I. Thông tin chung về Khảo sát mức sống dân cư năm 2024

Khảo sát mức sống dân cư năm 2024 (viết gọn là KSMS 2024) được tiến hành theo Quyết định số 636/QĐ-TCTK ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. KSMS 2024 là cuộc điều tra chọn mẫu nhằm thu thập thông tin, tổng hợp và biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về mức sống hộ dân cư để đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê trong việc đánh giá thực trạng đời sống của dân cư; đo lường nghèo và phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng dân cư phục vụ hoạch định chính sách, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội.

KSMS 2024 được tiến hành trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 46.995 hộ đại diện cho toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng kinh tế – xã hội, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng thông tin về chi tiêu chỉ đại diện đến cấp toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn và 6 vùng kinh tế – xã hội. Các thông tin được thu thập trong KSMS 2024 gồm: thu nhập, chi tiêu, nhân khẩu học, giáo dục, y tế, việc làm, đồ dùng lâu bền, nhà ở, điện, nước, điều kiện vệ sinh, tiếp cận các chương trình an sinh xã hội, công nghệ thông tin và truyền thông và một số đặc điểm của xã.

II. Kết quả chính của Khảo sát mức sống dân cư năm 2024

2.1. Thu nhập

Năm 2024, thu nhập bình quân của người dân tiếp tục được cải thiện và tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn. Mặc dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều yếu tố rủi ro, bất định nhưng kinh tế xã hội Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, theo đó đời sống Nhân dân được cải thiện hơn so với năm trước. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2024 theo giá hiện hành đạt 5,4 triệu đồng, tăng 9,1% so với năm 2023, cao hơn tốc độ tăng thu nhập của năm 2023 so với năm 2022 (6,2%).

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2024 ở khu vực thành thị đạt 6,9 triệu đồng (tăng 10,1% so với năm 2023), gấp hơn 1,5 lần khu vực nông thôn đạt 4,5 triệu đồng, tăng 8,0% so với năm 2023.

Trong năm 2024, Đông Nam Bộ là vùng có thu nhập bình quân 1 người 1 tháng cao nhất ở mức gần 7,1 triệu đồng. Vùng có thu nhập bình quân 1 người 1 tháng thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc chỉ gần 3,8 triệu đồng.

Hình 01. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chia theo thành thị, nông thôn giai đoạn 2014-2024

Đơn vị tính: Nghìn đồng

Nhóm hộ có thu nhập cao nhất (nhóm gồm 20% dân số có thu nhập cao nhất – nhóm 5) bình quân 1 người 1 tháng đạt 11,8 triệu đồng cao gấp 7,4 lần so với nhóm hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm gồm 20% dân số có thu nhập thấp nhất – nhóm 1) với thu nhập bình quân chỉ đạt 1,6 triệu đồng/người/tháng.

Năm 2024, tỷ trọng thu từ tiền công, tiền lương trong thu nhập chiếm 55,7%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với năm 2023 (55,2%). Tỷ trọng thu từ hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản duy trì ở mức 10,5%. Tuy nhiên, tỷ trọng thu từ hoạt động phi nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 22,8%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2023 (24,4%).

Hình 02. Cơ cấu thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chia theo nguồn thu giai đoạn 2014-2024

                                                                   Đơn vị tính: %

2.2. Chi tiêu và tiêu dùng lương thực, thực phẩm

Năm 2024, chi tiêu của người dân tăng trở lại và tăng chủ yếu ở khu vực thành thị. Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng đạt gần 3 triệu đồng, tăng 6,5% so với 2022, trung bình 1 năm trong giai đoạn 2022-2024 tăng 3,2%. Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt gần 3,8 triệu đồng (tăng 15,4% so với năm 2022), trong khi đó chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực nông thôn không tăng, ở mức xấp xỉ 2,5 triệu đồng, giảm nhẹ 0,3% so với năm 2022.

Hình 03. Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng chia theo thành thị, nông thôn giai đoạn 2014-2024

Đơn vị tính: Nghìn đồng

Năm 2024, chi đời sống bình quân 1 người 1 tháng là 2,8 triệu đồng, chiếm 94,5% trong tổng chi tiêu hộ gia đình, tăng 5,5% so với năm 2022. Trong đó, chi cho ăn uống gần 1,4 triệu đồng (tăng 7,3% so với 2022) và chi không phải cho ăn uống hơn 1,4 triệu đồng (tăng 3,8% so với năm 2022).

Sự chênh lệch trong chi tiêu đời sống bình quân 1 người 1 tháng giữa nhóm hộ có thu nhập cao nhất (nhóm 5) và nhóm hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm 1) trong năm 2024 là 3,1 lần (hơn 4,5 triệu đồng so với gần 1,5 triệu đồng).

Năm 2024, tiêu dùng gạo và lương thực quy gạo (viết gọn là tiêu dùng gạo) tiếp tục giảm với lượng gạo tiêu thụ bình quân 1 người 1 tháng là 6,5 kg, giảm 0,4 kg so với năm 2022. Các hộ gia đình sống ở khu vực nông thôn tiêu thụ nhiều gạo hơn so với các hộ gia đình ở khu vực thành thị (7,1 kg so với 5,5 kg/người/tháng).

Những hộ gia đình thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất có lượng gạo tiêu thụ cao hơn so với những hộ gia đình thuộc nhóm có thu nhập cao nhất (7,3 kg so với 5,9 kg/người/tháng). Xu hướng này ngược lại đối với lượng tiêu thụ thịt các loại, những hộ gia đình thuộc nhóm có thu nhập cao nhất tiêu thụ nhiều thịt hơn so với nhóm có thu nhập thấp nhất (3,2 kg so với 2,0 kg/người/tháng).

Lượng tiêu thụ rượu bia, đồ uống khác (nước có ga, nước ngọt…) trong năm 2024 giảm so với năm 2022, rượu bia giảm từ 1,2 lít/người/tháng năm 2022 xuống còn 0,9 lít/người/tháng năm 2024 và đồ uống khác giảm từ 2,1 lít/người/tháng năm 2022 xuống 1,9 lít/người/tháng năm 2024.

Hình 04. Khối lượng tiêu dùng gạo, thịt các loại và rau bình quân 01 nhân khẩu 1 tháng giai đoạn 2014 – 2024

Đơn vị tính: Kg

2.3. Quy mô hộ gia đình

Nhân khẩu bình quân 1 hộ năm 2024 là 3,5 người, số người trong độ tuổi lao động bình quân 1 hộ là 2,1 người. So với năm 2023, quy mô hộ giảm nhưng số người trong độ tuổi lao động bình quân 1 hộ không thay đổi. Quy mô hộ gia đình ở khu vực thành thị và nông thôn không có sự khác biệt, với 3,4 người/hộ ở khu vực thành thị và 3,6 người/hộ ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ phụ thuộc năm 2024 là 0,7, giảm 0,03 so với năm 2023 (0,73).  Tỷ lệ phụ thuộc ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị (0,72 so với 0,65).

Hình 05. Số nhân khẩu, số người trong tuổi lao động và tỷ lệ phụ thuộc bình quân một hộ giai đoạn 2014 – 2024

2.4. Giáo dục

Năm 2024, tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông lần lượt là 95,7%, 91,6% và 80,0%.

Trong vòng 10 năm từ 2014 đến 2024, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp đều có xu hướng tăng, đặc biệt là tỷ lệ đi học đúng tuổi ở cấp trung học phổ thông (tăng từ 63,1% năm 2014 lên 80,0% năm 2024).

Hình 06. Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp năm 2014 và năm 2024

Đơn vị tính: %

Đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình ngày càng cải thiện, thể hiện ở chi giáo dục, đào tạo[1] bình quân 1 năm cho 1 người đi học năm 2024 là hơn 9,5 triệu đồng tăng 36,3% so với năm 2022 (7 triệu đồng). Chi giáo dục, đào tạo tăng trở lại sau khi bị giảm do dịch bệnh Covid-19.

Hình 07. Chi giáo dục, đào tạo bình quân 1 năm của 1 người đi học giai đoạn 2014 – 2024

Đơn vị tính: Nghìn đồng

Trong cơ cấu chi giáo dục, đào tạo, các khoản chi cho học phí, trái tuyến (chiếm 41,1%), học thêm (chiếm 21,4%) và chi giáo dục khác (chiếm 19,3%) là các khoản chi chiếm tỷ trọng lớn.

Hình 08. Cơ cấu các khoản chi giáo dục, đào tạo 1 năm của 1 người đi học năm 2024

                                                                                         Đơn vị tính: %

2.5. Y tế

Năm 2024, tỷ lệ người có khám chữa bệnh trong 12 tháng là 23,3%, giảm 4,4 điểm phần trăm so với năm 2022. Trong đó, tỷ lệ khám bệnh ngoại trú là 21,1%, giảm 5,3 điểm phần trăm, trong khi đó tỷ lệ khám chữa bệnh nội trú là 4,2%, tăng 0,6 điểm phần trăm so với năm 2022.

Có 93,1% người có thẻ bảo hiểm y tế hoặc sổ/thẻ/giấy khám chữa bệnh miễn phí trong năm 2024. Không có sự khác biệt nhiều về tiếp cận thẻ bảo hiểm y tế hay sổ/thẻ/giấy khám chữa bệnh miễn phí giữa khu vực thành thị – nông thôn, vùng, mức sống và giới tính.

Chi tiêu y tế bình quân 1 người có khám chữa bệnh năm 2024 là hơn 3,5 triệu đồng tăng 41,9% so với 2022. Năm 2024, chi tiêu bình quân 1 người có khám chữa bệnh nội trú là gần 10,2 triệu đồng và ngoại trú là hơn 1,8 triệu đồng.

Khu vực thành thị có mức chi y tế bình quân 1 người có khám chữa bệnh cao hơn khu vực nông thôn (3,7 triệu đồng so với 3,4 triệu đồng).

Hình 09. Chi tiêu y tế bình quân 1 người có khám chữa bệnh năm 2024

                                                                  Đơn vị tính: Nghìn đồng

2.6. Nhà ở và điều kiện sống

Kết quả khảo sát cho thấy, trong giai đoạn 2014-2024 chất lượng nhà ở của các hộ gia đình được cải thiện rõ rệt. Diện tích nhà ở bình quân đầu người liên tục tăng trong giai đoạn 2014-2024 và đạt 29 m2 vào năm 2024, tăng 1,2 m2 so với năm 2023 và tăng 7,6 m2 so với năm 2014. Về kết cấu nhà ở, tỷ lệ hộ gia đình sống trong nhà kiên cố và bán kiên cố năm 2024 đạt 97,7%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với năm 2023.

Hình 10. Cơ cấu các loại nhà ở năm 2024

                                                                          Đơn vị tính: %

Trong giai đoạn 2014-2024, chất lượng nguồn nước sinh hoạt của hộ gia đình không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh luôn ở mức trên 93% và tăng dần qua các năm, năm 2024 là 98,7%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với 2023 và tăng 5,7 điểm  phần trăm so với năm 2014. Có 99,7% hộ thành thị và 98% hộ nông thôn sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong năm 2024. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là 2 vùng có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cao nhất (99,9%), thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (94,4%).

Cùng xu hướng với tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh cũng tăng dần trong giai đoạn 2014-2024. Tỷ lệ này năm 2024 là 97,5%, tăng 0,8 điểm  phần trăm so với 2023 và 17,4 điểm phần trăm so với năm 2014. Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh ở khu vực nông thôn được cải thiện đáng kể trong giai đoạn 2014-2024 (từ 73,6% năm 2014 lên 96,2% năm 2024). Hai vùng có tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh cao nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (99,8%), thấp nhất là vùng Tây Nguyên (92,3%).

Hình 11. Tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước, hố xí hợp vệ sinh năm 2014 và năm 2024 phân theo khu vực thành thị – nông thôn

                                                                               Đơn vị tính: %

Sử dụng điện sinh hoạt cũng là một khía cạnh quan trọng phản ánh đời sống cư dân. Kết quả khảo sát cho thấy điện lưới quốc gia đã đưa đến hầu hết các hộ gia đình với tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt đạt tới 99,9% trong năm 2024, không có sự khác biệt đáng kể giữa khu vực thành thị – nông thôn và giữa các vùng. Trong đó, khu vực thành thị, vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt đạt xấp xỉ 100%.

Năm 2024, trên cả nước có tới 99,9% hộ gia đình có đồ dùng lâu bền. Tỷ lệ này đạt 100% ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ.

Trị giá đồ dùng lâu bền bình quân một hộ gia đình có đồ dùng lâu bền có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2014-2024. Năm 2024, trị giá đồ dùng lâu bền bình quân một hộ là gần 86,9 triệu đồng, tăng 3,1% so với năm 2022 (84,3 triệu đồng), gấp hơn 2 lần so với năm 2014 (42,3 triệu đồng).

Việc mua mới đồ dùng lâu bền trong 12 tháng qua cũng phản ánh mức độ thay thế và bổ sung thêm tài sản, thiết bị, phương tiện phục vụ đời sống hộ gia đình. Năm 2024, tỷ lệ hộ có mua sắm đồ dùng lâu bền trong 12 tháng qua là 24,6%, tăng 0,7 điểm phần trăm so với năm 2022. Tỷ lệ này đã tăng trở lại sau khi liên tiếp giảm trong các năm 2020, 2022. Tuy nhiên, năm 2024 trị giá đồ dùng lâu bền mua mới bình quân một hộ có mua trong 12 tháng qua chỉ ở mức gần 25,2 triệu đồng, giảm 20,9 triệu đồng so với năm 2022, phản ánh phần nào tâm lý hạn chế chi mua các đồ dùng có giá trị lớn.

2.7. Nghèo đa chiều

Tỷ lệ hộ nghèo năm 2024 là 2,3%, giảm 1,1 điểm  phần trăm so với năm 2023. Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước (7,8%). Ngược lại, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước (0,2%).

Xét riêng về 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, các hộ gia đình Việt Nam năm 2024 thiếu hụt nhiều nhất là về việc làm (40,3%), tiếp đến là trình độ giáo dục người lớn (30,7%) và dinh dưỡng (21,4%).

Hình 12. Tỷ lệ hộ thiếu hụt các chỉ số nghèo đa chiều năm 2024

                                                                   Đơn vị tính: %

2.8. Bất bình đẳng

Hệ số GINI (theo thu nhập) của Việt Nam năm 2024 là 0,372, không thay đổi nhiều so với năm 2023 và vẫn giữ ở mức bất bình đẳng trung bình. Mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị (0,369 so với 0,339). Hai vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao là Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cũng là hai vùng có mức độ bất bình đẳng cao nhất (tương ứng 0,401 và 0,405), Đồng bằng sông Hồng là vùng có mức độ bất bình đẳng thấp nhất (0,336).

Kết luận

Năm 2024, trong bối cảnh kinh tế xã hội thế giới còn nhiều bất ổn, khó khăn nhiều hơn thuận lợi nhưng Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực trong tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2024 tăng 9,1% so với năm 2023. Chi tiêu của người dân đã tăng trở lại sau thời gian sụt giảm do dịch bệnh Covid-19 với tốc độ tăng 6,5 % so với 2022, trung bình 1 năm trong giai đoạn 2022-2024 tăng 3,2%. Nhà ở và điều kiện sống của người dân ngày càng được cải thiện.

Mức giảm nghèo năm 2024 so với năm 2023 đạt 1,1 điểm phần trăm. Bất bình đẳng vẫn giữ ở mức trung bình. Tuy nhiên, những vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao lại là những vùng có mức độ bất bình đẳng cao do vậy cần tập trung thực hiện tốt các chính sách, chương trình tạo việc làm và nâng cao thu nhập cũng như các chính sách an sinh xã hội tại những vùng này./.

[1] Chi giáo dục đào tạo gồm học phí, trái tuyến (bao gồm cả chi phí giáo dục cho du học của thành viên hộ); đóng góp cho trường lớp; quần áo đồng phục; sách giáo khoa; dụng cụ học tập; học thêm và các khoản chi giáo dục khác (đi lại, lệ phí thi, bảo hiểm thân thể HSSV, thuê nhà trọ, đào tạo khác như ngoại ngữ, làm đầu, trang điểm…).


Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới

Như chúng ta đều biết, sau khi EVN công bố số liệu về tổng sản lượng điện thương phẩm năm 2025 chỉ tăng 4,9% so với năm 2024, trong khi tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 8,02%. Sự chênh lệch này khiến không ít ý kiến băn khoăn, thậm chí đặt câu hỏi liệu có sự “bất thường” giữa tăng tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu thụ điện, vốn lâu nay vẫn được xem là hai chỉ tiêu có quan hệ song hành. (07/01/2026)

Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo bước đột phá trong quản lý thuế

Năm 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành Thuế trong lộ trình chuyển đổi số quốc gia. Với việc tổ chức triển khai đồng bộ các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), Cục Thuế đã không ngừng hiện đại hóa công tác quản lý, nâng cao hiệu quả phục vụ người nộp thuế (NNT), góp phần tăng thu ngân sách nhà nước (NSNN), đảm bảo minh bạch, công bằng và hiệu lực quản lý thuế. (26/12/2025)

Đồng hành và chia sẻ khó khăn trong công tác chuyển đổi số

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai chương trình công tác năm 2026 do Cục CNTT tổ chức (ngày 19/12/2025), các đại biểu đã chia sẻ những khó khăn trong công tác chuyển đổi số. (22/12/2025)

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia

Phát biểu kết luận Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, 5 năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước, 4 năm triển khai Đề án 06, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan, sự lựa chọn mang tính chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong đầu tư, là động lực phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. (20/12/2025)

Kinh tế tuần hoàn là động lực chuyển đổi xanh

Trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn được xác định là một động lực then chốt của chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Đây cũng là thông điệp xuyên suốt tại phiên chuyên đề "Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững", diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. (19/12/2025)

Duy trì hiệu quả kinh doanh khi giá xăng dầu liên tục giảm

Thị trường xăng dầu trong nước đang ghi nhận chuỗi điều chỉnh giảm đối với hầu hết các mặt hàng. Ở góc độ người tiêu dùng, diễn biến này góp phần kéo giảm chi phí nhiên liệu đầu vào. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối đang "lao đao" ứng phó với diễn biến giá giảm và duy trì hiệu quả kinh doanh. (17/12/2025)

Xem thêm