Kết quả khảo sát xu hướng sản xuất kinh doanh quý I/2026 cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp (DN) có nhiều điểm tích cực nhưng vẫn tồn tại không ít khó khăn, thách thức, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.
(1) Hoạt động kinh doanh có dấu hiệu hồi phục nhưng còn thận trọng
So với quý IV/2025, có 68,8% số DN đánh giá tình hình hoạt động SXKD quý I/2026 tốt hơn và giữ ổn định. Trong đó ngành thương mại và dịch vụ ghi nhận mức độ lạc quan cao nhất với 77,9% số DN đánh giá tình hình tốt hơn và ổn định, đây là khu vực hưởng lợi từ nhu cầu tiêu dùng và du lịch trong dịp Lễ, Tết Nguyên đán đầu năm. Ngược lại, ngành xây dựng ghi nhận tỷ lệ DN gặp khó khăn nhất với 44,4% số DN cho biết hoạt động SXKD kém hơn quý trước, phản ánh sức ép lớn từ thị trường và chi phí sản xuất đầu vào.
Chỉ số cân bằng tổng thể[1] của hoạt động SXKD giảm 10,7% so với quý trước, trong đó có 20,5% số DN đánh giá hoạt động SXKD tốt hơn; 31,2% số DN đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn.
Hình 1. Chỉ số cân bằng xu hướng sản xuất kinh doanh
quý I/2026 so với quý IV/2025
(2) Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả khảo sát cho thấy giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào và chi phí logistics là gánh nặng lớn nhất, gây khó khăn cho 56,1% số DN lựa chọn. Nhu cầu thị trường trong nước không đạt kỳ vọng cũng ảnh hưởng tiêu cực cũng được 50,4% số DN lựa chọn. Ngoài ra, sự cạnh tranh gay gắt của hàng hóa trong nước, lãi suất vay vốn tăng, thủ tục hành chính phức tạp cùng tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng làm gia tăng áp lực lên DN.
Hình 2. Đánh giá của doanh nghiệp về các nhân tố ảnh hưởng đến
sản xuất kinh doanh quý I/2026
Ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi khá khác nhau khi xét theo ngành kinh tế. Cụ thể:
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bị tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi, trong đó nổi bật nhất là 48,9% số DN lựa chọn “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” và 45,6% số DN lựa chọn “nhu cầu thị trường trong nước thấp”. Bên cạnh đó, 28,6% số DN gặp khó khăn do nhu cầu tại các thị trường quốc tế chưa phục hồi như kỳ vọng; 27,5% số DN cho biết lãi suất vay vốn vẫn còn ở mức cao; 27,3% gặp khó khăn do thiếu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ sản xuất. Ngoài ra, 25,3% số DN không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,2% gặp khó khăn về tài chính và chịu áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu; 13,1% số DN bị ảnh hưởng do thiết bị, công nghệ lạc hậu; 9,6% chịu tác động từ chính sách pháp luật; 5,3% gặp khó khăn do thiếu năng lượng và 3,4% không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay. Nhìn chung, các khó khăn của DN ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tập trung chủ yếu vào áp lực cạnh tranh, nhu cầu thị trường suy giảm và hạn chế về nguồn lực đầu vào.
Ngành xây dựng bị ảnh hưởng lớn bởi giá nguyên vật liệu tăng cao với 70,1% số DN lựa chọn và tình trạng thiếu hợp đồng xây dựng mới với 44,6%. Bên cạnh đó, 26,6% số DN bị ảnh hưởng do thiếu nguồn cung vật liệu; 24,8% cho rằng năng lực cạnh tranh còn hạn chế; 19,9% gặp vướng mắc do thủ tục hành chính rườm rà; 16,2% chịu tác động từ tiến độ giải phóng mặt bằng chậm; 12,5% bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết không thuận lợi và 11,4% số DN gặp khó khăn do thiếu thông tin về đấu thầu. Nhìn chung, các khó khăn chủ yếu tập trung vào áp lực chi phí đầu vào tăng cao và thiếu hụt cơ hội việc làm cho DN.
Ngành thương mại, dịch vụ gặp áp lực do tính cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và nhu cầu tiêu dùng thấp cùng với chi phí đầu vào tăng. Trong đó, tỷ lệ DN lựa chọn “tính cạnh tranh của thị trường trong nước cao” và “nhu cầu thị trường trong nước thấp” lần lượt là 63,5% và 58,5%. Bên cạnh đó, 45,7% số DN gặp khó khăn do chi phí đầu vào và chi phí kho bãi tăng cao; 35,5% cho rằng lãi suất vay vốn vẫn ở mức cao; 28,7% gặp khó khăn về tài chính. Ngoài ra, 22,9% số DN gặp trở ngại trong xúc tiến, quảng bá và mở rộng thị trường; 21,3% bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh còn phức tạp; 14,6% không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 11,6% chịu tác động từ thời tiết không thuận lợi. Đồng thời, 10,3% số DN gặp khó khăn do nhu cầu thị trường quốc tế thấp và cùng tỷ lệ này chịu áp lực cạnh tranh từ thị trường nhập khẩu; 6,3% không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay và 6,1% gặp khó khăn do thiết bị, công nghệ lạc hậu. Nhìn chung, các khó khăn của DN dịch vụ chủ yếu tập trung vào áp lực cạnh tranh, suy giảm nhu cầu thị trường và hạn chế về nguồn lực tài chính.
Đề xuất giải pháp từ phía doanh nghiệp
Để thúc đẩy hoạt động SXKD, các DN đề xuất Chính phủ cùng các bộ, ngành giảm lãi suất vay vốn (46,8% số DN kiến nghị); ổn định giá nguyên liệu và chi phí dịch vụ đầu vào (54,8%), đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Ngoài ra, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng logistic, thúc đẩy chuyển đổi số và cải thiện điều kiện tiếp cận vốn được các DN nhìn nhận là các yếu tố cốt lõi để vượt qua khó khăn và nâng cao sức cạnh tranh.
Giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Trong bối cảnh hiện nay, để hỗ trợ DN phục hồi và phát triển SXKD, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, tập trung chính vào các nội dung sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh các chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa nhằm thúc đẩy sức mua, tạo động lực tăng trưởng trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều bất ổn; hỗ trợ DN mở rộng thị trường xuất khẩu và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do..
Thứ hai, tăng cường hỗ trợ tài chính thông qua giảm lãi suất cho vay, gia hạn, miễn giảm thuế, phí và tạo điều kiện thuận lợi cho DN tiếp cận nguồn vốn; thực hiện giãn, hoãn hoặc giảm một số khoản thuế, phí đầu vào trong giai đoạn khó khăn nhằm giúp DN ổn định hoạt động sản xuất và duy trì việc làm.
Thứ ba, tiếp tục đơn giản hóa quy trình, mở rộng giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho DN phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ tư, Chú trọng phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới, mở rộng giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số, tạo điều kiện để doanh nghiệp thích ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.
[1] Chỉ số cân bằng thể hiện số phần trăm doanh nghiệp nhận định tăng trừ đi số phần trăm doanh nghiệp nhận định giảm.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

