Trong hai tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự tại Trung Đông leo thang; căng thẳng chính trị, thương mại gia tăng, tiềm ẩn rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Trong nước, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ, hoạt động sản xuất kinh doanh trên khắp cả nước đã ổn định trở lại. Các Bộ, ngành, địa phương quyết tâm thực hiện nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ; Chỉ thị 06/CT-TTg về đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết, tạo động lực tăng tốc, bứt phá phát triển kinh tế – xã hội theo mục tiêu đề ra. Một số nét chính về tình hình kinh tế – xã hội tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026 của nước ta như sau:

  1. Điểm sáng và khởi sắc

(1) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt kết quả tích cực. Chăn nuôi lợn dần phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh, đàn gia cầm phát triển ổn định; sản lượng gỗ khai thác đạt khá; giá bán các sản phẩm thủy sản nuôi trồng duy trì ở mức có lợi, khuyến khích người nuôi tranh thủ thu hoạch phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước dịp Tết Nguyên đán và chế biến xuất khẩu.

Tính đến cuối tháng 02/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tăng 1,6% so với cùng thời điểm năm trước; đàn gia cầm tăng 1,9%.

Sản lượng gỗ khai thác tháng 02/2026 ước đạt 1.381,9 nghìn m3, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; tính chung hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.634,3 nghìn m3, tăng 0,9%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 02/2026 ước đạt 381,4 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tra ước đạt 128,6 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm thẻ chân trắng đạt 39,6 nghìn tấn, tăng 8,5%; tôm sú đạt 17,7 nghìn tấn, tăng 6,0% do đẩy mạnh thu hoạch phục vụ tiêu dùng và chế biến xuất khẩu dịp Tết. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 722,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tra ước đạt 235,7 nghìn tấn, tăng 4,9%; tôm thẻ chân trắng đạt 68,1 nghìn tấn, tăng 8,1%; tôm sú đạt 33,7 nghìn tấn, tăng 5,3%.

(2) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 02/2026 ước tính vẫn tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước mặc dù số ngày làm việc trong tháng Hai năm nay ít hơn tháng Hai năm 2025[1]. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số IIP tăng khá ở mức 10,4% so với cùng kỳ năm trước do một số doanh nghiệp quy mô lớn chủ động vận hành liên tục trong kỳ nghỉ Tết, nhiều năng lực sản xuất mới và sản phẩm mới được bổ sung; trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 11,5%. Chỉ số IIP tăng ở 34 địa phương trên cả nước, một số ngành công nghiệp trọng điểm tăng cao[2], tạo đà tăng trưởng cho các tháng, quý tiếp theo của năm 2026.

(3) Những tháng đầu năm ghi nhận tinh thần khởi nghiệp sôi động, phản ánh sự kỳ vọng của doanh nghiệp đối với đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 35,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt gần 313,7 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký đạt hơn 167,5 nghìn lao động, tăng 70,7% về số doanh nghiệp, tăng 36,1% về vốn đăng ký và tăng 19,1% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.

(4) Hoạt động dịch vụ trong hai tháng đầu năm diễn ra sôi động, đáp ứng nhu cầu mua sắm, đi lại của người dân trong dịp Tết Nguyên đán.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng hai tháng đầu năm tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước[3]; vận chuyển hành khách tăng 23,6% và luân chuyển hành khách tăng 17,0%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,7% và luân chuyển hàng hóa tăng 6,4%.

Nhiều hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh ngay từ những tháng đầu năm 2026. Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Hai đạt 2,2 triệu lượt người, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước; tính chung hai tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 4,7 triệu lượt người, tăng 18,1%.

(5) Hoạt động xuất, nhập khẩu tăng trưởng cao, phản ánh xu hướng sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh ngay từ những tháng đầu năm. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa hai tháng đầu năm 2026 ước đạt 155,70 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3%, kim ngạch nhập khẩu đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3%.

 (6) Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới và thực hiện tăng cao, cho thấy các nhà đầu tư tiếp tục tin tưởng vào phát triển của kinh tế Việt Nam.

Tính đến ngày 28/02/2026, vốn đầu tư nước ngoài đăng ký cấp mới vào Việt Nam đạt 3,54 tỷ USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8%, là mức thực hiện cao nhất của tháng Hai các năm trong giai đoạn 2022-2026[4].

(7) Lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp, nguồn cung hàng hóa trong dịp Tết Nguyên đán dồi dào, giá cả hàng hóa tiêu dùng thiết yếu tương đối ổn định. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân hai tháng đầu năm 2026 tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,47%.

(8) Công tác an sinh xã hội được các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm kịp thời, hiệu quả. Tính từ đầu năm đến ngày 27/02/2026, Chính phủ đã hỗ trợ người dân 15,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán; 5,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt và 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ.

  1. Hạn chế, tồn tại

(1) Ngành Nông nghiệp gặp một số khó khăn. Tiến độ gieo trồng một số cây hằng năm tính đến ngày 20/02/2026 đạt thấp chủ yếu do ảnh hưởng của bão, mưa lũ các tháng cuối năm 2025; đàn trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao[5], giá bán thiếu ổn định, chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng.

(2) Vốn đầu tư nước ngoài điều chỉnh thấp hơn cùng kỳ năm trước, cho thấy sự thận trọng của nhà đầu tư khi mở rộng quy mô các dự án hiện hữu ở Việt Nam. Trong hai tháng đầu năm 2026, vốn đăng ký nước ngoài điều chỉnh có 180 lượt dự án và vốn điều chỉnh tăng thêm đạt 1,99 tỷ USD, giảm 29,7% về số lượt dự án và giảm 52,3% về số vốn so với cùng kỳ năm trước.

(3) Nhu cầu tiêu dùng trong nước hai tháng đầu năm 2026 tăng trưởng thấp nhất của cùng kỳ các năm trong bốn năm gần đây. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với tốc độ tăng cùng kỳ các năm 2023-2025 (lần lượt là 16,3%; 8,3%; 9,3%).

(4) Doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn về dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ. Mặc dù vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới tăng cao nhưng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong hai tháng đầu năm 2026 đạt 8,8 tỷ đồng, giảm 20,3% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn cùng kỳ các năm 2024 và 2025 (lần lượt là 9,6 tỷ đồng và 11,1 tỷ đồng).

(5) Tình hình dịch bệnh và cháy nổ tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong hai tháng đầu năm nay, cả nước có 32,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 16,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay, chân, miệng; 1.854 trường hợp sốt phát ban nghi sởi … Trên địa bàn cả nước xảy ra 515 vụ cháy, nổ, làm 23 người chết và 27 người bị thương, thiệt hại ước tính 223,0 tỷ đồng, gấp 6,1 lần cùng kỳ năm trước.

  1. Kiến nghị

Trước những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế nêu trên, để tạo đà tăng trưởng cho các tháng, quý tiếp theo và hướng đến thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:

Một là, điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ với các chính sách tiền tệ và chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy các động lực tăng trưởng. Tăng cường thu ngân sách nhà nước theo hướng mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế; khai thác hiệu quả các nguồn thu từ đất đai, thương mại điện tử và kinh tế số để tạo nguồn cho tăng trưởng. Cập nhật các kịch bản dự báo về tăng trưởng, lạm phát hằng quý để có phản ứng kịp thời nhằm duy trì sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, diễn biến giá các hàng hóa chiến lược trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng, giá dầu thô trong bối cảnh xung đột tại khu vực Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp; tăng cường các giải pháp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy sản xuất trong nước và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; chủ động phân tích, dự báo, kịp thời cảnh báo các nguy cơ tác động đến mặt bằng giá trong nước.

Hai là, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch; quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, cung ứng vật liệu thi công, điều chỉnh kịp thời vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân tốt hơn; nâng cao tính hiệu quả của vốn đầu tư, bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, lãng phí; kịp thời phát hiện, tháo gỡ những dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm, gây thất thoát nguồn lực và làm giảm hiệu quả đầu tư, góp phần mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm, bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Tăng cường xúc tiến, thu hút các dự án FDI có quy mô lớn, công nghệ cao, các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư chiến lược, ưu tiên bố trí vốn triển khai dự án đầu tư trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số.

Ba là, đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo; đổi mới chính sách thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sản xuất công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Triển khai hiệu quả các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản dựa trên lợi thế của từng địa phương; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Khai thác, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bốn là, tăng cường xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm; tham gia sâu, rộng hơn vào các chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu. Khai thác hiệu quả các cơ hội từ các FTA đã ký kết; đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn, chủ lực; tăng cường khai thác các thị trường mới, tiềm năng. Tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong việc chống khai thác IUU, quyết tâm gỡ thẻ vàng của Ủy ban châu Âu.

Năm là, thực hiện hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”; bảo đảm cân đối cung – cầu, bình ổn thị trường và giá cả các mặt hàng thiết yếu. Thúc đẩy sản xuất, tăng cường kiểm soát giá cả, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá, không để găm hàng, đội giá; đẩy mạnh đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; nâng cao chất lượng các loại dịch vụ, nhất là dịch vụ ăn uống, lưu trú, du lịch nội địa; tăng cường quảng bá, thu hút khách du lịch quốc tế.

Sáu là, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh; chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm; công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai, cháy nổ được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống./.

CỤC THỐNG KÊ

 [1] Tết Nguyên đán năm 2026 diễn ra trong tháng Hai với 9 ngày nghỉ nên số ngày làm việc ít hơn so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, trong khi đó Tết Nguyên đán năm 2025 diễn ra trong tháng 01/2025.

 [2] Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,1%; sản xuất kim loại tăng 27,9%; sản xuất đồ uống tăng 20,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,3%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 20,1% … Một số địa phương có chỉ số IIP tăng cao: Ninh Bình tăng 33,1%; Phú Thọ tăng 32,5%; Bắc Ninh tăng 21,0%; Thanh Hóa tăng 16,1% …

 [3] Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2026 sơ bộ tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

 [4] Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tháng hai tháng đầu năm các năm 2022-2026 lần lượt là: 2,2 tỷ USD; 2,6 tỷ USD; 2,8 tỷ USD; 3,0 tỷ USD; 3,2  tỷ USD.

 [5] Diện tích gieo trồng lạc giảm 9,4%; ngô giảm 5,5%; đậu các loại giảm 5,3%; khoai lang giảm 3,3%; đậu tương giảm 2,1%; rau giảm 1,2%. Tổng số trâu của cả nước thời điểm cuối tháng 02/2026 ước giảm 4,4% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số bò giảm 2,1%.


80 năm ngành Thống kê: Từ căn nhà mái lá vùng Sơn Dương đến cơ quan thống kê quốc gia

Khởi đầu từ căn nhà lá vùng Sơn Dương (Tuyên Quang) với vài cán bộ chuyên trách, đến nay Cục Thống kê đã trở thành cơ quan thống kê quốc gia chuyên nghiệp, cung cấp số liệu tin cậy và xây dựng kịch bản kinh tế đất nước. (17/04/2026)

Kịch bản GDP quý II/2026: Phải tăng gần 11,0%

Tốc độ tăng trưởng GDP quý I thấp hơn mục tiêu đặt ra, vì vậy, theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng Ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính), quý II, GDP phải tăng tới gần 11% để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm nay. (15/04/2026)

Bài toán quản trị - Chìa khóa để ngành xây dựng thoát "vòng xoáy" chi phí, chuỗi cung ứng

Nhờ trợ lực từ dòng vốn đầu tư và các công trình hạ tầng liên tục được triển khai, hoạt động của ngành xây dựng ghi nhận những bước tiến khả quan trong quý đầu tiên của năm nay. (15/04/2026)

Doanh nghiệp rời thị trường: Sự sàng lọc tự nhiên của nền kinh tế

Nếu như có 96.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường trong quý I/2026, thì cũng có tới 91.800 doanh nghiệp rời khỏi “cuộc chơi”, là con số đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 3 tháng đầu năm nay. Theo bà Phí Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng (Cục Thống kê), thì đây là sự thanh lọc cần thiết. (15/04/2026)

Tăng trưởng 10% trở lên và tư duy phát triển mới

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ khép lại một hội nghị, mà còn gợi mở một cách tiếp cận mới về đường hướng phát triển. Ở đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số không được đặt ra như một sức ép chỉ tiêu đơn thuần, mà được đặt trong một chỉnh thể rộng hơn: nền tảng chính trị vững, thể chế tốt hơn, quản trị hiện đại hơn, bộ máy hiệu quả hơn và năng lực quốc gia mạnh hơn. (27/03/2026)

80 năm Thể dục thể thao Việt Nam: Nền tảng con người, động lực nâng cao vị thế quốc gia

Trải qua 80 năm hình thành và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, ngành Thể dục thể thao (TDTT) Việt Nam từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển con người toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao vị thế quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, bên cạnh những thành tựu nổi bật, ngành thể thao cũng đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để vươn tầm khu vực và thế giới. (27/03/2026)

Xem thêm