Lực lượng lao động và số người có việc làm trong quý II/2025 tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân tháng của người lao động giảm so với quý trước[1] và tăng so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm khá ổn định so với quý trước và giảm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,0 triệu người, tăng 542,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; lao động có việc làm là 51,9 triệu người, tăng 538,1 nghìn người; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,72%.

1. Lực lượng lao động

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2025 ước tính là 53,1 triệu người, tăng 169,8 nghìn người so với quý trước và tăng 553,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý II/2025 là 68,2%, không đổi so với quý trước và giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,0 triệu người, tăng 542,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,2%, giảm 0,3 điểm phần trăm.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2025 là 29,1%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,0%, tăng 1,0 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước, điều này cho thấy chất lượng nguồn lao động đang dần được nâng cao.

2. Lao động có việc làm

Lao động có việc làm quý II/2025 ước tính là 52,0 triệu người, tăng 138,6 nghìn người so với quý trước và tăng 544,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 20,2 triệu người, tăng 152,6 nghìn người so với quý trước và tăng 440,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,8 triệu người, giảm 14,0 nghìn người và tăng 103,5 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý II/2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,5 triệu người, chiếm 25,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,3 triệu người, chiếm 33,2%; khu vực dịch vụ là 21,2 triệu người, chiếm 40,9%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, lao động có việc làm là 51,9 triệu người, tăng 538,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 20,1 triệu người, tăng 437,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,8 triệu người, tăng 101,0 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm sáu tháng đầu năm 2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,5 triệu người, chiếm 26,0% và giảm 243,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,2 triệu người, chiếm 33,2% và tăng 258,5 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,2 triệu người, chiếm 40,8% và tăng 523,3 nghìn người.

Nhìn chung, lao động có việc làm có xu hướng tăng nhưng thị trường lao động phát triển chưa bền vững khi số lao động có việc làm phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn. Số lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản)[2] quý II/2025 là 33,0 triệu người, chiếm 63,5% trong tổng số lao động có việc làm.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 63,9%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 48,0%, giảm 1,7 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 74,0%, giảm 0,5 điểm phần trăm; nam là 67,2%, giảm 1,0 điểm phần trăm và nữ là 60,1%, giảm 1,4 điểm phần trăm.

3. Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[3]

Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2025 là 799,2 nghìn người, tăng 2,2 nghìn người so với quý trước và giảm 148,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2025 là 1,73%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 1,47%, tăng 0,49 điểm phần trăm và giảm 0,06 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 1,90%, giảm 0,31 điểm phần trăm và giảm 0,51 điểm phần trăm.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 798,1 nghìn người, giảm 142,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,72%, giảm 0,33 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,23%, giảm 0,14 điểm phần trăm; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,05%, giảm 0,44 điểm phần trăm.

4. Thu nhập bình quân của người lao động

Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2025 là 8,2 triệu đồng/tháng, giảm 58 nghìn đồng so với quý I/2025 và tăng 800 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 9,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,0 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 9,9 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,2 triệu đồng/tháng.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, thu nhập bình quân của người lao động là 8,3 triệu đồng/tháng, tăng 10,1%, tương ứng tăng 760 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 9,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,1 triệu đồng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,0 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,2 triệu đồng/tháng.

5. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[4]

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2025 là 2,24%, tăng 0,04 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,49%; khu vực nông thôn là 2,08%.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động sáu tháng đầu năm 2025 là 2,22%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,44%; khu vực nông thôn là 2,08%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý II/2025 là 8,19%, tăng 0,26 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,18 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,23%; khu vực nông thôn là 7,06%. Trong quý II/2025, cả nước có khoảng 1,35 triệu thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,1%. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn là 11,4%, khu vực thành thị là 8,2%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 11,4%; nam là 8,9%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng đầu năm 2025 là 8,06%, tăng 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,65%, tăng 0,46 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 6,69%, giảm 0,18 điểm phần trăm.

6. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[5]

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ này tăng rất nhanh từ thời điểm quý I/2020 và đạt mức cao kỷ lục là 10,4% vào quý III/2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Quý II năm 2025, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,9% (tương ứng khoảng 2,06 triệu người).

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng quý II/2025 của khu vực thành thị và khu vực nông thôn đều là 3,9%. So với quý trước, tỷ lệ này ở khu vực thành thị tăng 0,6 điểm phần trăm và khu vực nông thôn giảm 0,4 điểm phần trăm.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,9%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 3,6% giảm 0,4 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 4,0%, giảm 0,5 điểm phần trăm.

7. Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý II/2025 là 3,9 triệu người, tăng 81,9 nghìn người so với quý trước và giảm 7,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là gần 3,9 triệu người, giảm 62,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động nữ chiếm 62,6%; lao động ở khu vực nông thôn chiếm 87,0%.

[1] Thu nhập của lao động quý II thường giảm so với quý I do các khoản thu nhập phụ trội bổ sung từ tiền làm thêm cuối năm và tiền thưởng dịp Tết Nguyên đán thường được chi trả chủ yếu trong quý I.

[2] Lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong khu vực hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) là những người có việc làm và thuộc một trong các trường hợp sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức (iii) người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; (iv) lao động trong khu vực hộ nông nghiệp.

[3] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.

[4] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.

[5] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.


Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia

Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)

Xem thêm