Trong sáu tháng đầu năm 2026, ngành Thủy sản hoạt động trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu chủ lực từng bước phục hồi, giá một số sản phẩm thủy sản duy trì ở mức khá, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ. Nhờ đó, nuôi trồng thủy sản duy trì đà tăng trưởng tích cực, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, hoạt động khai thác biển vẫn gặp nhiều khó khăn do chi phí sản xuất cao, nguồn lợi thủy sản suy giảm và yêu cầu quản lý khai thác ngày càng chặt chẽ theo hướng phát triển bền vững.

Trong tháng 6/2026, sản xuất thủy sản diễn ra tương đối thuận lợi nhờ điều kiện thời tiết cơ bản ổn định, môi trường nuôi trồng thủy sản tại nhiều địa phương được kiểm soát tốt, dịch bệnh được hạn chế. Sản lượng thủy sản tháng 6/2026 ước đạt 992,5 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 645,8 nghìn tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 262,5 nghìn tấn, tăng 7,9%; thủy sản khác đạt 84,2 nghìn tấn, tăng 6,6%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.497,9 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 774,1 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 682,2 nghìn tấn, tăng 4,7%. Người dân tiếp tục đầu tư chăm sóc và mở rộng diện tích nuôi đối với các mặt hàng có giá trị kinh tế cao như tôm thẻ chân trắng, tôm sú và cá tra. Giá nguyên liệu một số mặt hàng thủy sản duy trì ở mức có lợi cho người sản xuất như giá cá tra thương phẩm tháng 6 cỡ 0,7-1,0kg/con giá trung bình trong tháng 30.000đ/kg; giá tôm thẻ chân trắng cỡ 50-100 con/kg dao động từ 85.000đ – 130.000đ/kg trung bình 107.500đ/kg; giá tôm sú cỡ 30-40 con/kg dao động từ 140.000-175.000 đ/kg trung bình 157.500đ/kg; giá cá rô phi cỡ 0,8-1,2 kg/con dao động từ 27.000-32.000 đồng/kg, bình quân khoảng 29.500 đồng/kg, góp phần khuyến khích các hộ nuôi tăng cường thả giống và đầu tư thâm canh.

Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025

Hoạt động xuất khẩu thủy sản trong những tháng đầu năm tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực. Nhu cầu nhập khẩu tại Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản và Trung Quốc từng bước phục hồi đã góp phần cải thiện đơn hàng cho các doanh nghiệp chế biến. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 6/2026 ước đạt 1,1 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước; quý II ước đạt 3,1 tỷ USD, tăng 11,2%; tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 12,7%, phản ánh sự phục hồi của thị trường và khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thương mại quốc tế. Kết quả này không chỉ tạo đầu ra ổn định cho sản xuất mà còn góp phần cải thiện thu nhập của người nuôi trồng và lao động trong ngành chế biến thủy sản.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước, trong tháng 6/2026 ước đạt 664,4 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước; quý II ước đạt 1.680,4 nghìn tấn, tăng 5,8%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.984,0 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 702,5 nghìn tấn, tăng 8,1%; thủy sản khác đạt 306,6 nghìn tấn, tăng 9,1%.

Sự phát triển của các mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh và ứng dụng công nghệ cao đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Đối với tôm nước lợ, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng, lợi thế về năng suất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tiếp tục giúp sản phẩm giữ được vị thế trên thị trường xuất khẩu. Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 178,8 nghìn tấn, tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; quý II ước đạt 352,5 nghìn tấn, tăng 9,6%; tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 494,3 nghìn tấn, tăng 9,5%.

Sản lượng tôm thẻ chân trắng sáu tháng đầu năm 2026

ĐVT: Nghìn tấn

Nguồn: Cục Thống kê

Theo hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, xuất khẩu tôm trong tháng 6/2026 đạt 445,9 triệu USD, tăng 20,7%; tính chung sáu tháng đạt khoảng 2,3 tỷ USD, tăng 13,6% và chiếm 40,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Cùng với đó, nhu cầu nhập khẩu cá tra từ Hoa Kỳ, Trung Quốc, khối CPTPP và Trung Đông có dấu hiệu cải thiện đã tạo động lực cho người nuôi duy trì sản xuất. Sản lượng cá tra tháng 6/2026 ước đạt 177,3 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; tính chung sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 935,4 nghìn tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu tháng 6/2026 đạt 209,1 triệu USD, tăng 7,7%; tính chung sáu tháng đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 12,1%.

Bên cạnh cá tra và tôm nước lợ, cá rô phi đang từng bước trở thành mặt hàng nuôi có tiềm năng phát triển. Theo số liệu của ngành Thủy sản, chỉ trong sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 76,0 triệu USD, tăng 101% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt là thời điểm cuối tháng 5, kim ngạch xuất khẩu đã đạt 62,0 triệu USD, xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như Ả-rập xê-út đạt 3,0 triệu USD; Cộng hòa Đô-mi-ni-ca đạt 2,0 triệu USD và cao nhất là Bra-zin đạt 33,0 triệu USD[1]. Hiện nay, cá rô phi đã phát triển tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đang có xu hướng mở rộng ở một số địa phương phía Bắc như Hải Phòng, Hà Nội, Phú Thọ và Lào Cai. Nhu cầu nhập khẩu cá rô phi tại nhiều thị trường như Hoa Kỳ, EU và Trung Đông duy trì ở mức khá, trong khi nguồn cung từ một số nước sản xuất lớn có nhiều biến động. Đây là cơ hội để cá rô phi Việt Nam mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng và từng bước gia tăng thị phần xuất khẩu trong thời gian tới.

Trong bối cảnh thị trường thủy sản thế giới vẫn đối mặt nhiều biến động, kết quả này cho thấy ngành Thủy sản đang duy trì được đà tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu cải thiện tại một số thị trường châu Á. Tại thị trường Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong sáu tháng đầu năm đạt hơn 1,5 tỷ USD, tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước; xuất khẩu sang thị trường Mỹ phục hồi mạnh trong tháng 6/2026 với 195,3 triệu USD, tăng 48,3%, nhưng tính chung sáu tháng chỉ đạt 897,9 triệu USD, tương đương cùng kỳ năm trước; trong khi EU duy trì mức tăng trưởng nhẹ. Một số thị trường như Ô-xtrây-li-a, Anh, Ca-na-đa hay Đài Loan tiếp tục tăng trưởng khả quan, góp phần đa dạng hóa đầu ra cho thủy sản Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Thủy sản vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ bên ngoài, bởi các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe tại các thị trường nhập khẩu lớn. Cạnh tranh từ các quốc gia xuất khẩu thủy sản ngày càng gay gắt như Ê-cu-a-đo và Ấn Độ có lợi thế về quy mô sản xuất và giá thành thấp; In-đô-nê-xi-a và Thái Lan đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đối với cá tra và cá rô phi, Trung Quốc vẫn là đối thủ cạnh tranh lớn nhờ năng lực sản xuất quy mô lớn và hệ thống logistics hoàn thiện. Trong nước, chi phí thức ăn, con giống và vật tư đầu vào vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của người nuôi.

Đối với người dân, đặc biệt là các hộ nuôi trồng thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và một số địa phương ven biển, sự phục hồi của thị trường xuất khẩu đã góp phần cải thiện thu nhập và tạo động lực mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, rủi ro từ dịch bệnh, biến động giá cả đầu vào và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường vẫn là những thách thức lớn đối với người sản xuất quy mô nhỏ, việc tăng cường liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến, phát triển vùng nuôi đạt tiêu chuẩn và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc sẽ là yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm và bảo đảm đầu ra ổn định.

Trong thời gian tới, ngành Thủy sản cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển nuôi trồng theo hướng công nghệ cao, nâng cao chất lượng con giống, kiểm soát tốt dịch bệnh và môi trường nuôi; đồng thời tăng cường quản lý khai thác biển gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng thị trường xuất khẩu và sớm tháo gỡ các rào cản thương mại sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo nền tảng để ngành Thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định và phát triển bền vững trong thời gian tới.

Đối với khai thác thủy sản biển, ngoài việc thực hiện các giải pháp chống khai thác bất hợp pháp (IUU), cần tiếp tục giảm đánh bắt ven bờ nơi sinh trưởng của các đàn cá nhỏ, đầu tư nâng cấp hạ tầng nghề cá, đặc biệt là hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, trung tâm hậu cần nghề cá và cơ sở bảo quản sau thu hoạch. Việc hiện đại hóa các đội tàu khai thác xa bờ, ứng dụng thiết bị định vị, công nghệ dò tìm ngư trường và thiết bị bảo quản lạnh trên tàu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả khai thác, giảm tổn thất sau thu hoạch và cải thiện thu nhập cho ngư dân. Đồng thời, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục và phát triển các mô hình khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, xem đây là giải pháp quan trọng để ngành Thủy sản biển phát triển bền vững trong dài hạn.

[1] Nguồn: VASEP – Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm