Cùng với những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế. Đời sống trong các tầng lớp dân cư trong xã hội có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, đời sống dân cư có sự khác biệt khá rõ rệt giữa các vùng, miền, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2022 ước tính tăng 8,02% so với năm 2021 đạt mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011 – 2022 do nền kinh tế dần được khôi phục trở lại. Kết quả tăng trưởng đã thể hiện tính hiệu quả trong các chính sách điều hành, quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp nhằm đưa nền kinh tế tăng trưởng trở lại.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2022 tiếp tục thể hiện rõ vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, cung cấp lương thực, thực phẩm với số lượng và chất lượng ngày càng tăng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; đồng thời, cung cấp nguyên liệu sản xuất đầu vào cho một số ngành công nghiệp quan trọng của cả nước, khu vực này có giá trị tăng thêm trong năm 2022 tăng 3,36%, đóng góp 5,11%;
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, các doanh nghiệp đã chủ động hơn về lao động và kế hoạch sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi, mở rộng sản xuất, giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,78%, đóng góp 38,24% vào tốc độ tăng chung của toàn nền kinh tế (trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 8,10%, đóng góp 2,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế).
Khu vực dịch vụ được khôi phục và tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng năm 2022 đạt 9,99%, cao nhất trong giai đoạn 2011-2022[1], đóng góp 56,65% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế. Một số ngành dịch vụ thị trường tăng cao, đóng góp nhiều vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành bán buôn, bán lẻ tăng 10,15% so với năm trước, đóng góp 0,97 điểm phần trăm; ngành vận tải kho bãi tăng 11,93%, đóng góp 0,69 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao nhất trong khu vực dịch vụ[2] với mức tăng 40,61%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm…
Song song với những kết quả đạt được trong nền kinh tế. Mức sống của các tầng lớp dân cư trong năm 2022 tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên có khoảng cách lớn giữa các vùng miền, tầng lớp dân cư, thành thị và nông thôn. Theo kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2022, thu nhập bình quân 1 người 1 tháng theo giá hiện hành đạt khoảng 4.673 nghìn đồng, tăng 11,1% so với năm 2021. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 ở khu vực thành thị đạt 5.945 nghìn đồng, cao gấp gần 1,54 lần khu vực nông thôn (3.864 nghìn đồng).
Trong các nhóm dân cư có khoảng cách lớn về thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất. Nhóm hộ giàu nhất (nhóm gồm 20% dân số giàu nhất – nhóm 5) có thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2022 đạt 10.237 nghìn đồng gấp hơn 7,57 lần so với nhóm hộ nghèo nhất (nhóm gồm 20% dân số nghèo nhất – nhóm 1), với mức thu nhập đạt 1.352 nghìn đồng.
Vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (6.334 nghìn đồng 1 người 1 tháng), cao gấp 2,2 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (3.170 nghìn đồng 1 người 1 tháng). Sự chênh lệch về đời sống còn thể hiện bằng sự chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa các nhóm thu nhập. Nhóm dân cư có thu nhập cao nhất của cả nước là 10.237 nghìn đồng cao gấp 7,57 lần nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất.
[1] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ các năm 2011-2022 so với năm trước lần lượt là: 7,65%; 7,03%; 6,82%; 7,31%; 7,05%; 7,46%; 7,12%; 7,46%; 8,08%; 2,01%; 1,57%; 9,99%.
[2] Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống năm 2021 so với năm trước giảm 20,21%.
Chi tiêu cho cho đời sống thể hiện rõ rệt mức sống dân cư. Chi tiêu theo giá hiện hành bình quân đầu người một tháng của cả nước năm 2022 đạt 2,7 triệu đồng, giảm 3,3% so với năm 2020. Khu vực thành thị có chất lượng sống cao hơn khu vực nông thôn, khu vực thành thị đạt 3,3 triệu đồng, giảm 13,5%; chi tiêu bình quân đầu người một tháng ở khu vực nông thôn đạt 2,5 triệu đồng, tăng 4,6%.
Theo vùng kinh tế, giữa các vùng miền có khoảng cách lớn về chất lượng sống, chất lượng sống cao hơn tại các vùng tập trung lớn các khu công nghiệp và trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Chi tiêu còn có sự khác biệt lớn giữa khu vực thành thị, khu vực nông thôn. Trong mỗi vùng, mỗi khu vực có sự khác biệt lớn giữa các nhóm thu nhập và có khoảng cách khá lớn giữa nhóm người giàu nhất (nhóm 5) và nhóm người nghèo nhất (nhóm 1). Chi tiêu cho đời sống tại khu vực nông thôn là 2.377 nghìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 3.412 nghìn đồng gấp 3 lần nhóm người nghèo nhất) chỉ bằng 76% mức chi tiêu tại khu vực thành thị có mức chi tiêu bình quân là 3.124 nhìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 4.736 nghìn đồng gấp 2,6 lần nhóm người nghèo nhất).
Trong các vùng kinh tế, Vùng Đông Nam Bộ có mức chi tiêu cho đời sống bình quân cao nhất là 3.456 nghìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 4.453 nghìn đồng gấp 2,3 lần nhóm người nghèo nhất) gấp 1,8 lần khu vực Trung du và miền núi phía Bắc mức chi tiêu bình quân thấp nhất chỉ đạt 1.871 nghìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 3.216 nghìn đồng gấp 3,8 lần nhóm người nghèo nhất); vung có mức chi tiêu bình quân cao thứ 2 là vùng Đồng bằng sông Hồng có mưc chi tiêu 3.230 nghìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 4.803 nghìn đồng gấp 2,5 lần nhóm người nghèo nhất); tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có mức chi tiêu 2.426 nghìn đồng (trong đó chi tiêu của nhóm người giàu nhất là 3.917 nghìn đồng gấp 3,1 lần nhóm người nghèo nhất); Vùng Tây nguyên và vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức chi tiêu gần tương đương nhau lần lượt là 2.106 nghìn đồng và 2.143 nghìn đồng nhưng giữa 2 vùng này có sự khác biệt khá lớn về khoảng cách chi tiêu giữa nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất, Vùng Tây Nguyên có khoảng cách là 3,1 lần lớn hơn nhiều so với khoảng 2,2 lần vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
Đời sống dân cư còn được thể hiện được tiếp cận các dịch vụ cơ bản và tỷ lệ nghèo đa chiều của người dân. Tỷ lệ dân số được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh năm 2022 đạt 98%, trong đó thành thị đạt 99,6% và nông thôn đạt 97%; tỷ lệ dân số dùng hố xí hợp vệ sinh là 96%, trong đó thành thị 99,1% và nông thôn 94%. Trong năm 2022, tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt (chỉ tính số hộ sử dụng điện lưới) đạt 99,5%, trong đó thành thị đạt 99,6% và nông thôn 99,5%; tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền đạt 99,9%, trong đó thành thị đạt 100% và nông thôn đạt 99,9%.
Có sự chênh lệch khá lớn về tỷ lệ nghè đa chiều giữa thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều năm 2022 của cả nước ước tính là 4,3%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với năm 2021, trong đó khu vực thành thị là 2%, tăng 0,9 điểm phần trăm và khu vực nông thôn là 5,7%, giảm 0,8 điểm phần trăm. Trong các vùng miền, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều cao nhất (12,1%); vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều thấp nhất cả nước (0,7%).
Một số giải pháp rút ngắn khoảng cách chênh lệch đời sống dân cư giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội:
Về mặt kinh tế, phải đẩy mạnh ổn định tái cơ cấu kinh tế, tăng năng suất, chất lượng để hiệu quả của nền kinh tế tốt hơn và mang lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn. Đào tạo việc làm cho người nông dân ở nông thôn miền núi, điều tiết thu nhập qua thuế tốt hơn, an sinh xã hội có nhiều trụ cột khác nhau, đảm bảo quyền lợi cần thiết cho người dân phải được tiến hành mạnh mẽ hơn, nhất là hỗ trợ tín dụng cho người nghèo mạnh mẽ hơn.
Đặc biệt, về mặt xã hội phải tiếp tục tiếp cận dịch vụ giáo dục y tế, nhất là cho người nghèo, người yếu thế, chính sách cho người có công, chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới hảo đảo, vùng đặc biệt khó khăn cần phải tiếp tục đặt ra trong quá trình chỉ đạo và thực hiện của nước ta. Ngân sách nhà nước cần cho xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động giảm nghèo, giúp đỡ người dân vùng thiên tai, khơi dậy một tinh thần trách nhiệm xã hội, tinh thần vượt khó, nhân rộng các mô hình thoát nghèo hiệu quả.
Quan tâm mạnh mẽ hơn, dành nguồn lực nhiều cho các vùng có kinh tế cong kém phát triển, nhất là những vùng chưa có điện, chưa có đường, chưa có trạm xá hạ tầng cần thiết cho đời sống của người dân để tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và những người yếu thế, thực hiện hiệu quả các chính sách, chương trình mục tiêu giảm nghèo quốc gia.

Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)


