Sáu tháng đầu năm 2026, thị trường lao động phát triển ổn định. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, cho thấy thị trường lao động tiếp tục có những chuyển biến tích cực.

a) Lực lượng lao động

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2026 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 175,6 nghìn người so với quý trước và tăng 693,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,4%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,7 triệu người, tăng 690,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2026 là 29,8%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,7%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy chất lượng nguồn lao động đang dần được nâng cao.

b) Lao động có việc làm

Lao động có việc làm quý II/2026 ước tính đạt 52,7 triệu người, tăng 170,2 nghìn người so với quý trước và tăng 688,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người, tăng 67,3 nghìn người so với quý trước và tăng 523,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn đạt 32,0 triệu người, tăng 102,8 nghìn người và tăng 164,3 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý II/2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người (chiếm 25,2%), giảm 189,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người (chiếm 33,9%), tăng 546,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người (chiếm 40,9%), tăng 332,1 nghìn người.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm đạt 52,6 triệu người, tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người, chiếm 39,3%; khu vực nông thôn đạt 31,9 triệu người, chiếm 60,7%.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm sáu tháng đầu năm 2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,3 triệu người, giảm 202,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,7 triệu người, tăng 474,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người, tăng 401,0 nghìn người.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản)[1] vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Trong quý II/2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,7%, thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 71,2%; nam là 65,4% và nữ là 57,5%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,9%, thấp hơn 2,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 47,7%, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 71,1%, thấp hơn 2,8 điểm phần trăm; nam là 65,5%, thấp hơn 1,7 điểm phần trăm và nữ là 57,9%, thấp hơn 2,2 điểm phần trăm.

c) Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[2]

Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 761,5 nghìn người, giảm 23,5 nghìn người so với quý trước và giảm 37,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 1,62%, thấp hơn 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 1,21%; khu vực nông thôn là 1,90%.

 Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động
các quý giai đoạn 2023-2026

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 773,3 nghìn người, giảm 24,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,24%, cao hơn 0,02 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 1,92%, thấp hơn 0,13 điểm phần trăm.

d) Thu nhập bình quân của người lao động

Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2026 đạt 9,0 triệu đồng/tháng, giảm 53 nghìn đồng so với quý I/2026[3] và tăng 720 nghìn đồng (tương ứng tăng 8,7%) so với cùng kỳ năm 2025.

Thu nhập bình quân của người lao động sáu tháng đầu năm 2026 đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,8 triệu đồng; lao động ở khu vực thành thị là 10,6 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng/tháng.

Đối với lao động làm công hưởng lương, tính chung sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân đạt 10,0 triệu đồng/tháng, tăng 679 nghìn đồng (tương ứng tăng 7,3%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 10,5 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 9,5 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực thành thị là 11,1 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực nông thôn là 9,1 triệu đồng/tháng.

 đ) Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[4]

Trong quý II/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,23%, hầu như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị là 2,49%, tiếp tục duy trì dưới 3,0%[5], thấp hơn mức mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Điều này phản ánh thị trường lao động khu vực thành thị tiếp tục được duy trì ổn định.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,47%, khu vực nông thôn là 2,05%.

Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động
các quý giai đoạn 2024-2026

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý II/2026 là 8,67%, thấp hơn 0,20 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,48 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,75%; khu vực nông thôn là 8,07%. Trong quý II/2026, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,0% tổng số thanh niên. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn là 11,5%, khu vực thành thị là 7,8%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 11,6%; nam là 8,5%.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) sáu tháng đầu năm 2026 là 8,77%, cao hơn 0,71 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,21%, thấp hơn 0,43 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 7,96%, cao hơn 1,27 điểm phần trăm.

e) Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[6]

Quý II/2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,96% (tương ứng khoảng 2,13 triệu người). Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 4,06%, tương ứng gần 2,2 triệu người[7].

g) Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý II/2026 là 4,2 triệu người, tăng 405,4 nghìn người so với quý trước, trong đó có đến 85,7% lao động ở khu vực nông thôn. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là hơn 4,0 triệu người, tăng 197,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó, lao động nữ chiếm 65,8%; lao động ở khu vực nông thôn chiếm 89,6%.

[1] Lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong khu vực hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) là những người có việc làm và thuộc một trong các trường hợp sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức (iii) người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; (v) lao động trong khu vực hộ nông nghiệp.

[2] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.

[3] Do trong quý I người lao động có thêm thu nhập từ các khoản thưởng Tết.

[4] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.

[5] Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị quý II các năm giai đoạn 2024-2026 lần lượt là: 2,71%, 2,49% và 2,49%.

[6] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.

[7] Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ này đạt mức cao kỷ lục là 10,4% vào quý III/2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm