Điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) hằng quý bao gồm 6.222 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và 5.982 doanh nghiệp ngành xây dựng được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành chế biến, chế tạo và xây dựng của 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng số doanh nghiệp trả lời trong kỳ điều tra quý II/2026 là 6.110 doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 98,2% số doanh nghiệp được chọn mẫu) và 5.763 doanh nghiệp ngành xây dựng (chiếm 96,3% số doanh nghiệp được chọn mẫu). Báo cáo kết quả điều tra xu hướng SXKD gồm hai phần:

Phần I: Xu hướng SXKD ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về: (1) Tổng quan chung hoạt động SXKD; (2) Biến động của các yếu tố đầu vào (số lượng đơn đặt hàng, lao động, chi phí sản xuất, công suất sử dụng máy móc, thiết bị); (3) Dự kiến kết quả đầu ra (khối lượng sản xuất, giá bán bình quân của một sản phẩm); (4) Biến động tồn kho (tồn kho thành phẩm, tồn kho nguyên vật liệu); (5) Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp và (6) Kiến nghị của doanh nghiệp.

Phần II: Xu hướng SXKD ngành xây dựng, phản ánh nhận định của doanh nghiệp về: (1) Tổng quan chung hoạt động SXKD; (2) Biến động của các yếu tố đầu vào (lao động, chi phí sản xuất, hợp đồng xây dựng mới, năng lực hoạt động của doanh nghiệp); (3) Vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh; (4) Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp và (5) Kiến nghị của doanh nghiệp.

PHẦN I. XU HƯỚNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

Kết quả điều tra cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục cải thiện trong quý II/2026 và xu hướng lạc quan được duy trì sang quý III/2026. Cụ thể, có 79,7% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý II/2026 so với quý I/2026 tốt hơn và giữ ổn định (36,3% tốt hơn và 43,4% giữ ổn định), 20,3% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[1]. Dự báo quý III/2026 khả quan hơn với 83,4% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý III/2026 so với quý II/2026 tốt hơn và giữ ổn định (39,4% tốt hơn, 44,0% giữ ổn định), 16,6% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn.

1. Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh

Đánh giá hoạt động SXKD của doanh nghiệp được thực hiện thông qua chỉ số cân bằng[2] chung và các chỉ số cân bằng thành phần, gồm: đơn đặt hàng mới, sử dụng lao động, khối lượng sản xuất và tồn kho thành phẩm. Chỉ số cân bằng chung đánh giá tổng quan xu hướng SXKD của doanh nghiệp, các chỉ số cân bằng thành phần phản ánh xu hướng biến động của từng khâu trong quá trình SXKD của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

1.1. Chỉ số cân bằng chung

Chỉ số cân bằng chung quý II/2026 so với quý I/2026 là 16,0% (36,3% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD tốt hơn, 20,3% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp nhà nước cao nhất với 20,7% (39,3% tốt hơn, 18,6% khó khăn hơn); khu vực doanh nghiệp FDI 18,8% (37,0% tốt hơn, 18,2% khó khăn hơn); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 14,0% (35,6% tốt hơn, 21,6% khó khăn hơn).

Chỉ số cân bằng chung quý III/2026 so với quý II/2026 là 22,8% (39,4% doanh nghiệp dự báo hoạt động SXKD tốt hơn, 16,6% doanh nghiệp dự báo hoạt động SXKD khó khăn hơn). Chỉ số cân bằng khu vực doanh nghiệp FDI cao nhất với 25,8% (40,6% tốt hơn, 14,8% khó khăn hơn); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 21,8% (39,0% tốt hơn, 17,2% khó khăn hơn); khu vực doanh nghiệp nhà nước 18,2% (37,7% tốt hơn, 19,5% khó khăn hơn).

1.2. Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới

Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới quý II/2026 so với quý I/2026 là 13,5% (33,9% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng mới tăng, 20,4% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng mới giảm). Trong đó, chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 19,7%; khu vực doanh nghiệp FDI 14,4% khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 12,5%.

Chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới quý III/2026 so với quý II/2026 là 21,6% (37,0% doanh nghiệp dự báo tăng và 15,4% doanh nghiệp dự báo giảm); khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 23,5%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 20,6% và khu vực doanh nghiệp nhà nước 20,4%.

1.3. Chỉ số cân bằng sử dụng lao động

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động quý II/2026 so với quý I/2026 là -1,4% (15,0% doanh nghiệp nhận định lao động tăng, 16,4% doanh nghiệp nhận định lao động giảm). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp FDI 3,3% (22,1% tăng, 18,8% giảm); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -3,6% (11,6% tăng, 15,2% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -4,4% (12,9% tăng, 17,3% giảm).

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động quý III/2026 so với quý II/2026 là 7,1% (17,6% tăng và 10,5% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với 13,6%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 4,1% và khu vực doanh nghiệp nhà nước 3,2%.

1.4. Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất

Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất quý II/2026 so với quý I/2026 là 17,7% (37,8% doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất tăng; 20,1% doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất giảm). Chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp nhà nước cao nhất với 27,1% (45,3% nhận định tăng, 18,2% nhận định giảm); khu vực doanh nghiệp FDI với 19,2% (37,6% tăng, 18,4% giảm); thấp nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 16,1% (37,2% tăng, 21,1% giảm).

Chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất quý III/2026 so với quý II/2026 là 23,7% (38,9% doanh nghiệp dự báo tăng, 15,2% doanh nghiệp dự báo giảm); khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 26,2%; khu vực doanh nghiệp nhà nước 23,6% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 22,5%.

1.5. Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm

Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm quý II/2026 so với quý I/2026 là -7,1% (19,1% doanh nghiệp nhận định tăng và 26,2% doanh nghiệp nhận định giảm). Chỉ số cân bằng ở khu vực doanh nghiệp FDI là -1,1% (22,0% tăng, 23,1% giảm); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -9,6% (17,9% tăng, 27,5% giảm); khu vực doanh nghiệp nhà nước -11,6% (17,0% tăng, 28,6% giảm).

Chỉ số cân bằng tồn kho thành phẩm quý III/2026 so với quý II/2026 là -9,6% (16,0% tăng, 25,6% giảm); khu vực doanh nghiệp FDI -0,8%; khu vực doanh nghiệp nhà nước -12,3% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước -13,8%.

2. Biến động của các yếu tố đầu vào

Theo kết quả khảo sát quý II/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp khả quan hơn so với quý I/2026, cụ thể:

Về số lượng đơn đặt hàng, có 79,6% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới tăng và giữ nguyên so với quý I/2026 (33,9% tăng, 45,7% giữ nguyên); 20,4% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới giảm[3]. Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2026 so với quý II/2026 tăng với 84,6% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (37,0% tăng, 47,6% giữ nguyên), 15,4% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 80,4% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý II/2026 tăng và giữ nguyên so với quý I/2026 (26,2% tăng, 54,2% giữ nguyên), tỷ lệ doanh nghiệp nhận định có đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm là 19,6%[4]. Các doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý III/2026 khả quan hơn với 84,7% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên so với quý II/2026 (31,2% tăng, 53,5% giữ nguyên); 15,3% doanh nghiệp dự báo giảm.

Về sử dụng lao động, có 15,0% doanh nghiệp nhận định sử dụng lao động tăng so với quý I/2026; 68,6% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và 16,4% doanh nghiệp nhận định giảm[5]. Dự báo sử dụng lao động quý III/2026 khả quan hơn quý II/2026 với 89,5% số doanh nghiệp dự kiến số lao động tăng và giữ nguyên (17,6% tăng, 71,9% giữ nguyên); 10,5% doanh nghiệp dự kiến lao động giảm.

 Về chi phí sản xuất, có 94,6% doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (38,3% tăng, 56,3% giữ nguyên); 5,4% doanh nghiệp nhận định giảm[6] so với quý I/2026. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026, có 93,2% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (28,9% tăng, 64,3% giữ nguyên), 6,8% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm giảm.

Về công suất sử dụng máy móc, thiết bị trong quý II/2026, công suất sử dụng máy móc, thiết bị bình quân là 75,5%, tăng so với quý I[7], phản ánh mức độ khai thác năng lực sản xuất tiếp tục được cải thiện. Có 42,5% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng máy móc, thiết bị từ 70% đến dưới 90%; 32,5% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 90% đến 100%; 16,6% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng từ 50% đến dưới 70% và 8,4% doanh nghiệp đánh giá công suất sử dụng dưới 50%.

3. Dự kiến kết quả đầu ra

Theo kết quả khảo sát quý II/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp khả quan hơn so với quý I/2026, cụ thể:

Về khối lượng sản xuất, có 79,9% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên so với quý I/2026 (37,8% tăng, 42,1% giữ nguyên), 20,1% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm[8]. Khối lượng sản xuất quý III/2026 so với quý II/2026 khả quan hơn với 84,8% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (38,9% tăng, 45,9% giữ nguyên), 15,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.

Về giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm, tỷ lệ doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý II/2026 so với quý I/2026 tăng và giữ nguyên là 94,3% (26,8% tăng, 67,5% giữ nguyên), 5,7% doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm giảm[9]. Nhận định về giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý III/2026 so với quý II/2026, có 94,2% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên (22,7% tăng, 71,5% giữ nguyên), 5,8% doanh nghiệp dự báo giảm.

4. Biến động tồn kho

Về tồn kho thành phẩm, có 19,1% doanh nghiệp nhận định khối lượng thành phẩm tồn kho quý II/2026 tăng so với quý I/2026; 54,7% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên và 26,2% đánh giá giảm[10]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026, có 16,0% doanh nghiệp dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm tăng; 58,4% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên khối lượng tồn kho thành phẩm; 25,6% doanh nghiệp dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm giảm.

Về tồn kho nguyên vật liệu, có 74,7% doanh nghiệp nhận định tồn kho nguyên vật liệu quý II/2026 so với quý I/2026 tăng và giữ nguyên (18,1% tăng, 56,6% giữ nguyên), 25,3% doanh nghiệp nhận định giảm[11].

Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026, có 15,2% doanh nghiệp đánh giá khối lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng, 59,7% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên và 25,1% doanh nghiệp dự kiến giảm khối lượng tồn kho nguyên vật liệu.

Nhìn chung, kết quả điều tra quý II/2026 cho thấy hoạt động SXKD của doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2026 tốt hơn so với quý I/2026, đồng đều ở cả 3 khu vực doanh nghiệp: chỉ số cân bằng khu vực doanh nghiệp nhà nước là 20,7%, khu vực doanh nghiệp FDI là 18,8% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 14,0%. Dự báo quý III/2026, chỉ số cân bằng chung tăng 6,8 điểm phần trăm so với quý II/2026, tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI.

Theo ngành kinh tế, một số ngành vẫn nối tiếp đà tăng trưởng của các quý trước, nổi bật là: ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất, sử dụng lao động, đơn đặt hàng mới và đơn đặt hàng xuất khẩu quý II/2026 tăng so với quý I/2026 lần lượt là 48,8%; 32,0%; 41,7% và 38,9%. Ngành dệt cũng ghi nhận kết quả tích cực với tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất và đơn đặt hàng quý II/2026 tăng khá cao so với quý I/2026 lần lượt là 42,8% và 40,4%.

Bên cạnh đó, một số ngành được nhận định khó khăn hơn, cụ thể: ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu quý II/2026 giảm so với quý I/2026 lên đến 27,3% và 27,8%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) có tỷ lệ doanh nghiệp nhận định đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu giảm so với quý trước lên đến 26,4% và 27,2%.

5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Trong quý II/2026, doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường đầu ra cho các sản phẩm trong nước và lãi suất vay vốn để phục vụ cho hoạt động SXKD.

Tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn tính cạnh tranh của hàng trong nước cao là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp với 50,6% (tăng 1,7 điểm phần trăm so với quý I/2026). Nổi bật ở một số ngành: ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu có 75,7% doanh nghiệp nhận định tính cạnh tranh của các mặt hàng trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động SXKD; ngành sản xuất đồ uống 70,9%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 67,3%.

Có 47,4% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường trong nước vẫn ở mức thấp (tăng 1,8 điểm phần trăm so với quý trước). Nổi bật ở một số ngành: ngành sản xuất đồ uống 61,0%; ngành in, sao chép bản ghi các loại 64,9%; ngành dệt 55,4%.

Có 28,4% doanh nghiệp gặp khó khăn do lãi suất vay vốn cao (tăng 0,9 điểm phần trăm so với quý trước). Nổi bật ở một số ngành: ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) 38,0%; ngành dệt 37,3%; ngành sản xuất kim loại 36,8%.

6. Kiến nghị của doanh nghiệp

Trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy SXKD. Tuy nhiên, qua kết quả điều tra, doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, có 46,9% doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước có các biện pháp bình ổn giá nguyên vật liệu, năng lượng nhằm giảm áp lực chi phí sản xuất. Theo ngành kinh tế, một số ngành có tỷ lệ doanh nghiệp kiến nghị bình ổn giá nguyên vật liêu, năng lượng cao hơn mức bình quân chung cả nước, gồm: ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 58,9%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất và ngành sản xuất phương tiện vận tải khác 51,8%. Theo địa phương, có đến 25/34 tỉnh, thành phố có tỷ lệ doanh nghiệp kiến nghị cao, đặc biệt ở một số địa phương lớn như Hà Nội 52,9%; Hải Phòng 50,3%; Ninh Bình 49,9%; Bắc Ninh 49,6% và Hưng Yên 47,3%.

Thứ hai, có 43,4% doanh nghiệp kiến nghị ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhằm giảm chi phí vốn và hỗ trợ mở rộng sản xuất. Kiến nghị này tập trung nhiều ở các ngành như: ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) 54,4%; ngành sản xuất kim loại 52,5%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 50,9%. Theo địa phương, có 15/34 tỉnh, thành phố kiến nghị cần được giảm lãi suất cho vay, đặc biệt ở một số địa phương lớn như Hà Nội 56,1%; Gia Lai 55,4%; Thanh Hóa 52,2%; Phú Thọ 49,8%.

Thứ ba, có 33,9% doanh nghiệp mong muốn được ổn định nguồn cung nguyên vật liệu để bảo đảm hoạt động sản xuất. Tỷ lệ này cao hơn mức bình quân chung cả nước ở các ngành, gồm: ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 48,5%; ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) 43,6%; ngành sản xuất, chế biến thực phẩm 41,3%. Theo địa phương, có đến 23/34 tỉnh, thành phố mong muốn được hỗ trợ ổn định nguồn cung nguyên vật liệu, đặc biệt ở một số địa phương lớn như: Cần Thơ 49,7%; Hà Nội 40,0%; Bắc Ninh 38,4%; Hưng Yên 38,6% và Ninh Bình 37,5%.

Bên cạnh đó, có 25,9% doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ rút ngắn thời gian và cắt giảm quy trình xử lý thủ tục hành chính; có 21,7% doanh nghiệp mong muốn được hỗ trợ cắt giảm thủ tục và điều kiện vay vốn; có 20,8% doanh nghiệp mong muốn được giảm tiền thuê đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động SXKD.

PHẦN II. XU HƯỚNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGÀNH XÂY DỰNG

Kết quả điều tra cho thấy hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng trong quý II/2026 được đánh giá thuận lợi hơn so với quý I/2026, với 28,6% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn; 41,0% doanh nghiệp nhận định giữ ổn định và 30,4% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn[12]. Dự báo quý III/2026, hoạt động SXKD của các doanh nghiệp xây dựng tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và cải thiện so với với quý II/2026. Cụ thể, 27,0% doanh nghiệp dự báo hoạt động SXKD thuận lợi hơn; 44,4% nhận định giữ ổn định và 28,6% dự báo khó khăn hơn.

1. Tổng quan chung về hoạt động sản xuất kinh doanh

Xu hướng hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng được đánh giá thông qua hệ thống chỉ số cân bằng, bao gồm chỉ số cân bằng chung và chỉ số cân bằng thành phần. Chỉ số cân bằng chung phản ánh xu hướng tổng thể của hoạt động SXKD; các chỉ số cân bằng thành phần phản ánh sự biến động của các yếu tố đầu vào và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, gồm: hợp đồng xây dựng mới, vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất và sử dụng lao động của các doanh nghiệp xây dựng.

1.1. Chỉ số cân bằng chung

 Chỉ số cân bằng xu hướng SXKD ngành xây dựng quý II/2026 so với quý I/2026[13] là -1,8% (28,6% doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD thuận lợi hơn và 30,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD khó khăn hơn).

Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 tương đối ổn định với với chỉ số cân bằng là -1,6% (27,0% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn và 28,6% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn).

1.2. Chỉ số cân bằng hợp đồng xây dựng mới

Chỉ số cân bằng hợp đồng xây dựng mới quý II/2026 so với quý I/2026 là 5,9% (26,3% doanh nghiệp nhận định tăng; 20,4% doanh nghiệp nhận định giảm). Chỉ số cân bằng hợp đồng xây dựng mới quý III/2026 so với quý II/2026 là 11,6% (28,5% doanh nghiệp dự báo tăng; 16,9% doanh nghiệp dự báo giảm).

Theo ngành kinh tế, quý II/2026 so với quý I/2026, doanh nghiệp xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng[14] có chỉ số cân bằng hợp đồng xây dựng mới khả quan nhất là 8,8%; doanh nghiệp hoạt động xây dựng nhà các loại[15] 7,3%; doanh nghiệp hoạt động xây dựng chuyên dụng[16] 1,0%. Quý III/2026, các doanh nghiệp xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng dự báo chỉ số cân bằng hợp đồng xây dựng mới so với quý II/2026 cao nhất với 15,2%; doanh nghiệp xây dựng nhà các loại 12,9% và doanh nghiệp hoạt động xây dựng chuyên dụng 6,0%.

1.3. Chỉ số cân bằng về vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh

Chỉ số cân bằng về vay vốn phục vụ SXKD quý II/2026 so với quý I/2026 là -9,5% (16,8% doanh nghiệp dự báo tăng và 26,3% dự báo giảm)[17]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 thuận lợi hơn với -7,3% (15,7% doanh nghiệp dự báo tăng và 23,0% dự báo giảm).

1.4. Các chỉ số cân bằng chi phí sản xuất

Chỉ số cân bằng tổng chi phí cho hoạt động xây dựng quý II/2026 so với quý I/2026 là 42,3% (55,9% doanh nghiệp dự báo tăng và 13,6% doanh nghiệp dự báo giảm)[18]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 chỉ số cân bằng giảm, với 41,5% (51,5% doanh nghiệp dự báo tăng và 10,0% doanh nghiệp dự báo giảm).

Chỉ số cân bằng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp quý II/2026 so với quý I/2026 là 49,8% (61,5% doanh nghiệp dự báo tăng và 11,7% dự báo giảm)[19]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 giảm với 46,7% (55,8% doanh nghiệp dự báo tăng và 9,1% dự báo giảm).

Chỉ số cân bằng chi phí nhân công trực tiếp quý II/2026 so với quý I/2026 là 38,6% (50,2% doanh nghiệp dự báo tăng và 11,6% dự báo giảm)[20]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 tăng với 39,1% (47,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 8,3% dự báo giảm).

1.5. Các chỉ cố cân bằng sử dụng lao động

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động chung quý II/2026 so với quý I/2026 là 6,8% (23,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 16,6% dự báo giảm)[21]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 tăng với 13,4% (24,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 11,0% dự báo giảm).

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động thường xuyên quý II/2026 so với quý I/2026 là 1,5% (12,2% doanh nghiệp dự báo tăng và 10,7% dự báo giảm)[22]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 tăng với 6,2% (13,2% doanh nghiệp dự báo tăng và 7,0% dự báo giảm).

Chỉ số cân bằng sử dụng lao động thời vụ quý II/2026 so với quý I/2026 là 4,7% (21,1% doanh nghiệp dự báo tăng và 16,4% dự báo giảm)[23]. Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 tăng với 10,1% (22,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 12,2% dự báo giảm).

2. Biến động của các yếu tố đầu vào

2.1. Sử dụng lao động

Kết quả khảo sát quý II/2026 cho thấy, có 23,4% doanh nghiệp nhận định lao động trong doanh nghiệp tăng so với quý I/2026; 60,0% doanh nghiệp nhận định lao động không đổi và 16,6% doanh nghiệp nhận định lao động giảm[24].

Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 có 24,4% doanh nghiệp nhận lao định lao động tăng; 64,6% doanh nghiệp nhận định không đổi và 11,0% doanh nghiệp nhận định lao động giảm.

Lao động thường xuyên

Quý II/2026 có 12,2% doanh nghiệp nhận định lao động thường xuyên tăng so với quý I/2026; 77,1% doanh nghiệp nhận định không đổi và 10,7% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo quý III/2026, có 13,2% doanh nghiệp nhận định lao động thường xuyên tăng so với quý II/2026; 79,8% doanh nghiệp nhận định không đổi và 7,0% doanh nghiệp nhận định giảm.

Lao động thời vụ

Theo kết quả khảo sát, quý II/2026 có 21,1% doanh nghiệp nhận định lao động thời vụ tăng so với quý I/2026; 62,5% doanh nghiệp nhận định không đổi và 16,4% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo quý III/2026, có 22,3% doanh nghiệp nhận định lao động thời vụ tăng so với quý II/2026; 65,5% doanh nghiệp nhận định không đổi và 12,2% doanh nghiệp nhận định giảm.

2.2. Chi phí sản xuất

Quý II/2026, có 55,9% doanh nghiệp nhận định tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng so với quý I/2026; 30,5% doanh nghiệp nhận định không thay đổi; 13,6% doanh nghiệp nhận định tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm giảm[25].

Dự báo quý III/2026 so với quý II/2026 có 51,5% doanh nghiệp dự báo tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng; 38,5% doanh nghiệp dự báo không đổi và 10,0% doanh nghiệp dự báo tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm giảm.

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Kết quả khảo sát cho thấy trong quý II/2026, có 61,5% doanh nghiệp nhận định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng so với quý I/2026; 26,8% doanh nghiệp nhận định không đổi và 11,7% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo quý III/2026, có 55,8% doanh nghiệp dự báo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng so với quý II/2026; 35,1% doanh nghiệp nhận định không đổi và 9,1% doanh nghiệp dự báo giảm.

Chi phí nhân công trực tiếp

Quý II/2026, có 50,2% doanh nghiệp nhận định chi phí nhân công trực tiếp tăng; 38,2% doanh nghiệp nhận định chi phí nhân công trực tiếp không đổi và 11,6 doanh nghiệp nhận định chi phí nhân công trực tiếp giảm so với quý I/2026. Quý III/2026, có 47,4% doanh nghiệp dự báo chi phí nhân công trực tiếp tăng so với quý II/2026; 44,3% doanh nghiệp nhận định không đổi; 8,3% doanh nghiệp dự báo chi phí nhân công trực tiếp giảm.

2.3. Hợp đồng xây dựng mới

Quý II/2026, có 79,6% doanh nghiệp nhận định số lượng hợp đồng xây dựng mới tăng và không đổi so với quý I/2026 (26,3% doanh nghiệp nhận định tăng; 53,3% doanh nghiệp nhận định không đổi); có 20,4% doanh nghiệp nhận định số lượng hợp đồng xây dựng mới giảm[26].

Dự báo quý III/2026, các doanh nghiệp nhận định hợp đồng xây dựng mới tăng hơn quý II/2026 với 83,1% doanh nghiệp nhận định tăng và không đổi (28,5% doanh nghiệp nhận định tăng; 54,6% doanh nghiệp nhận định không thay đổi); 16,9% doanh nghiệp nhận định số lượng hợp đồng xây dựng mới giảm.

2.4. Năng lực hoạt động của doanh nghiệp

 Kết quả khảo sát quý II/2026 cho thấy:

Có 16,0% doanh nghiệp đánh giá hoạt động dưới 50% năng lực thực tế của doanh nghiệp; 33,9% doanh nghiệp đánh giá năng lực hoạt động từ 50% đến dưới 70% năng lực thực tế; 28,9% doanh nghiệp đánh giá năng lực hoạt động từ 70% đến dưới 90%; 18,9% doanh nghiệp đánh giá năng lực hoạt động từ 90 đến 100%; 2,3% doanh nghiệp đánh giá doanh nghiệp hoạt động trên 100% năng lực thực tế của doanh nghiệp.

3. Vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh

Kết quả khảo sát quý II/2026 cho thấy, có 76,2% doanh nghiệp vay vốn cho hoạt động SXKD[27]. Trong số các doanh nghiệp có vay vốn, 75,6% doanh nghiệp vay ngân hàng; 12,0% doanh nghiệp vay người thân, bạn bè; 7,8% doanh nghiệp vay tổ chức tín dụng khác; 3,2% doanh nghiệp vay nhân viên ngân hàng, tổ chức tín dụng không qua thủ tục chính thức; 1,4% doanh nghiệp vay từ các nguồn khác. Trong số các doanh nghiệp có vay vốn ngân hàng phục vụ SXKD, chỉ có 39,7% doanh nghiệp tiếp cận được các khoản vay ưu đãi; 60,3% doanh nghiệp không tiếp cận được các nguồn vay ưu đãi[28].

Nhận định về tình hình vay vốn cho hoạt động SXKD, có 16,8% doanh nghiệp nhận định vay vốn quý II/2026 thuận lợi hơn quý I/2026, 56,9% doanh nghiệp nhận định không thay đổi, 26,3% doanh nghiệp nhận định vay vốn khó khăn hơn. Dự báo quý III/2026, có 15,7% doanh nghiệp nhận định vay vốn thuận lợi hơn quý II/2026, 61,3% doanh nghiệp nhận định không thay đổi, 23,0% doanh nghiệp nhận định vay vốn khó khăn hơn.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp

Qua kết quả khảo sát, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng trong quý II/2026 nhìn chung không có nhiều thay đổi so với quý I/2026. Giá nguyên vật liệu tăng cao tiếp tục là yếu tố ảnh hướng lớn nhất, với tỷ lệ doanh nghiệp nhận định tăng nhẹ từ 70,1% lên 70,3%, cho thấy áp lực từ biến động giá nguyên vật liệu vẫn chưa được cải thiện và tiếp tục
tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, tiến độ triển khai công trình cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khó khăn về nguồn cung nguyên vật liệu xây dựng có xu hướng giảm nhẹ, từ 26,6% xuống 25,5%, tuy nhiên tình trạng giá vật liệu biến động, nguồn cung một số loại bị hạn chế, cùng với chi phí vận chuyển tăng vẫn là những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Tình trạng không có hợp đồng xây dựng mới tiếp tục là yếu tố ảnh hưởng lớn thứ hai, tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn đã giảm từ 44,6% trong quý I/2026 xuống 40,2% trong quý II/2026. Điều này cho thấy nhu cầu thị trường có dấu hiệu cải thiện, nhưng khả năng mở rộng hoạt động và ký kết hợp đồng mới
của doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều hạn chế.

Bên cạnh đó, hoạt động SXKD của doanh nghiệp còn chịu tác động từ nhiều yếu tố đầu vào khác, cụ thể:

– Về nguồn vốn, các yếu tố liên quan có mức biến động không đáng kể giữa hai quý. Doanh nghiệp khó khăn do thiếu vốn sản xuất kinh doanh tăng nhẹ từ 21,2% lên 21,3%; trong khi khó khăn do tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản không được thanh quyết toán đúng kỳ hạn tăng từ 25,2% lên 25,5%. Điều này cho thấy khả năng tiếp cận nguồn vốn và áp lực dòng tiền vẫn là những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Về lao động, khó khăn trong tuyển dụng nhân lực có xu hướng gia tăng khi doanh nghiệp nhận định tăng từ 18,7% trong quý I/2026 lên 20,5% trong quý II/2026. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhu cầu lao động có trình độ, kỹ thuật và kinh nghiệm ngày càng cao, trong khi nguồn cung lao động phù hợp còn hạn chế, gây ảnh hưởng đến khả năng triển khai và mở rộng hoạt động của doanh nghiệp.

Ngoài ra, một số yếu tố khách quan cũng ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng, cụ thể: Doanh nghiệp gặp khó khăn do thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp giảm từ 19,9% trong quý I/2026 xuống 18,5% trong quý II/2026; khó khăn do công tác giải phóng mặt bằng chậm giảm từ 16,2% xuống 15,6%; trong khi yếu tố thời tiết không thuận lợi tăng từ 12,5% lên 18,6%. Bên cạnh đó, khó khăn do không tiếp cận được thông tin đấu thầu giảm từ 11,4% xuống 10,6%.

Xét về năng lực của doanh nghiệp, trong quý II/2026 có 24,9% doanh nghiệp cho rằng năng lực cạnh tranh còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tham gia đấu thầu và ký kết các hợp đồng xây dựng, tăng nhẹ so với mức 24,8% trong quý I/2026.

5. Kiến nghị của doanh nghiệp

Qua kết quả khảo sát, các kiến nghị của doanh nghiệp xây dựng tiếp tục tập trung vào 3 nhóm vấn đề chính là giảm chi phí đầu vào, cải thiện khả năng tiếp cận vốn và tháo gỡ các khó khăn trong triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó, 64,0% doanh nghiệp kiến nghị có giải pháp bình ổn giá và đảm bảo nguồn cung nguyên vật liệu xây dựng (giảm 1,9 điểm phần trăm so với quý I/2026), tiếp tục là kiến nghị được nhiều doanh nghiệp quan tâm nhất. Bên cạnh đó, có 43,6% doanh nghiệp kiến nghị hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh; 37,3% doanh nghiệp đề nghị công khai, minh bạch thông tin đấu thầu (giảm 2,0 điểm phần trăm so với quý I/2026). Các kiến nghị về cắt giảm thủ tục hành chính và bàn giao mặt bằng đúng tiến độ cũng có xu hướng giảm nhẹ, lần lượt từ 36,1% trong quý I/2026 xuống 35,2% trong quý II/2026 và từ 26,2% xuống 25,0%. Ngược lại, kiến nghị xử lý tình trạng chậm thanh quyết toán, nợ đọng xây dựng cơ bản tăng từ 27,3% lên 28,0%, cho thấy vấn đề dòng tiền và khả năng thu hồi vốn vẫn là mối quan tâm đáng kể của doanh nghiệp trong quá trình duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

CỤC THỐNG KÊ

[1] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 69,9% doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định (23,8% tốt lên và 46,1% giữ ổn định); 30,1% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.

[2] Chỉ số cân bằng thể hiện số phần trăm doanh nghiệp nhận định tăng trừ đi số phần trăm doanh nghiệp nhận định giảm.

[3] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 71,5% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng và giữ nguyên (21,9% tăng; 49,6% giữ nguyên) và 28,5% nhận định giảm.

[4] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 72,7% doanh nghiệp nhận định đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng và giữ nguyên (17,7% tăng; 55,0% giữ nguyên) và 27,3% nhận định giảm.

[5] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 11,1% doanh nghiệp nhận định sử dụng lao động tăng, 71,1% giữ nguyên và 17,8% nhận định giảm.

[6] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 94,3% doanh nghiệp nhận định chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (38,2% tăng; 56,1% giữ nguyên) và 5,7% nhận định giảm.

[7] Chỉ số tương ứng của quý I/2026 là 74,8%.

[8] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 69,1% doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất tăng và giữ nguyên (23,8% tăng; 45,3% giữ nguyên) và 30,9% doanh nghiệp nhận định giảm.

[9] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 93,5% doanh nghiệp nhận định giá bình quân một một đơn vị sản phẩm tăng và giữ nguyên (23,8% tăng; 69,7% giữ nguyên) và 6,5% giảm.

[10] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 17,6% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm tăng; 54,3% doanh nghiệp đánh giá giữ nguyên; 28,1% doanh nghiệp đánh giá giảm.

[11] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 16,4% doanh nghiệp nhận định tồn kho nguyên vật liệu tăng; 56,7% nhận định giữ nguyên; 26,9% nhận định giảm.

[12] Chỉ số tương ứng của quý I/2026 là: 16,2% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn; 39,4% doanh nghiệp nhận định giữ ổn định và 44,4% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn.

[13] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: -28,2% (16,2% doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD thuận lợi hơn và 44,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động SXKD khó khăn hơn).

[14] Bao gồm: xây dựng công trình đường sắt, đường bộ, công trình thủy, công trình điện, công trình cấp thoát nước, công trình viễn thông, nhà máy lọc dầu, công trình thể thao ngoài trời,…

[15] Bao gồm: xây dựng nhà để ở, nhà xưởng, bệnh viện, trường học, khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, nhà ga hàng không, nhà kho, khu thể thao trong nhà, …

[16] Bao gồm: hoạt động phá dỡ, chuẩn bị mặt bằng, ép cọc; hoạt động hoàn thiện công trình: trát vữa, sơn tường, lắp đặt thiết bị nội thất, lắp hệ thống điện, nước,…

[17] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: -20,7% (12,7% doanh nghiệp dự báo tăng và 33,4% dự báo giảm).

[18] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 20,9% (45,4% doanh nghiệp dự báo tăng và 24,5% doanh nghiệp
dự báo giảm).

[19] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 32,4% (52,9% doanh nghiệp dự báo tăng và 20,5% dự báo giảm).

[20] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 21,1% (41,3% doanh nghiệp dự báo tăng và 20,2% dự báo giảm).

[21] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: -11,8% (14,7% doanh nghiệp dự báo tăng và 26,5% dự báo giảm).

[22] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: -4,3% (8,8% doanh nghiệp dự báo tăng và 13,1% dự báo giảm).

[23] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: -14,3% (12,8% doanh nghiệp dự báo tăng và 27,1% dự báo giảm).

[24] Chỉ số tương ứng quý I/2026: 14,7% doanh nghiệp nhận đinh tăng; 58,8% không đổi và 26,5% doanh nghiệp nhận định giảm.

[25] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 45,4% nhận định tăng so với quý IV/2025; 30,1% doanh nghiệp đánh giá tổng chi phí trên một đơn vị sản phẩm không thay đổi và 24,5% nhận định giảm.

[26] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: có 65,1% doanh nghiệp nhận định số lượng hợp đồng xây dựng mới tăng và không đổi so với quý IV/2025 (16.6% doanh nghiệp nhận định tăng; 48.5% doanh nghiệp nhận định không đổi); có 34,9% doanh nghiệp nhận định số lượng hợp đồng xây dựng mới giảm.

[27] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 77,2% doanh nghiệp vay vốn phục vụ SXKD.

[28] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 31,1% doanh nghiệp tiếp cận được các khoản vay ưu đãi; 68,9% doanh nghiệp không tiếp cận được các nguồn vay ưu đãi.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm