1. Tình hình dân số

Dân số trung bình năm 2025 ước tính là 102,3 triệu người, tăng 1.001,6 nghìn người, tương đương tăng 0,99% so với năm 2024. Trong đó, dân số thành thị là 39,4 triệu người, chiếm 38,6%; dân số nông thôn là 62,9 triệu người, chiếm 61,4%; dân số nam là 51,0 triệu người, chiếm 49,9%; dân số nữ là 51,3 triệu người, chiếm 50,1%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2025 là 99,5 nam/100 nữ.

Theo Kết quả Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2025, tổng tỷ suất sinh năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ. Tỷ số giới tính khi sinh là 109,0 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 13,7‰; tỷ suất chết thô là 6,1‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 11,2‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 16,7‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2025 là 74,7 tuổi, tương đương với năm 2024 (trong đó tuổi thọ trung bình của nam là 72,3 tuổi và nữ là 77,3 tuổi).

2. Lực lượng lao động

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV/2025 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 488,7 nghìn người so với quý trước và tăng 690,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý IV/2025 là 68,7%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,6%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm trước.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý IV/2025 là 29,5%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tính chung năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm.

3. Lao động có việc làm

Lao động có việc làm quý IV/2025 ước tính là 52,7 triệu người, tăng 477,5 nghìn người so với quý trước và tăng 656,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 20,7 triệu người, tăng 384,2 nghìn người so với quý trước và tăng 593,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 32,0 triệu người, tăng 93,2 nghìn người và tăng 62,4 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý IV/2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,4 triệu người, chiếm 25,4%, tăng 40,6 nghìn người so với quý trước và giảm 130,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người, chiếm 33,8%, tăng 229,7 nghìn người và tăng 264,8 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,5 triệu người, chiếm 40,8%, tăng 207,2 nghìn người và tăng 521,4 nghìn người.

Tính chung năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,1%) so với năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 20,4 triệu người, tăng 518,1 nghìn người so với năm trước; khu vực nông thôn là 32,0 triệu người, giảm 60,2 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm năm 2025 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,5 triệu người, chiếm 25,7% và giảm 194,7 nghìn người so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,5 triệu người, chiếm 33,5% và tăng 183,3 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,4 triệu người, chiếm 40,8% và tăng 589,6 nghìn người.

Số lao động có việc làm phi chính thức (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản)[1] quý IV/2025 là 32,7 triệu người, chiếm 61,9% trong tổng số lao động có việc làm, giảm 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2025, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 63,1%, giảm 1,4 điểm phần trăm so với năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 47,0%, giảm 2,0 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 73,3%, giảm 0,8 điểm phần trăm; nam là 66,4%, giảm 1,1 điểm phần trăm và nữ là 59,3%, giảm 1,7 điểm phần trăm.

4. Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[2]

Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV/2025 là 784,1 nghìn người, tăng 88,3 nghìn người so với quý trước và tăng 19,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý IV/2025 là 1,67%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 1,27%; khu vực nông thôn là 1,94%.

Trong quý IV/2025, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 352,7 nghìn người, chiếm 45,0%, tăng 24,2 nghìn người so với quý trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 166,3 nghìn người, chiếm 21,2%, tăng 46,7 nghìn người; khu vực dịch vụ là 265,0 nghìn người, chiếm 33,8%, tăng 17,5 nghìn người.

Tính chung năm 2025, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 772,5 nghìn người, giảm 81,3 nghìn người so với năm trước; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, giảm 0,20 điểm phần trăm so với năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,25%, giảm 0,05 điểm phần trăm; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,93%, giảm 0,29 điểm phần trăm.

5. Thu nhập bình quân của lao động

Thu nhập bình quân của lao động quý IV/2025 là 8,7 triệu đồng/tháng, tăng 323 nghìn đồng so với quý III/2025 và tăng 508 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 9,8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,4 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,4 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,6 triệu đồng/tháng.

Tính chung năm 2025, thu nhập bình quân của lao động là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9%, tương ứng tăng 685 nghìn đồng so với năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 9,5 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 7,2 triệu đồng/tháng; thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị là 10,1 triệu đồng/tháng, khu vực nông thôn là 7,3 triệu đồng/tháng.

6. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[3]

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV/2025 là 2,22%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với quý trước và không đổi so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,04%; khu vực nông thôn là 2,05%.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 là 2,22%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,51%; khu vực nông thôn là 2,02%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý IV/2025 là 9,04%, tăng 0,06 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,08 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 11,12%; khu vực nông thôn là 7,81%. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 1,4 triệu thanh niên, chiếm 10,2% tổng số thanh niên, giảm 169,2 nghìn người so với quý trước và tăng 124,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở, khu vực thành thị là 8,0%; khu vực nông thôn là 11,7%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 12,1%; nam là 8,3%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2025 là 8,64%, tăng 0,72 điểm phần trăm so với năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 11,23%, tăng 1,71 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 7,09%, tăng 0,08 điểm phần trăm.

7. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[4]

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng quý IV/2025 là 4,0%, đều tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của khu vực thành thị là 3,8%; khu vực nông thôn là 4,1%.

Tính chung năm 2025, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,9%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 3,7% và khu vực nông thôn là 4,0%.

8. Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý IV/2025 là 3,8 triệu người, tăng 34,1 nghìn người so với quý trước và tăng 177,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 88,4% và tập trung ở nữ giới, chiếm 63,7%. Trong tổng số 3,8 triệu người là lao động sản xuất tự sản tự tiêu, có hơn 2,3 triệu người trong độ tuổi từ 55 tuổi trở lên (chiếm 61,8%).

Tính chung năm 2025, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là 3,8 triệu người, tăng 122,5 nghìn người so với năm 2024. Lao động tự sản tự tiêu là nữ giới chiếm 63,4%.

[1]  Lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong khu vực hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) là những người có việc làm và thuộc một trong các trường hợp sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức (iii) người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; (iv) lao động trong khu vực hộ nông nghiệp.

[2] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.

[3] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.

[4] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.


Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia

Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)

Xem thêm