Trong 7 tháng năm 2026, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình kinh tế – xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước, tạo đà tăng trưởng cho các tháng còn lại của năm 2026. Một số nét chính về tình hình kinh tế – xã hội tháng Bảy và 7 tháng năm 2026 của nước ta như sau:
- Điểm sáng và tích cực
(1) Trong tháng Bảy, các địa phương tập trung gieo trồng, chăm sóc lúa, hoa màu vụ mùa và vụ hè thu; chăn nuôi lợn, gia cầm ổn định; khai thác gỗ được đẩy mạnh đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến; sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng khá; khai thác hải sản biển tăng nhờ thời tiết thuận lợi.
Tính đến ngày 20/7/2026, cả nước gieo cấy được 1.862,8 nghìn ha lúa hè thu, trong đó diện tích lúa hè thu sớm đã cho thu hoạch đạt 356,2 nghìn ha, chiếm 19,1% diện tích gieo cấy. Tổng đàn lợn cả nước đến cuối tháng Bảy ước tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm trước; nhiều địa phương đạt mức tăng khá nhờ phát triển chăn nuôi trang trại, thu hút đầu tư và áp dụng các biện pháp an toàn sinh học. Đàn gia cầm tăng 3,1%, trong đó đàn gà tăng 3,6% nhờ chu kỳ chăn nuôi ngắn, nhu cầu tiêu dùng ổn định.
Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng Bảy ước đạt 6,5 triệu cây, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2.387,1 nghìn m3, tăng 13,5%. Tính chung 7 tháng năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 57,9 triệu cây, tăng 2,4%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 14,2 triệu m3, tăng 6,1% do nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu của các nhà máy chế biến duy trì ở mức cao, giá gỗ nguyên liệu ổn định.
Sản lượng thủy sản tháng Bảy ước đạt 918,9 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 5.873,1 nghìn tấn, tăng 3,7%, trong đó: Nuôi trồng đạt 3.579,9 nghìn tấn, tăng 5,8%; khai thác đạt 2.293,2 nghìn tấn, tăng 0,7%, trong đó khai thác biển đạt 2.193,0 nghìn tấn, tăng 0,7%.
(2) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực nhờ nhiều năng lực sản xuất mới được đưa vào vận hành, hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy ước tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 7 tháng năm 2026 ước tăng 11,4%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,0%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Bảy ước tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 7 tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của 7 tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua[1]. Chỉ số IIP 7 tháng tăng ở cả 34 địa phương trên cả nước; trong đó, 14 địa phương có chỉ số IIP tăng trên 13,0%. Một số địa phương đạt mức tăng cao: Hà Tĩnh (36,8%); Ninh Bình (27,0%); Phú Thọ (23,8%); Nghệ An (21,5%); Thái Nguyên (21,0%); Bắc Ninh (19,6%); Quảng Ninh (15,8%); Hưng Yên (15,4%) … Cùng với đó, một số ngành công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước, phản ánh hoạt động sản xuất tiếp tục được mở rộng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng toàn ngành[2].
(3) Tiêu dùng trong nước duy trì đà tăng trưởng tích cực; du lịch và các hoạt động dịch vụ tiếp tục khởi sắc; vận tải, kho bãi đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và hành khách, kích thích tiêu dùng và tạo động lực cho tăng trưởng khu vực dịch vụ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng từ 13,1%. Với kết quả này, để đạt mục tiêu tăng 13-15% trong năm 2026 theo Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP, hoạt động thương mại và dịch vụ cần tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm.
Vận tải hành khách và hàng hóa duy trì tăng trưởng trên hai con số nhờ sự sôi động của đi lại, du lịch trong nước, ngoài nước và hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa. Tính chung 7 tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 18,0% và luân chuyển tăng 12,4%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,9% và luân chuyển tăng 12,3%.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2026 ước đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,7%; nhập khẩu tăng 34,8%. Với kết quả đạt được trong 7 tháng qua, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2026 có khả năng đạt và vượt mục tiêu đặt ra trong NQ số 01 (15-16%).
Khách quốc tế đến Việt Nam 7 tháng năm 2026 ước đạt 13,9 triệu lượt khách, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta cao nhất của 7 tháng các năm trong nhiều năm qua.
(4) Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tiếp tục tăng khá; vốn FDI tăng trưởng tích cực, cho thấy Việt Nam tiếp tục giữ vững vị thế là điểm đến thu hút đầu tư nước ngoài trong điều kiện thế giới còn nhiều bất ổn.`
Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước đạt 98,6 nghìn tỷ đồng, bằng 8,6% kế hoạch năm và tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước ước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%. Kết quả trên cho thấy tiến độ thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tiếp tục được cải thiện, với mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, góp phần hỗ trợ tổng cầu, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm trong nền kinh tế.
Tính đến ngày 31/7/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam ước đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, gấp 2,1 lần.
(5) Tinh thần khởi nghiệp tiếp tục sôi động, phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp đối với đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường 7 tháng năm 2026 ước đạt 187,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (155,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,6%); số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt gần 1.518,9 nghìn tỷ đồng, tăng 63,6%.
(6) Chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy giảm 0,12% so với tháng trước do nguồn cung hàng hóa trong nước cơ bản được bảo đảm, góp phần kiềm chế lạm phát. Đây là tháng có mức giảm CPI cao thứ hai trong 7 tháng năm nay, chỉ sau tháng Sáu[3].
(7) Thu ngân sách Nhà nước tăng cao, phản ánh nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực của nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước 7 tháng năm 2026 đạt 1,83 triệu tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nội địa đạt 1.587,5 nghìn tỷ đồng, tăng 16,0%.
(8) Tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ đời sống Nhân dân được các cấp, ngành tăng cường thực hiện. Tính từ đầu năm nay, Chính phủ đã hỗ trợ người dân hơn 18,1 nghìn tấn gạo. Tình hình giao thông có nhiều cải thiện khi giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước.
- Vấn đề cần lưu ý
(1) Đến ngày 20/7/2026, diện tích gieo cấy lúa hè thu giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước do nắng nóng kéo dài ở một số địa phương, nguồn nước tưới hạn chế và các tỉnh phía Nam thu hoạch lúa đông xuân muộn; diện tích gieo cấy lúa mùa giảm 3,9% do chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tiến độ gieo cấy chậm ở một số địa phương trong điều kiện sản xuất khó khăn, vụ mùa năm trước thu hoạch muộn. Ngoài ra, diện tích gieo trồng một số cây hằng năm giảm do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và điều kiện thời tiết không thuận lợi[4]. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chi phí chăn nuôi cao và chu kỳ nuôi dài[5].
(2) Chỉ số IIP 7 tháng năm 2026 thấp hơn mục tiêu đặt ra trong NQ số 01, trong đó ngành điện tăng 9,9%; ngành khai khoáng tăng 6,6%; cùng với đó IIP của 20 địa phương tăng dưới 13,0%. Một số ngành công nghiệp truyền thống tăng thấp, ảnh hưởng đến tốc độ tăng IIP toàn ngành công nghiệp[6]. Tại một số địa phương, các ngành công nghiệp trọng điểm tăng trưởng thấp hoặc suy giảm, làm giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp của địa phương và ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của cả nước[7].
(3) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì mức tăng hai con số, nhưng loại trừ yếu tố giá tăng 7,5%, chỉ cao hơn cùng kỳ năm trước 0,1 điểm phần trăm (7,4%), cho thấy sức mua thực của nền kinh tế chưa cải thiện mạnh. Bán lẻ hàng hóa tăng khoảng 12,7% và thấp hơn mức tăng của dịch vụ lưu trú và ăn uống (15,9%), cho thấy sức mua hàng hóa, đặc biệt là hàng tiêu dùng lâu bền, chưa thực sự bứt phá. Ngoài ra, 10 địa phương (trong đó có Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng dưới 13,0%, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng từ 13-15% năm 2026 của cả nước.
(4) Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước tháng Bảy ước đạt 13,80 tỷ USD, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tháng Bảy nhập siêu 3,59 tỷ USD, là tháng thứ tám liên tiếp nhập siêu kể từ tháng 12/2025; tính chung 7 tháng năm 2026 nhập siêu 20,52 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,35 tỷ USD); trong đó, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,98 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước tiếp tục nhập siêu lớn (28,50 tỷ USD), nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu ngày càng rõ nét và tạo áp lực lớn lên thị trường ngoại hối, tỷ giá.
(5) Khách quốc tế đến Việt Nam trong 7 tháng năm 2026 đạt khoảng 56% mục tiêu (đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026 theo NQ số 01). Áp lực trong các tháng còn lại là khá lớn, trung bình mỗi tháng trong 5 tháng cuối năm, khách quốc tế đến nước ta phải đạt hơn 2,2 triệu lượt người, đòi hỏi ngành Du lịch cần có các giải pháp mang tính đột phá để bảo đảm hoàn thành mục tiêu đề ra.
(6) Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước 7 tháng năm 2026 tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 24,7% của 7 tháng năm 2025. Tỷ lệ vốn thực hiện mới đạt 39,0% kế hoạch năm, cho thấy tiến độ thực hiện và giải ngân vẫn còn chậm so với yêu cầu. Áp lực thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong các tháng còn lại là rất lớn với hơn 60% kế hoạch vốn phải thực hiện trong 5 tháng cuối năm 2026.
(7) Chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,39%, cao nhất so với cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2021-2025[8]. Áp lực lạm phát đối với các tháng còn lại của năm vẫn đang hiện hữu, là thách thức lớn để hoàn thành mục tiêu tăng khoảng 4,5% đặt ra trong NQ số 01/2026/NQ-CP.
- Kiến nghị
Trên cơ sở những kết quả đạt được và các khó khăn, thách thức, trong thời gian tới cần tiếp tục triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng những tháng cuối năm. Một số giải pháp chủ yếu như sau:
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới (xung đột Trung Đông, giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá…), kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng cả nước và địa phương, kịch bản lạm phát. Quản lý giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ; hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn về thủ tục, mặt bằng và các điều kiện sản xuất, kinh doanh để đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào hoạt động; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, ưu tiên các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Bốn là, tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển logistics, giảm chi phí; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
Sáu là, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế – xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, hạ tầng chiến lược, các công trình có sức lan tỏa cao, nhất là đường sắt, đường bộ, hàng không, năng lượng, nông nghiệp, hạ tầng số quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Bảy là, tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành dịch vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế. Tăng cường xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường khách quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kết nối giao thông và hàng không, tạo thuận lợi cho khách du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu đón khách quốc tế năm 2026.
Tám là, tăng cường phòng, chống dịch bệnh và chủ động ứng phó thiên tai. Triển khai hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch, bệnh; chủ động ứng phó mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn; bảo đảm sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân./.
CỤC THỐNG KÊ
[1] Tốc độ tăng, giảm chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2019-2026 lần lượt là: 9,4%; 2,6%; 7,6%; 8,6%; -0,8%; 8,5%; 8,4%; 11,4%.
[2] Sản xuất kim loại tăng 23,5%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 22,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,0%; sản xuất đồ uống tăng 15,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 14,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác và sản xuất phương tiện vận tải khác cùng tăng 13,5% …
[3] So với tháng trước, tốc độ tăng/giảm CPI từ tháng Một đến tháng Bảy năm 2026 lần lượt là: -0,05%; 1,14%; 1,23%; 0,84%; 0,29%; -0,39%; -0,12%.
[4] Tính đến ngày 20/7/2026, diện tích gieo trồng khoai lang giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước; ngô giảm 3,1%; lạc giảm 3,0%; đậu tương giảm 2,9%; rau, đậu các loại giảm 1,7%.
[5] Tổng số trâu cả nước cuối tháng Bảy ước tính giảm 6,1%; đàn bò giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm trước.
[6] Sản xuất trang phục tăng 6,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 5,6%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 5,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 5,2%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 3,7%; khai thác than cứng và than non giảm 3,1%; khai thác quặng kim loại giảm 3,2%.
[7] Ngành sản xuất và phân phối điện ở Quảng Ninh tăng 5,3%; Sơn La tăng 4,4%; Lai Châu tăng 3,3%; Gia Lai tăng 3,0%; Đà Nẵng tăng 1,7%; Nghệ An giảm 6,4%; Huế giảm 15,7% … Ngành khai khoáng ở Phú Thọ giảm 12,3%; Hải Phòng giảm 7,4%; Tuyên Quang giảm 6,8%; Bắc Ninh giảm 3,1%; Quảng Ninh giảm 2,8%. Ngành chế biến, chế tạo ở Sơn La giảm 0,3%; Lạng Sơn tăng 2,2%; Lai Châu tăng 3,6%; Lào Cai tăng 6,1%; Khánh Hòa tăng 7,4%; Hà Nội tăng 8,8% …
[8] Chỉ số giá tiêu dùng 7 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2021-2026 lần lượt là: 1,64%; 2,54%; 3,12%; 4,12%; 3,26%; 4,39%.

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)