Tình hình lao động, việc làm quý I/2025 tiếp tục duy trì quy luật của quý có Tết Nguyên đán, đó là lực lượng lao động giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân tháng của người lao động[1] tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm so với quý trước và giảm so với cùng kỳ năm trước.
1. Lực lượng lao động
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2025 ước tính là 52,9 triệu người, giảm 230,7 nghìn người so với quý trước và tăng 532,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2025 là 68,2%, giảm 0,8 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I/2025 là 28,8%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
2. Lao động có việc làm
Lao động có việc làm quý I/2025 ước tính là 51,9 triệu người, giảm 234 nghìn người so với quý trước và tăng 532,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 20,0 triệu người, giảm 115,9 nghìn người so với quý trước và tăng 433,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, giảm 118,1 nghìn người và tăng 98,5 nghìn người.
Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý I/2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,5 triệu người, chiếm 26%, giảm 47,2 nghìn người so với quý trước và giảm 305,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,3 triệu người, chiếm 33,3%, giảm 287,1 nghìn người và tăng 262,7 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,1 triệu người, chiếm 40,7%, tăng 100,3 nghìn người và tăng 574,4 nghìn người.
Nhìn chung, lao động có việc làm có xu hướng phát triển bình thường như thời kỳ trước dịch Covid-19 nhưng tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản)[2] vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý I/2025 là 64,3%, tăng 0,7 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét theo khu vực, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức trong khu vực thành thị là 48,6%; khu vực nông thôn là 74,2%. Xét theo giới tính, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ở nam là 67,6% và ở nữ là 60,6%.
3. Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[3]
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2025 là 797,0 nghìn người, tăng 32,4 nghìn người so với quý trước và giảm 136,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2025 là 1,72%, tăng 0,07 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,31 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 0,98%, giảm 0,28 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 2,21%, tăng 0,31 điểm phần trăm và giảm 0,36 điểm phần trăm.
Trong quý I/2025, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 399,6 nghìn người, chiếm 50,1%, giảm 59,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 181,5 nghìn người, chiếm 22,8%, giảm 24 nghìn người; khu vực dịch vụ là 215,9 nghìn người, chiếm 27,1%, giảm 52,2 nghìn người.
4. Thu nhập bình quân của lao động
Thu nhập bình quân của lao động quý I/2025 là 8,3 triệu đồng/tháng, tăng 131 nghìn đồng so với quý IV/2024 và tăng 720 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 9,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,1 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,1 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,2 triệu đồng/tháng.
Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương quý I/2025 là 9,4 triệu đồng/tháng, tăng 10,7%, tương ứng tăng 906 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 9,8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 8,9 triệu đồng/tháng.
5. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[4]
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2025 là 2,20%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực thành thị là 2,38%; khu vực nông thôn là 2,07%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2025 là 7,93%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 11,06%; khu vực nông thôn là 6,32%.
Trong quý I/2025, thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 1,35 triệu người, chiếm 10,4% tổng số thanh niên, tăng 84,4 nghìn người so với quý trước và giảm 66,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực thành thị là 8,2%; khu vực nông thôn là 11,7%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 11,5%; nam là 9,3%.
6. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[5]
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng quý I/2025 là 3,9%. Trong đó, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của khu vực thành thị là 3,3%; khu vực nông thôn là 4,2%. Đa số lao động không sử dụng hết tiềm năng là những người từ 15-34 tuổi (46,8%). Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ.
7. Lao động làm công việc tự sản tự tiêu
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý I/2025 là 3,8 triệu người, tăng 168,2 nghìn người so với quý trước và giảm 117,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 87,7% và tập trung ở nữ giới, chiếm 63,5%. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng yêu cầu cao về tay nghề, kỹ năng cũng như nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái và thiếu tính ổn định, cơ hội để nhóm lao động này tìm kiếm được công việc tốt là rất khó khăn.
[1] Điều tra thu nhập của người lao động được tính trễ 01 tháng. Thu nhập của người lao động là số tiền công/tiền lương hoặc lợi nhuận nhận được từ công việc (bao gồm tiền làm thêm giờ, tiền thưởng, tiền phụ cấp nghề và tiền phúc lợi khác) trong tháng trước thời điểm điều tra. Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc là tổng thu nhập của tất cả lao động đang làm việc so với tổng số lao động đang làm việc.
[2] Lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong khu vực hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) là những người có việc làm và thuộc một trong các trường hợp sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức (iii) người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; (v) lao động trong khu vực hộ nông nghiệp.
[3] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.
[4] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.
[5] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.

Kinh tế Việt Nam đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều điểm sáng nổi bật
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, kinh tế nước ta đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, nhiều chỉ tiêu trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đạt và vượt mục tiêu đề ra. (20/01/2026)
Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới
Như chúng ta đều biết, sau khi EVN công bố số liệu về tổng sản lượng điện thương phẩm năm 2025 chỉ tăng 4,9% so với năm 2024, trong khi tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 8,02%. Sự chênh lệch này khiến không ít ý kiến băn khoăn, thậm chí đặt câu hỏi liệu có sự “bất thường” giữa tăng tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu thụ điện, vốn lâu nay vẫn được xem là hai chỉ tiêu có quan hệ song hành. (07/01/2026)
Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo bước đột phá trong quản lý thuế
Năm 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành Thuế trong lộ trình chuyển đổi số quốc gia. Với việc tổ chức triển khai đồng bộ các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), Cục Thuế đã không ngừng hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả phục vụ người nộp thuế (NNT), góp phần tăng thu ngân sách nhà nước (NSNN), đảm bảo minh bạch, công bằng và hiệu lực quản lý thuế. (26/12/2025)
Đồng hành và chia sẻ khó khăn trong công tác chuyển đổi số
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai chương trình công tác năm 2026 do Cục CNTT tổ chức (ngày 19/12/2025), các đại biểu đã chia sẻ những khó khăn trong công tác chuyển đổi số. (22/12/2025)
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia
Phát biểu kết luận Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, 4 năm triển khai Đề án 06, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan, sự lựa chọn mang tính chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong đầu tư, là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. (20/12/2025)
Kinh tế tuần hoàn là động lực chuyển đổi xanh
Trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn được xác định là một động lực then chốt của chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Đây cũng là thông điệp xuyên suốt tại phiên chuyên đề "Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững", diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. (19/12/2025)