Tình hình kinh tế – xã hội tháng Mười Một và 11 tháng năm 2022 của nước ta tiếp tục tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, tuy nhiên tốc độ tăng có xu hướng chậm lại. Kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; lạm phát cao, tăng trưởng thấp; cạnh tranh chính trị, xung đột vũ trang; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, … đã làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu. Với quyết tâm duy trì sự ổn định để phát triển kinh tế – xã hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp. Nhờ đó, kinh tế – xã hội nước ta trong 11tháng năm 2022 vẫn giữ vững sự ổn định,các cân đối vĩ mô được đảm bảo, lạm phát trong tầm kiểm soát. Một số nét chính về tình hình kinh tế – xã hội tháng Mười Một và 11 tháng năm 2022 của nước ta như sau:
(1) Năng suất lúa mùa đạt khá; chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát tốt; sản lượng một số sản phẩm thủy sản trọng điểm tăng cao.
Năng suất lúa mùa đạt khá cao 52,9 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha so với vụ mùa năm 2021 do các địa phương đã chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 11/2022 tăng 12,4% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số gia cầm tăng 5,4%; tổng số bò tăng 3,5%.
Trong tháng 11/2022 do giá cá tra nguyên liệu giữ ở mức cao, sản lượng cá tra đạt 167,8 nghìn tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2022 đạt 1.525,5 nghìn tấn, tăng 14%.Áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao, nuôi tôm siêu thâm canh đã đem lại hiệu quả tích cực. Sản lượng tôm nuôi tháng 11/2022 đạt 101,3 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2022 đạt 988,5 nghìn tấn, tăng 9%.
(2) Ngành công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng, chỉ số sản xuất (IIP) tháng 11/2022 ước tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ sốIIP của ngành chế biến chế tạo tăng 4,4%. Tính chung 11 tháng năm 2022, chỉ số IIP tăng 8,6%; trong đó nhiều ngành công nghiệp trọng điểm tăng trưởng cao[1].

(3) Hoạt động thương mại dịch vụ tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt ở các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 11 tháng năm 2022tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 56,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu du lịch lữ hành gấp 4,1 lần.
Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước.Luân chuyển hành khách tháng 11/2022 gấp 3,1 lần; luân chuyển hàng hóa tăng 29,8%. Tính chung 11 tháng năm 2022, luân chuyển hành khách tăng 71,4% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển hàng hóa tăng 32,8%.
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Mười Một đạt 596,9 nghìn lượt người, tăng 23,2% so với tháng trước và gấp 39,7 lần so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tính chung 11 tháng năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 2.954,2 nghìn lượt người, gấp 21,1 lần cùng kỳ năm trước.
(4) Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa đảm bảo kết nối hàng hoá với thế giới và có mứcthặng dư tích cực. Tính chung 11 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 673,82 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 13,4%; nhập khẩu tăng 10,1%; ước tính xuất siêu 10,6 tỷ USD.

(5) Số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục tăng cao. Trong 11 tháng năm 2022, cả nước có 137,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số lao động đăng ký là 909 nghìn lao động, tăng 30,4% về số doanh nghiệp, và tăng 15,9% về số lao động so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 40,5%. Tính chung số doanh nghiệpgia nhập thị trường 11 tháng năm nay tăng33,2% so với cùng kỳ năm trước.
(6) Vốn đầu tư tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2022 ước tính tăng 19,9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam đạt 19,7 tỷ USD, tăng 15,1%, cao nhất của 11 tháng trong 5 năm qua[2].
Hình 4. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng các năm 2018-2022

(7) Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 1,84% của bình quân 11 tháng năm 2021, nhưng thấp hơn mức tăng của bình quân 11 tháng năm 2020 (3,51%). Lạm phát cơ bản[3]bình quân 11 tháng năm 2022 tăng 2,38%.
Hình 5. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 11 và 11 tháng các năm giai đoạn 2018-2022 (%)

(8) Công tác an sinh xã hội được triển khai tích cực, đời sống người dân được đảm bảo, chính sách hỗ trợ người lao động gặp khó khăn được thực hiện hiệu quả. Tính đến ngày 23/11/2022 gói hỗ trợ theo Nghị quyết 11/NQ-CP đã giải ngân khoảng 3,7 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ gần 5,3 triệu lượt lao động tại 122.991 doanh nghiệp.
[1] Sản xuất đồ uống tăng 31%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 18,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 18,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,7%; sản xuất trang phục tăng 16,4%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 16,2%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tái chế phế liệu tăng 11,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,3%.
[2] Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng các năm 2018-2022 lần lượt là: 16,5 tỷ USD; 17,6 tỷ USD; 17,9 tỷ USD; 17,1 tỷ USD; 19,7 tỷ USD.
[3] Lạm phát cơ bản được tính bằng chỉ số giá tiêu dùng sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
TIN KHÁC
Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)