Trong 6 tháng đầu năm 2025, thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động do ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đặc biệt việc Hoa Kỳ thay đổi chính sách thuế nhằm bảo vệ nền kinh tế trong nước đã gây căng thẳng thương mại và ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, xung đột quân sự Nga – U-crai-na tiếp tục leo thang, cuộc chiến tranh giữa I-ran và I-xra-en gây ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định khu vực và kinh tế thế giới. Nhiều quốc gia tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt, tổng cầu yếu khiến kinh tế thế giới tăng trưởng chậm. Lạm phát có xu hướng hạ nhiệt nhưng các ngân hàng Trung ương tiếp tục theo dõi và điều chỉnh chính sách tiền tệ để đối phó với áp lực lạm phát. Lạm phát của Mỹ tháng 5/2025 tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước và tại cuộc họp ngày 18-19/6/2025, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định giữ nguyên lãi suất trong biên độ 4,25%-4,5%. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), trong cuộc họp ngày 19/6/2025, giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 4,25% khi lạm phát tháng 5 ở mức 3,4%, cao nhất trong vòng hơn một năm và cao hơn nhiều so với mục tiêu 2% của BoE. Trong tháng 5/2025, lạm phát của khu vực đồng Euro tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; Đức tăng 2,1%; I-ta-li-a tăng 1,6%; Pháp tăng 0,7%. Tại châu Á, lạm phát tháng 5/2025 của Nhật Bản tăng 3,5%; Hàn Quốc tăng 1,9%; Phi-lip-pin tăng 1,3%. Ở chiều ngược lại, Thái Lan giảm 0,6%; Trung Quốc giảm 0,1%. Lạm phát của Việt Nam được kiểm soát ở mức phù hợp để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, CPI tháng 6/2025 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chủ động, quyết liệt, sát sao chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát như: Đảm bảo thông suốt hoạt động cung ứng, lưu thông, phân phối hàng hóa, dịch vụ; giảm mặt bằng lãi suất cho vay, ổn định thị trường ngoại hối; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công; triển khai các gói tín dụng hỗ trợ các ngành, lĩnh vực; giảm thuế giá trị gia tăng đối với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ; giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu; miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, tiền sử dụng đất để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu để có biện pháp điều hành phù hợp. Theo đó, lạm phát trong tầm kiểm soát, bình quân 6 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm 2024.
PHẦN I. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, đặc biệt là cát, đá, gạch tăng cao bất thường, xăng dầu tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2025 tăng 0,48% so với tháng trước. So với tháng 12/2024, CPI tháng Sáu tăng 2,02%; tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý II/2025 tăng 3,31% so với quý II/2024. Bình quân 6 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,16%.
I. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 6 NĂM 2025
So với tháng trước, CPI tháng 6/2025 tăng 0,48% (khu vực thành thị tăng 0,5%; khu vực nông thôn tăng 0,45%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng nhóm bưu chính, viễn thông giảm giá.
Nhóm giao thông tháng 6/2025 tăng 1,66% so với tháng trước, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá dầu diezen tăng 5,37%; xăng tăng 4,12% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá vận tải đường sắt tăng 5,15%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,42%, tác động làm tăng CPI chung 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,93% khi nguồn cung khan hiếm, chi phí sản xuất và nhu cầu xây dựng cao; giá thuê nhà tăng 0,51% do giá bán bất động sản ở mức cao, chi phí bảo trì, vận hành tăng; giá điện sinh hoạt tăng 5% do nhu cầu sử dụng điện tăng và EVN tăng giá điện sinh hoạt từ ngày 10/5/2025; giá nước sinh hoạt tăng 0,22%; giá dầu hỏa tăng 3,98% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,27%, trong đó giá tua du lịch trọn gói tăng 0,82% do nhu cầu du lịch tăng trong dịp hè; thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,3%; vé thuê chỗ chơi thể thao tăng 0,24%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,2% do chi phí sản xuất và nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa nắng nóng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,06%, tác động làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm, trong đó nhóm lương thực giảm 0,31%; thực phẩm tăng 0,02%; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,3% do nhu cầu tiêu dùng trong dịp hè và chi phí vận hành tăng. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược tăng khi tỷ giá tăng. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,09%; nhóm giáo dục tháng 6/2025 tăng nhẹ 0,01%.
Ở chiều ngược lại, nhóm bưu chính, viễn thông tháng 6/2025 giảm 0,02% so với tháng trước, trong đó phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 1,31%; máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,77%.
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 6/2025 tăng 3,57%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá.
Các nhóm hàng có chỉ số giá tháng 6/2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như sau: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 12,92%, làm CPI chung tăng 0,7 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,23%, tác động làm tăng CPI chung 1,36 điểm phần trăm, trong đó giá nhà ở thuê tăng 7,87%; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 5,46% do nhu cầu thuê nhà và chi phí nhân công, vật tư sửa chữa tăng; giá điện sinh hoạt tăng 8,48%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,52%; dịch vụ nước sinh hoạt tăng 4,85%; dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 2,84%; giá gas và các loại chất đốt khác tăng 2,98%; nước sinh hoạt tăng 1,09%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,01% tác động làm CPI chung tăng 1,01 điểm phần trăm, trong đó giá nhóm lương thực tăng 0,38%; thực phẩm tăng 3,16%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,76%. Nhóm giáo dục tăng 3,06% tác động làm CPI chung tăng 0,19 điểm phần trăm. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,7% làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm, chủ yếu do nhu cầu du lịch và chi phí vận chuyển, lưu trú và các dịch vụ giải trí đồng loạt tăng trong mùa cao điểm. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,1%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,68%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,35%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,68%.
Ở chiều ngược lại, nhóm giao thông tháng 6/2025 giảm 1,87% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung giảm 0,18 điểm phần trăm, trong đó giá xăng, dầu giảm 8,32%; xe ô tô mới giảm 0,57%. Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,24%, tác động làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm do giá điện thoại di động thông minh, máy tính bảng và phụ kiện giảm.
Chỉ số giá vàng
Tính đến ngày 28/6/2025, bình quân giá vàng thế giới ở mức 3.369,73 USD/ounce, tăng 1,93% so với tháng 5/2025. Giá vàng tháng 6/2025 tăng chủ yếu do tác động kết hợp của bất ổn địa chính trị tại khu vực Trung đông, cùng với sức mua từ ngân hàng Trung ương và các quỹ đầu tư vàng tăng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2025 giảm 1,27% so với tháng 5/2025; tăng 48,01% so với cùng kỳ năm trước; tăng 33,54% so với tháng 12/2024; bình quân quý II/2025 tăng 43,62% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá vàng tăng 37,4% so với cùng kỳ năm 2024. Giá vàng trong nước ngược chiều với xu hướng thế giới khi Ngân hàng Nhà nước cho biết đã hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng bỏ độc quyền sản xuất vàng miếng và độc quyền vàng.
Chỉ số giá đô la Mỹ
Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 28/6/2025, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,6 điểm, giảm 1,34% so với tháng trước do tác động tổng hợp của kỳ vọng FED sẽ sớm cắt giảm lãi suất trong tháng 7/2025, cùng với lo ngại về khả năng chính sách tiền tệ bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị dẫn đến xu hướng dịch chuyển dòng vốn sang các kênh đầu tư hấp dẫn hơn. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2025 tăng 0,32% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ phục vụ thanh toán xuất nhập khẩu tăng; tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,92% so với tháng 12/2024; bình quân quý II/2025 tăng 2,98%; bình quân 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2024.
II. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG QUÝ II NĂM 2025
Chỉ số giá tiêu dùng quý II/2025 tăng 3,31% so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu do:
– Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống bình quân quý II/2025 tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm tăng CPI chung 1,21 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,59%, tác động làm tăng CPI chung 0,02 điểm phần trăm; nhóm thực phẩm tăng 4,1% do nhu cầu tiêu dùng trong dịp nghỉ Lễ 30/4-1/5 và Tết Đoan Ngọ tăng, tác động làm tăng CPI chung 0,87 điểm phần trăm; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 3,68%, làm tăng CPI chung 0,32 điểm phần trăm do nhu cầu tăng, giá nguyên liệu đầu vào và chi phí nhân công tăng.
– Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,35% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm tăng CPI chung 1,2 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 7,8%, tác động làm tăng 0,82 điểm phần trăm; chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 5,91% do nhu cầu sử dụng tăng cao, tác động làm tăng 0,2 điểm phần trăm.
– Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2024-2025, tác động làm tăng CPI chung 0,18 điểm phần trăm.
– Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,35%, tác động làm tăng CPI chung 0,72 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.
– Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,98%, tác động làm CPI tăng 0,09 điểm phần trăm.
– Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,57%, nguyên nhân chủ yếu do giá nhóm đồ trang sức tăng theo giá vàng trong nước và thế giới và giá đồ dùng cá nhân tăng.
Ở chiều ngược lại, chỉ số giá nhóm giao thông giảm 4,83%, tác động làm CPI giảm 0,47 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu giảm 15,31% theo giá thế giới, tác động làm CPI giảm 0,55 điểm phần trăm. Chỉ số giá nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,31% do giá điện thoại thế hệ cũ giảm, góp phần làm CPI giảm 0,01 điểm phần trăm.
III. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2025
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2025 tăng 3,27% so với cùng kỳ năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu do:
– Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,69%, tác động làm CPI chung tăng 1,24 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 12,75% do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết, tác động làm CPI chung tăng 0,43 điểm phần trăm; chỉ số giá thực phẩm tăng 4,15%.
– Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,73%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 5,51% do nhu cầu sử dụng điện tăng cùng với EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân vào ngày 11/10/2024 và ngày 10/5/2025, tác động làm CPI chung tăng 0,18 điểm phần trăm.
– Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,87%, làm CPI chung tăng 0,75 điểm phần trăm do giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế.
– Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,6%, tác động làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm.
– Chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,6%, làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm do giá đồ dùng cá nhân tăng 4,71%; lệ phí công chứng, bảo hiểm và dịch vụ khác tăng 17,26%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số giá nhóm giao thông giảm 3,63%, góp phần làm CPI chung giảm 0,35 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu giảm 12,56%. Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,45%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.
IV. LẠM PHÁT CƠ BẢN
Lạm phát cơ bản[1] tháng 6/2025 tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2025, lạm phát cơ bản tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 3,27% của CPI bình quân chung, nguyên nhân chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, điện sinh hoạt, giá dịch vụ y tế là yếu tố tác động làm tăng CPI nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
PHẦN II. CHỈ SỐ GIÁ SẢN XUẤT, CHỈ SỐ GIÁ NGUYÊN NHIÊN
VẬT LIỆU DÙNG CHO SẢN XUẤT, CHỈ SỐ GIÁ XUẤT KHẨU,
NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
Trong 6 tháng đầu năm 2025, hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ duy trì tăng trưởng tích cực mặc dù chịu ảnh hưởng từ chi phí đầu vào và áp lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất và chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II và 6 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước; riêng chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa giảm theo thị trường thế giới.
I. CHỈ SỐ GIÁ SẢN XUẤT SẢN PHẨM NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2025 giảm 0,65% so với quý I/2025 và tăng 4,68% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,35%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,66%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 3,82%.
1. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan quý II/2025 giảm 0,79% so với quý trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản phẩm từ cây hằng năm giảm 1,95% và giảm 1,58%; sản phẩm từ cây lâu năm giảm 1,66% và tăng 12,24%; sản phẩm từ chăn nuôi tăng 0,95% và tăng 7,78%; dịch vụ nông nghiệp tăng 0,47% và tăng 1,64%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:
Chỉ số giá sản phẩm từ cây hằng năm giảm 0,49% chủ yếu do giá thóc khô giảm 3,53% ảnh hưởng giá gạo thế giới giảm khi Ấn Độ cho phép xuất khẩu và nguồn cung trong nước tăng vào vụ đông xuân; giá sản phẩm cây lấy sợi giảm 5,99%. Ngược lại, giá mía cây tươi tăng 2,42% do nhu cầu tăng; giá sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 5,36%; giá rau các loại tăng 2,77%.
Chỉ số giá sản phẩm từ cây lâu năm tăng 19,56%, trong đó giá sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 93,85%, do nhu cầu sử dụng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất tăng; giá hồ tiêu tăng 54,24%; giá cà phê nhân tăng 43,01%; giá mủ cao su khô tăng 30,46%; giá hạt điều khô tăng 25,68%. Ngược lại, giá sản phẩm cây ăn quả giảm 0,44% do trong quý II/2025 một số loại trái cây như cam, quýt và các loại quả có múi khác đang vào vụ thu hoạch, trong khi nhu cầu xuất khẩu giảm.
Chỉ số giá sản phẩm từ chăn nuôi tăng 8,85%, trong đó giá sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn tăng 17,85% do nhu cầu tiêu thụ tăng trong khi nguồn cung tại một số khu vực bị ảnh hưởng của dịch bệnh; giá dịch vụ chăn nuôi tăng 1,31%. Ngược lại, giá sản phẩm chăn nuôi gia cầm giảm 1,26%.
2. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan quý II/2025 tăng 0,1% so với quý trước và tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chỉ số giá sản phẩm trồng rừng, chăm sóc rừng và cây giống lâm nghiệp tăng 0,95% và tăng 3,22%; lâm sản khai thác, thu nhặt khác trừ gỗ giảm 0,27% và tăng 3,14%; dịch vụ lâm nghiệp tăng 0,59% và tăng 3,45%.
Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,66% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm trồng rừng, chăm sóc rừng và cây giống lâm nghiệp tăng 2,88%; gỗ khai thác tăng 3,84%; lâm sản khai thác, thu nhặt khác trừ gỗ tăng 3,6%; dịch vụ lâm nghiệp tăng 4,09%.
3. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng quý II/2025 giảm 0,35% so với quý trước và tăng 3,72% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó, giá nhóm sản phẩm thủy sản khai thác giảm 0,5% và tăng 2,47%; nhóm thủy sản nuôi trồng giảm 0,26% và tăng 4,57%.
Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất sản phẩm thủy sản tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá nhóm sản phẩm thủy sản khai thác tăng 2,24%; giá nhóm thủy sản nuôi trồng tăng 4,92%.
II. CHỈ SỐ GIÁ SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2025 tăng 0,56% so với quý trước và tăng 1,65% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,95% so với cùng kỳ năm 2024.
1. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng quý II/2025 giảm 3,34% so với quý trước và giảm 7,05% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 3,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chỉ số giá dầu thô và khí đốt tự nhiên khai thác giảm 5,61% theo biến động giá dầu thế giới; chỉ số giá sản xuất nhóm than cứng và than non giảm 3,21% do một số doanh nghiệp giảm giá bán để cạnh tranh; chỉ số giá quặng và tinh quặng kim loại giảm 0,94% do tiêu thụ trong nước gặp khó khăn và xuất khẩu cạnh tranh gay gắt. Ngược lại, chỉ số giá sản phẩm khai khoáng khác tăng 2,48% do hoạt động khai thác cát và đá bị hạn chế ở nhiều khu vực; chỉ số giá dịch vụ hỗ trợ khai khoáng tăng 0,56% bởi chi phí nhân công tăng.
2. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2025 tăng 0,73% so với quý trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản phẩm chế biến thực phẩm tăng 4,24% do chi phí nhân công và giá nguyên liệu sản xuất sản phẩm đầu vào tăng; chỉ số giá sản phẩm trang phục tăng 2,64% do giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng; chỉ số giá hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,05% do giá một số mặt hàng như dầu nhựa thông, sơn tăng. Ngược lại, chỉ số giá than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 7,08% và chỉ số giá sản phẩm kim loại giảm 4,64% do ảnh hưởng của thị trường thế giới khi nguồn cung dồi dào, nhu cầu tiêu thụ ở các nền kinh tế lớn giảm.
3. Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí
Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí quý II/2025 tăng 0,38% so với quý trước và tăng 9,83% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,27% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do một số tỉnh vào mùa khô hạn, lượng nước trên các hồ thuỷ điện giảm thấp khiến sản lượng điện sản xuất giảm tác động làm cho chỉ số giá thủy điện tăng. Cùng với đó, một số công ty sản xuất điện bán lại cho hệ thống điện EVN vào khung giờ cao điểm và EVN tăng giá bán điện từ ngày 10/5/2025 nên các công ty điều chỉnh giá dịch vụ truyền tải điện để đảm bảo lợi nhuận.
4. Chỉ số giá sản xuất nước tự nhiên khai thác; dịch vụ quản lý nước và xử lý rác thải, nước thải
Chỉ số giá sản xuất nước tự nhiên khai thác; dịch vụ quản lý nước và xử lý rác thải, nước thải quý II/2025 tăng 0,4% so với quý trước và tăng 1,68% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất nước tự nhiên khai thác; dịch vụ quản lý nước và xử lý rác thải, nước thải ước tính tăng 2,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhân công, chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh giá nước sạch, dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu.
III. CHỈ SỐ GIÁ SẢN XUẤT DỊCH VỤ
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2025 tăng 0,58% so với quý trước và tăng 5,12% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 6,23%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,55%; giáo dục và đào tạo tăng 1,11%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 18,97%; hoạt động dịch vụ khác tăng 3,66%; hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình tăng 4,28%.
1. Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi
Chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi quý II/2025 tăng 0,88% so với quý trước và tăng 6,23% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 6,23% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Chỉ số giá dịch vụ vận tải đường sắt, đường bộ tăng 2,57%, trong đó chỉ số giá dịch vụ vận tải đường sắt giảm 2,21% do ngành đường sắt triển khai chính sách ưu đãi nhằm kích cầu; dịch vụ vận tải bằng xe buýt tăng 22,87% do một số địa phương điều chỉnh giá vé để bù đắp chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ; chỉ số giá dịch vụ vận tải đường thủy tăng 2,66%, trong đó giá dịch vụ vận tải đường ven biển và viễn dương tăng 3,1% do tình trạng tắc nghẽn cảng biển ngày càng trở nên trầm trọng, cùng với chi phí vận hành tăng và những bất ổn từ thương mại quốc tế, địa chính trị toàn cầu là nguyên nhân chính tác động làm tăng giá. Chỉ số giá dịch vụ vận tải đường hàng không tăng 67,39%, chủ yếu do nhu cầu du lịch, đi lại tăng cao, chi phí nhiên liệu bay duy trì ở mức cao và chịu ảnh hưởng khi tỷ giá tăng. Chỉ số giá dịch vụ kho bãi và các dịch vụ liên quan đến hỗ trợ vận tải tăng 2,39%; dịch vụ bưu chính và chuyển phát tăng 1,07%.
2. Chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống
Chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống quý II/2025 tăng 1,5% so với quý trước và tăng 4,83% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó dịch vụ lưu trú tăng 2,63% và tăng 7,54%; dịch vụ ăn uống tăng 1,36% và tăng 4,5%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 4,55% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó chỉ số giá dịch vụ lưu trú tăng 7,23% do hoạt động du lịch phục hồi, lượng khách nội địa và quốc tế gia tăng, đặc biệt vào các dịp Lễ, Tết và mùa du lịch hè. Bên cạnh đó, chi phí vận hành tăng, cùng với áp lực nâng cấp hạ tầng và dịch vụ nhằm đáp ứng kỳ vọng ngày càng cao của khách du lịch và duy trì lợi thế cạnh tranh, từ đó góp phần làm tăng giá dịch vụ lưu trú. Chỉ số giá dịch vụ ăn uống tăng 4,24% do giá nguyên vật liệu đầu vào như thịt lợn, thực phẩm chế biến tăng cao, cùng với áp lực từ chi phí vận chuyển, nhân công, tỷ giá, lạm phát chung đã đẩy chi phí dịch vụ tăng lên và hoạt động du lịch ngày càng phát triển làm nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tăng.
3. Chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội
Chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội quý II/2025 tăng 0,36% so với quý trước và tăng 18,34% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 18,97% so với cùng kỳ năm 2024, chủ yếu do các địa phương áp dụng mức giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh có xu hướng tăng trở lại, đặc biệt là các đợt bùng phát cục bộ của dịch Covid-19 và bệnh hô hấp trong bối cảnh điều kiện thời tiết bất lợi đã làm gia tăng nhu cầu khám chữa bệnh và chi tiêu y tế.
4. Hoạt động dịch vụ khác
Chỉ số giá hoạt động dịch vụ khác quý II/2025 tăng 0,04% so với quý trước và tăng 3,13% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhân công, phí sửa chữa, bảo dưỡng đồ dùng gia đình, các dịch vụ về cưới hỏi và giá các hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân tăng. Tính chung 6 tháng năm 2025, chỉ số giá hoạt động dịch vụ khác tăng 3,66% so với cùng kỳ năm 2024.
IV. CHỈ SỐ GIÁ NGUYÊN NHIÊN VẬT LIỆU DÙNG CHO SẢN XUẤT
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2025 tăng 0,67% so với quý trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 3,84% so với cùng kỳ năm trước.
1. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2025 tăng 0,33% so với quý trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chỉ số giá nhóm sản phẩm chăn nuôi tăng 16,46%; sản phẩm nhân và chăm sóc cây giống lâu năm tăng 14,29%; điện sản xuất tăng 5,85%; dịch vụ thú y tăng 4,39%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng tăng 4,06%; sản phẩm trồng rừng và chăm sóc rừng tăng 3,14%; hóa chất cơ bản, phân bón và hợp chất nitơ tăng 2,64%; hơi nước, nước nóng, nước đá tăng 2,31%; sản phẩm dệt khác tăng 2,21%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản phẩm chăn nuôi tăng 16,93% do nhu cầu tái đàn của người chăn nuôi tăng trong khi nguồn cung giảm do ảnh hưởng từ dịch tả lợn châu Phi và cúm gia cầm; sản phẩm nhân và chăm sóc cây giống lâu năm tăng 16,0% do nhu cầu mua cây giống tăng; dịch vụ thú y tăng 4,58%. Ngược lại, sản phẩm chế biến từ dầu mỏ giảm 5,56% theo giá thế giới; sản phẩm cây hằng năm giảm 3,29%.
2. Nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2025 tăng 0,67% so với quý trước và tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhóm sản phẩm phương tiện và thiết bị vận tải tăng 17,09%; thủy sản nước ngọt nguyên liệu tăng 15,23%; sản phẩm thủy sản khai thác tăng 10,38%; sản phẩm cây lâu năm tăng 10,35%; sản phẩm linh kiện điện tử tăng 9,76%; quặng kim loại khác không chứa sắt tăng 6,63%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,25%, trong đó chỉ số giá nhóm phương tiện và thiết bị vận tải tăng 15,19%; thủy sản nước ngọt nguyên liệu tăng 14,36%; sản phẩm cây lâu năm tăng 12,18%; sản phẩm linh kiện điện tử tăng 10,75%; sản phẩm thủy sản khai thác tăng 9,96%. Ngược lại, chỉ số giá sản phẩm thuốc lá giảm 17,49%; sản phẩm từ chế biến dầu mỏ giảm 7,52%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 7,76%.
3. Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng quý II/2025 tăng 0,72% so với quý trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá đá, cát, sỏi, đất sét tăng 10,61% do các cơ sở khai thác bị tạm ngừng hoạt động, nguồn cung khan hiếm nên giá tăng mạnh; điện sản xuất tăng 7,78%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 4,39%; dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước tăng 3,42%; dịch vụ thiết kế chuyên dụng tăng 3,27%; thủy tinh và các sản phẩm làm từ thủy tinh tăng 3,25%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhóm đá, cát, sỏi, đất sét tăng 8,17% do nguồn cung khan hiếm; điện sản xuất tăng 7,47%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 4,49%; dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước tăng 4,11%. Ngược lại, chỉ số giá nhóm sản phẩm từ chế biến dầu mỏ giảm 10,74%; sản phẩm gang sắt, thép giảm 0,23%; đồ điện dân dụng giảm 0,14%.
V. CHỈ SỐ GIÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU, TỶ GIÁ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA
1. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II/2025 giảm 0,59% so với quý trước và tăng 2,46% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,53% và tăng 15%; nhóm nhiên liệu giảm 3,01% và giảm 15,45%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,69% và tăng 1,39%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 16,94%; nhóm nhiên liệu giảm 12,29%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 2,47%. Cụ thể: Giá xuất khẩu cà phê tăng 57,11% do nhu cầu tiêu thụ cà phê trên thế giới tăng cao; giá xuất khẩu hạt tiêu tăng 54,18% do sản lượng hạt tiêu toàn cầu giảm trong khi nhu cầu tiêu thụ ổn định; giá xuất khẩu cao su tăng 26,01%; hạt điều tăng 21,14%; hàng thủy sản tăng 5,47%. Ngược lại, giá sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu giảm 21,99%; giá xăng dầu các loại giảm 11,95%; thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 8,57%; gạo giảm 7,9%.
2. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý II/2025 giảm 0,3% so với quý trước và giảm 1,56% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,3% và tăng 2,94%; nhóm nhiên liệu giảm 3,47% và giảm 8,28%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,11% và giảm 1,27%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa giảm 1,57% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhóm nông sản, thực phẩm tăng 3,18%; nhóm nhiên liệu giảm 7,29%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 1,35%. Cụ thể: Giá nhập khẩu than đá giảm 16,49%; thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu giảm 14,97%; lúa mỳ giảm 9,38%; sắt, thép giảm 9,23%. Ngược lại, giá nhập khẩu hàng rau quả tăng 3,55%; dây điện và dây cáp điện tăng 2,02%.
3. Tỷ giá thương mại hàng hóa
Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT)[2] quý II/2025 giảm 0,29% so với quý trước và tăng 4,09% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, hàng thủy sản tăng 2,62% và tăng 6,24%; hàng rau quả giảm 0,47% và giảm 0,09%; xăng dầu các loại giảm 1,39% và giảm 14,29%; cao su giảm 1,24% và tăng 8,02%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 0,61% và tăng 1,29%; sắt thép tăng 0,18% và giảm 0,66%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 2,22% và giảm 0,32%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, TOT tăng 5,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cao su tăng 11,47%; hàng thủy sản tăng 5,76%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 4,55%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,83%; sắt, thép giảm 0,03%; hàng rau quả giảm 0,55%; xăng dầu giảm 12,41%.
TOT 6 tháng đầu năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước do chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng trong khi chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa giảm, phản ánh Việt Nam đang ở vị trí thuận lợi khi giá hàng xuất khẩu có lợi thế hơn so với giá hàng nhập khẩu./.
[1] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[2] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)
80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia
Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)