Trong bốn tháng đầu năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự tại một số khu vực chưa chấm dứt; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; căng thẳng thương mại toàn cầu tiếp tục leo thang. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức như nguy cơ sụt giảm đơn hàng và mất thị phần do áp lực thuế quan, chi phí sản xuất đầu vào gia tăng, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong nước, tình hình kinh tế – xã hội tháng Tư và bốn tháng đầu năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước; tiếp tục tạo đà, tạo lực, tạo khí thế thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian tới. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có nhiều điểm sáng tích cực với hơn 24,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong tháng Tư; tính chung bốn tháng đầu năm 2025 có hơn 89,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới
Trong tháng Tư, cả nước có 15,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2024 và là mức cao thứ hai của cùng kỳ các năm giai đoạn 2016-2025[1]. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy sự quyết liệt và ứng phó kịp thời của Chính phủ, củng cố vững chắc niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh.
Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong bốn tháng đầu năm nay đạt gần 1,8 triệu tỷ đồng, tăng 91,3% so với cùng kỳ năm 2024; trong đó, tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 490,4 nghìn tỷ đồng và số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt hơn 1,3 triệu tỷ đồng, gấp gần 3,2 lần so với cùng kỳ năm trước. Sự luân chuyển dòng tiền này được kỳ vọng sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trong năm 2025.
Theo lĩnh vực hoạt động, khu vực dịch vụ tiếp tục xu hướng tích cực, dẫn dắt đà phục hồi của nền kinh tế với gần 39,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, là tín hiệu tốt cho nhu cầu tiêu dùng nội địa trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng chung có dấu hiệu sụt giảm. Khu vực công nghiệp và xây dựng có 12,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,4%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 496 doanh nghiệp, giảm 0,8%. Một số ngành có số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công nghiệp chế biến, chế tạo (6.648 doanh nghiệp, tăng 4,3%); sản xuất phân phối, điện, nước, gas (396 doanh nghệp, tăng 6,7%); vận tải kho bãi (2.764 doanh nghiệp, tăng 3,1%); thông tin và truyền thông (1.578 doanh nghiệp, tăng 1,6%); kinh doanh bất động sản (1.582 doanh nghiệp, tăng 15,1%); y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (523 doanh nghiệp, tăng 16,5%); nghệ thuật, vui chơi và giải trí (416 doanh nghiệp, tăng 4,0%). Trong đó, doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong ngành giáo dục và đào tạo tăng cao nhất với 4.994 doanh nghiệp, gấp hơn 4,0 lần so với cùng kỳ năm 2024.
Phần lớn các vùng kinh tế – xã hội trên cả nước có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới bốn tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 16.756 doanh nghiệp, chiếm 32,5% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên cả nước, tăng 5,8%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 3.127 doanh nghiệp, chiếm 6,1%, tăng 13,1%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 6.639 doanh nghiệp, chiếm 12,9%, tăng 7,5%; vùng Tây Nguyên có 1.544 doanh nghiệp, chiếm 3,0%, tăng 8,4%; vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 4.981 doanh nghiệp, chiếm 9,6%, tăng 30,9%. Riêng vùng Đông Nam Bộ có 18.581 doanh nghiệp, chiếm 36,0% và giảm 15,9%.
Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 4 tháng đầu năm 2025 của các vùng kinh tế – xã hội
Nguồn: Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể
Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động[2]
Tổng số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trên cả nước trong bốn tháng đầu năm 2025 đạt hơn 38,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 29,0% so với cùng kỳ năm 2024. Trung bình mỗi tháng có 9,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, cao nhất từ trước đến nay[3]; riêng tháng 4/2025 có hơn 9,0 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 8,5%.
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong bốn tháng đầu năm ở hầu hết các ngành, nghề kinh doanh đều tăng so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể như sau: ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản có 577 doanh nghiệp, tăng 40,7%; ngành khai khoáng có 267 doanh nghiệp, tăng 40,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có gần 4,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 35,9%; ngành xây dựng có hơn 5,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 37,5%; ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 13,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 26,6%; ngành vận tải kho bãi 1,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,1%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 25,9%; ngành thông tin và truyền thông có 927 doanh nghiệp, tăng 28,0%; ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 349 doanh nghiệp, tăng 32,2%; ngành kinh doanh bất động sản có gần 1,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 42,7%; ngành hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 3,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 37,6%; ngành giáo dục và đào tạo có gần 1,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 46,7%; ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 193 doanh nghiệp, tăng 30,4%; ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí có 252 doanh nghiệp, tăng 6,3%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ gần 2,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 42,9%.
Theo vùng kinh tế – xã hội, vùng Đồng bằng sông Hồng có 13,1 nghìn doanh nghiệp doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; vùng Trung du và miền núi phía Bắc có gần 2,0 nghìn doanh nghiệp; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 5,5 nghìn doanh nghiệp; vùng Tây Nguyên có gần 1,0 nghìn doanh nghiệp; vùng Đông Nam Bộ có 14,2 nghìn doanh nghiệp; vùng Đồng bằng sông Cửu Long có gần 2,6 nghìn doanh nghiệp.
Tình hình doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 4 tháng đầu năm các năm giai đoạn 2016-2025
Nguồn: Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể
Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trong thời gian tới
Tình hình thế giới trong thời gian tới được dự báo tiếp tục có những biến động lớn, phức tạp và khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn; xung đột quân sự tại một số khu vực vẫn tiếp diễn; chính sách thuế của Hoa Kỳ làm gia tăng gián đoạn chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu… là những nhân tố lớn ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam. Ở trong nước, bên cạnh những mặt thuận lợi cơ bản thì còn hiện hữu nhiều khó khăn, thách thức, tạo sức ép lên ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát, tỷ giá, các cân đối lớn và công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế – xã hội.
Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, củng cố niềm tin, tạo khí thế và xung lực mới cho phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; với hàng loạt chính sách đột phá, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu. Khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong những lĩnh vực ưu tiên, đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia và vươn tầm khu vực, thế giới; thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số.
Để tiếp tục hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện các chính sách về phát triển khu vực kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: tiếp tục triển khai, thực hiện các nhiệm vụ đã được quy định tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ nhằm cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh. Sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn pháp luật liên quan đến doanh nghiệp (doanh nghiệp, thuế, trung tâm tài chính…) được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong đó có các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo tổ chức bộ máy mới, đảm bảo hoạt động thông suốt, hiệu quả.
Hai là, hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường và sản phẩm
– Mở rộng thị trường xuất khẩu: tăng cường xúc tiến thương mại và đầu tư vào các thị trường tiềm năng khác như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, UK và các nước ASEAN… tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA), tăng cường phát triển thị trường nội địa. Trong ngắn hạn, doanh nghiệp cần linh hoạt chuyển hướng sang các thị trường FTA và đàm phán lại hợp đồng. Về dài hạn, cần xây dựng chiến lược xuất khẩu bền vững với trọng tâm là nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu quốc gia.
– Đa dạng hóa sản phẩm: khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi sang các ngành công nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao và ít bị ảnh hưởng bởi thuế quan.
– Thực hiện hiệu quả, đồng bộ, quyết liệt Chiến dịch “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; Xây dựng và thực hiện Chương trình Made by Việt Nam: hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng Việt Nam, bằng công nghệ Việt Nam, do người Việt làm trên đất Việt Nam;
– Xem xét giảm thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu nguyên vật liệu nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp.
Ba là, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn và phát triển cơ sở hạ tầng
– Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp và công nghệ mũi nhọn như AI, công nghiệp bán dẫn nội địa, xây dựng, công nghệ sức khỏe, y sinh học. Thúc đẩy đầu tư công, nâng cấp hạ tầng và chi tiêu công thông qua việc nâng cấp các dịch vụ công điện tử, tăng cường tích hợp AI vào hạ tầng hiện có; tăng đầu tư dịch vụ công ở các tỉnh, thành phố, các xã, phường; tăng đầu tư cho y tế, giao thông công cộng, nhà ở xã hội.
– Hoàn thiện kết cấu hạ tầng nhằm giảm chi phí của các dịch vụ logistics. Cắt giảm các chi phí, thủ tục liên quan đến xuất, nhập khẩu. Xem xét sửa đổi một số cơ chế, chính sách[4] nhằm tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp nội địa, nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp nội địa. Tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp: triển khai các gói vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế quan mới.
[1] Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng Tư các năm giai đoạn 2016-2025 lần lượt là (ĐVT: nghìn doanh nghiệp): 11,0; 13,1; 14,5; 14,9; 7,9; 14,9; 15,0; 16,0; 14,2; 15,2.
[2] Thời kỳ số liệu của chỉ tiêu này trước thời điểm 01/8/2024 được tính từ ngày 21 của tháng trước tháng báo cáo đến ngày 20 của tháng báo cáo, từ ngày 01/8/2024 được tính từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng báo cáo (căn cứ quy định tại Nghị định số 62/2024/NĐ-CP ngày 07/6/2024 của Chính phủ).
[3] Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động bình quân 4 tháng các năm giai đoạn 2020-2025 lần lượt là: 4.456 doanh nghiệp; 4.814 doanh nghiệp; 7.730 doanh nghiệp; 7.250 doanh nghiệp; 7.427 doanh nghiệp; 9.580 doanh nghiệp.
[4] Xem xét áp dụng các ưu đãi hiện có cho FDI (thuê đất giá thấp, miễn/giảm thuế, ưu đãi tín dụng…) cho cả các doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu và có tiềm năng đổi mới sáng tạo.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

