Vụ lúa đông xuân là vụ sản xuất lúa quan trọng nhất trong năm ở Việt Nam, chiếm khoảng 42% diện tích gieo cấy lúa và chiếm 47% tổng sản lượng lúa cả năm. Vụ đông xuân được gieo trồng trong điều kiện khí hậu chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa xuân, tùy theo điều kiện tự nhiên và lịch thời vụ của từng vùng sinh thái, thời gian gieo cấy thường bắt đầu từ khoảng tháng 11 hoặc tháng 12 năm trước và kết thúc gieo cấy vào tháng 1 hoặc tháng 2 năm sau; thu hoạch tập trung từ tháng 4 đến tháng 6. Đây là vụ sản xuất có điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, nhiệt độ và nguồn nước đáp ứng tốt cho quá trình sinh trưởng của cây lúa, đồng thời ít chịu tác động của mưa bão trong giai đoạn cuối vụ so với các vụ khác.
Đặc điểm nổi bật của vụ lúa đông xuân là năng suất và chất lượng lúa thường đạt mức cao nhất trong năm. Điều kiện khí hậu mát mẻ trong giai đoạn đầu vụ giúp cây lúa sinh trưởng khỏe, đẻ nhánh tốt, trong khi nền nhiệt tăng dần vào cuối vụ tạo thuận lợi cho quá trình trỗ bông, thụ phấn và tích lũy tinh bột.
Vụ lúa đông xuân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Đây là vụ lúa đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng sản lượng lúa hằng năm, tạo nguồn cung ổn định cho tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Kết quả sản xuất của vụ đông xuân cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng lúa, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sự ổn định của chuỗi cung ứng lúa gạo. Đồng thời, thành công của vụ đông xuân tạo nền tảng thuận lợi cho việc triển khai các vụ sản xuất tiếp theo, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển ngành trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Vụ đông xuân năm 2026 đạt được kết quả tích cực. Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932,1 nghìn ha, giảm 37,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước. Tuy nhiên, năng suất và sản lượng vụ đông xuân năm 2026 đều tăng so với cùng vụ năm trước, với năng suất đạt cao nhất từ trước đến nay, 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha. Trong đó, các địa phương miền Bắc năng suất đạt 65,3 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; các địa phương miền Nam đạt 72,2 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha. Một số địa phương có năng suất lúa đông xuân tăng khá so với vụ đông xuân năm trước: Thành phố Huế tăng 4,7 tạ/ha; Quảng Trị tăng 3,7 tạ/ha; Lào Cai tăng 2,5 tạ/ha; Tây Ninh tăng 2,4 tạ/ha; An Giang tăng 2,2 tạ/ha; Đồng Tháp tăng 1,6 tạ/ha.
Đạt được mức tăng năng suất khả quan như trên là do vụ đông xuân năm nay, các địa phương tiếp tục rà soát, lựa chọn và mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng tỷ lệ sử dụng giống xác nhận, giống nguyên chủng nhằm bảo đảm độ thuần, tỷ lệ nảy mầm và khả năng sinh trưởng của cây lúa. Đồng thời, loại bỏ dần các giống đã thoái hóa, năng suất thấp hoặc không còn phù hợp với điều kiện sản xuất. Thực hiện nghiêm lịch thời vụ theo từng vùng sinh thái nhằm tận dụng điều kiện thời tiết thuận lợi trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lúa. Việc gieo cấy đúng khung thời vụ giúp hạn chế ảnh hưởng của rét đậm, rét hại đầu vụ, tránh nắng nóng cuối vụ và giảm áp lực sâu bệnh, qua đó nâng cao tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu, số hạt chắc trên bông và năng suất.
Bên cạnh đó, các địa phương đẩy mạnh áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến như “1 phải, 5 giảm” , “3 giảm, 3 tăng” , quản lý cây trồng tổng hợp, quản lý dinh dưỡng theo nhu cầu cây trồng. Thực hiện gieo cấy với mật độ hợp lý, bón phân cân đối giữa đạm, lân, kali và trung vi lượng; tăng sử dụng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học nhằm cải thiện độ phì của đất, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và tăng năng suất bền vững. Chủ động quản lý nước tưới, áp dụng phương pháp tưới ngập khô xen kẽ nhằm tiết kiệm nước, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng, giảm phát thải khí nhà kính và vẫn duy trì năng suất cao. Đặc biệt là tăng cường phòng trừ sâu bệnh theo hướng bền vững, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc “4 đúng” , hạn chế lạm dụng thuốc hóa học để bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng và duy trì năng suất ổn định. Đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ cao trong các khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch nhằm giảm thất thoát, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Mở rộng ứng dụng công nghệ số, hệ thống giám sát đồng ruộng, máy bay không người lái trong bón phân, phun thuốc và theo dõi sinh trưởng cây trồng, góp phần nâng cao độ chính xác trong quản lý sản xuất. Khuyến khích luân canh cây trồng, sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để cải tạo đất. Đồng thời, tăng cường các biện pháp giảm đốt rơm rạ, tái sử dụng phụ phẩm sau thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng đất, giảm ô nhiễm môi trường và duy trì năng suất lâu dài.
Mặc dù diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2026 giảm do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, nhưng nhờ năng suất lúa tăng nên sản lượng lúa đông xuân tăng so với năm trước, góp phần duy trì ổn định sản lượng và bảo đảm an ninh lương thực. Sản lượng lúa vụ đông xuân năm 2026 ước đạt gần 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước, trong đó: Các địa phương miền Bắc đạt 6,8 triệu tấn, giảm 0,6 nghìn tấn; các địa phương miền Nam đạt 13,68 triệu tấn, tăng 88,7 nghìn tấn. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đóng vai trò quyết định đối với sản lượng lúa đông xuân cả nước, đạt 9,3 triệu tấn, chiếm 45,4% sản lượng lúa đông xuân của cả nước. Năng suất tăng ở nhiều địa phương đã góp phần bù đắp diện tích giảm do chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển công nghiệp và đô thị hóa, đồng thời phản ánh hiệu quả của việc ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa và các biện pháp canh tác tiên tiến trong sản xuất lúa đông xuân. An Giang là địa phương có sản lượng lúa đông xuân lớn nhất cả nước với 3.936,9 nghìn tấn, tăng 81,6 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2025; Cần Thơ đứng thứ hai với sản lượng đạt 2.344,4 nghìn tấn, giảm 17,4 nghìn tấn; Tây Ninh đạt 1.926,7 nghìn tấn, tăng 1,1 nghìn tấn.
Ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Bắc Trung Bộ ghi nhận kết quả khá tích cực khi sản lượng đạt 2.284,5 nghìn tấn, tăng 52,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2025. Đây là mức tăng cao nhất trong các vùng sản xuất lớn, chủ yếu nhờ năng suất tăng 1,7 tạ/ha, trong khi diện tích hầu như ổn định, trong đó, Thanh Hóa là địa phương có sản lượng lớn nhất khu vực đạt 765,6 nghìn tấn, tăng 2,0 nghìn tấn. Ở khu vực phía Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 3.154,9 nghìn tấn, giảm 68 nghìn tấn, nguyên nhân chủ yếu là diện tích gieo cấy giảm 11,7 nghìn ha trong khi năng suất chỉ tăng nhẹ 0,2 tạ/ha chưa đủ bù đắp phần diện tích giảm. Một số địa phương có sản lượng lớn như Hà Nội đạt 506,1 nghìn tấn, giảm 4,1 nghìn tấn; Bắc Ninh đạt 459,5 nghìn tấn, giảm 13,1 nghìn tấn; trong khi Quảng Ninh là một trong số ít địa phương tăng sản lượng ở mức 0,8 nghìn tấn nhờ mở rộng diện tích và duy trì năng suất ổn định.
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả và xanh, kết quả sản xuất lúa đông xuân năm 2026 có ý nghĩa quan trọng, phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kết quả của việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất lúa, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

