Kinh tế – xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2023 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp và bất ổn. Trước những khó khăn, thách thức đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã sát sao chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023; Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; Chỉ thị 03/CT-TTg ngày 27/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cùng nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân với quyết tâm tạo động lực đột phá để phát triển kinh tế theo mục tiêu đã đề ra. Cùng với đó, sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia tích cực của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng giúp nền kinh tế vượt qua khó khăn, thách thức. Kinh tế – xã hội nước ta trong 6 tháng đầu năm 2023 đã đạt được những kết quả tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, các cân đối lớn được đảm bảo, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Một số điểm sáng kinh tế – xã hội nước ta trong quý II và 6 tháng đầu năm 2023 như sau:

1. Điểm sáng và tích cực

(1) Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, khó khăn nhiều hơn thuận lợi nhưng tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2023 của nước ta tiếp tục được duy trì với mức tăng 3,72% (trong đó quý I tăng 3,28%, quý II tăng 4,14%[1]). Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,07%, đóng góp 9,28% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 1,13%, đóng góp 11,87%. Khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 78,85%, trong đó tăng trưởng của một số ngành dịch vụ thị trường đạt mức khá: Bán buôn, bán lẻ tăng 8,49%; vận tải kho bãi tăng 7,18%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 15,14%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,13%.

Hình 1: Tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm trong                  giai đoạn 2011-2023 (%)

(2) Năng suất lúa đông xuân đạt khá, sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước, chăn nuôi phát triển ổn định, nuôi trồng thủy sản đạt kết quả khả quan.

Năng suất lúa đông xuân năm nay ước đạt 68,4 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,2 triệu tấn, tăng 231,9 nghìn tấn. Sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2023 của một số cây lâu năm tăng khá như: Sản lượng điều tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước; sầu riêng tăng 18,3%; xoài tăng 4,3%; cam tăng 4,8%; cao su tăng 2,3% …

Trong 6 tháng đầu năm 2023, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng sữa bò tươi tăng 8,4%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tăng 6,5%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước tăng 4,8%; sản lượng trứng gia cầm ước tăng 4,2%.

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước 6 tháng đầu năm 2023 ước tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán tăng 3,7%; sản lượng gỗ khai thác tăng 3,8%.

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2023 ước tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá tăng 1,6%, tôm tăng 3,5%.

(3) Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2023 của một số ngành cấp 2 tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế tăng 13,2%; khai thác quặng kim loại tăng 11,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic tăng 7,2%; sản xuất thuốc lá tăng 6,7%; sản xuất đồ uống tăng 5,7%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 5,6%.

Hình 2: Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính 6 tháng đầu năm so với                 cùng kỳ năm trước của một sốngành trọng điểm (%)

(4) Chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa, quảng bá du lịch đã thúc đẩy tăng trưởng của một số ngành dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2023 đạt quy mô 3.016,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 12,2% của cùng kỳ năm 2022 trong giai đoạn 2019-2023[1]. Vận chuyển hành khách tăng 15,9% và luân chuyển tăng 32,4%; vận chuyển hàng hóa tăng 15,9% và luân chuyển tăng 14,8%; khách quốc tế đến nước ta gấp 9,3 lần so với cùng kỳ năm 2022.

Cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm 2023 ước tính xuất siêu 12,25 tỷ USD, trong đó xuất siêu của một số mặt hàng là: Điện thoại các loại và linh kiện 20,84 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 4,95 tỷ USD; thủy sản 2,87 tỷ USD; rau quả 1,85 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện 1,72 tỷ USD; dây điện và cáp điện 403,5 triệu USD.

           Hình 3: Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm các năm                                         2019- 2023

(5) Dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới tăng cao so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam.

Tính đến ngày 20/6/2023, cả nước có 1.293 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với số vốn đạt 6,49 tỷ USD, tăng 71,9% về số dự án và tăng 31,3% về số vốn so với cùng kỳ năm 2022 (cùng kỳ năm 2022 có 752 dự án, giảm 6,5% và vốn đăng ký đạt 4,94 tỷ USD, giảm 48,2%). Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút nhiều dự án đăng ký mới nhất với 379 dự án, số vốn đạt 5,47 tỷ USD (cùng kỳ năm trước có 84 dự án cấp mới với tổng số vốn là 3,32 tỷ USD).

Hình 4: Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/6 các năm          2019-2023

(6) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2023 theo giá hiện hành tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của khu vực Nhà nước tăng 12,6% phản ánh kết quả nỗ lực của Chính phủ, Bộ, ngành và địa phương đã quyết liệt đẩy mạnh thực hiện vốn đầu tư công nhằm tạo động lực tăng trưởng trong bối cảnh dòng vốn đầu tư trên toàn cầu có xu hướng sụt giảm do quá trình tái cấu trúc thương mại toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ.

(7) Lạm phát được kiểm soát và có xu hướng giảm dần. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2023 tăng cao nhất với 4,89%, đến tháng 6/2023 chỉ tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm 2023 CPI  tăng 3,29%.

Hình 5. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho                  sản xuất 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2019-2023 (%)

(8) Lao động có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động 6 tháng đầu năm 2023 tăng so với cùng kỳ năm trước; công tác bảo đảm an sinh xã hội được các cấp, ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả.

Lao động có việc làm trong 6 tháng đầu năm 2023 ước tính đạt 51,2 triệu người, tăng 902 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân lao động ước tính đạt 7 triệu đồng/tháng, tăng 497 nghìn đồng.

Tính đến ngày 19/6/2023, số tiền hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 là gần 1,79 nghìn tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo là gần 2,8 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là hơn 3,8 nghìn tỷ đồng.

[1] Tốc độ tăng GDP quý II so với cùng kỳ năm trước các năm 2011-2022 lần lượt là: 6,25%; 5,56%; 5,39%; 6,19%; 7,11%; 6,74%; 6,66%; 7,10%; 7,16%; 0,34%; 6,58%; 7,83%; 4,14%.

[2] Tốc độ tăng/giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm các năm 2019-2023 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,8%; -1,1%; 3,1%; 12,2%; 10,9%.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm