hiệu suất sử dụng lao động năm 2022 của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đạt 11,7 lần. Trong đó: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt hiệu suất sử dụng lao động cao nhất trong ba khu vực với 12,9 lần; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 11,1 lần và thấp nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 9,5 lần.

Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển doanh nghiệp, liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của địa phương, trong những năm qua Ủy ban nhân dân tỉnh đã cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển. Số lượng doanh nghiệp thành lập lập mới, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động liên tục tăng trong giai đoạn 2018-2022 (năm 2018 là 1.390 doanh nghiệp, năm 2022 là 1.697 doanh nghiệp, bình quân mỗi năm số doanh nghiệp tăng 9,04%). Doanh nghiệp phát triển ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh và các loại hình kinh tế (trừ khu vực doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm do chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp). Cơ cấu kinh tế theo ngành cho thấy ngành thương mại – dịch vụ và ngành công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm