Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam trong 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Từ một nước có một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh cây lúa vươn lên trở thành một nước có nền nông nghiệp hàng hóa với sản phẩm phong phú, đa dạng. An ninh lương thực quốc gia được đảm bảo vững chắc kể cả trong tình huống diễn biến phức tạp của thời tiết và thiên tai, dịch bệnh. Nông nghiệp Việt Nam có vị trí đáng kể trong khu vực và trên thế giới với nhiều sản phẩm chất lượng cao mang tên “Nông sản Việt”.
Trong thời kỳ đổi mới, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản luôn thể hiện vai trò là bệ đỡ của nền kinh tế, là nền tảng cho ổn định đời sống xã hội. Trong thời kỳ khó khăn thu hút khoảng 35-38% lực lượng lao động trong nền kinh tế; với 65% dân số thuộc khu vực nông thôn, là nguồn cung cấp lao động chủ yếu. Ngành nông nghiệp đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Diện tích cây trồng hàng năm không hiệu quả được chuyển sang cây trồng khác cho giá trị kinh tế cao hơn như chuyển đổi diện tích trồng lúa bị hạn hán, nhiễm mặn hoặc kém hiệu quả sang trồng rau, màu, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả tạo ra những sản phẩm có thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước với giá trị thu được cao hơn trồng lúa. Đối với từng loại cây, vừa cơ cấu lại diện tích vừa thay đổi giống cây trồng phù hợp cho năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt. Nhờ vậy mà hiệu quả sản xuất trên 1 đơn vị diện tích không ngừng tăng lên qua các năm, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt tăng từ 21,1 triệu đồng/ha năm 2004 lên 54,6 triệu đồng/ha vào năm 2010, đạt 82,6 triệu đồng/ha năm 2015 lên 102,7 triệu đồng/ha năm 2020 và đạt 106,4 triệu đồng/ha năm 2022.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn về thời tiết diễn biến bất thường, dịch bệnh gia súc, gia cầm liên tiếp xảy ra, nhưng sản xuất nông nghiệp trong 40 năm qua vẫn đạt được những kết quả vượt trội. Sản lượng lương thực có hạt năm 1990 mới đạt gần 20 triệu tấn, đến năm 2000 đạt 34,5 triệu tấn, tăng 14,6 triệu tấn so với năm 1990, trong đó lúa tăng 13,3 triệu tấn, ngô tăng 1,3 triệu tấn. Năm 2020 sản lượng lương thực có hạt đạt 47,3 triệu tấn, gấp 2,4 lần sản lượng lương thực có hạt của năm 1990, trong đó lúa đạt 42,7 triệu tấn, ngô đạt 4,6 triệu tấn. Do thực hiện đề án cơ cấu lại diện tích đất trồng lúa là giảm diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn nên diện tích trồng lúa trong những năm gần đây giảm dẫn đến sản lượng lương thực giảm, năm 2022 đạt 47,1 triệu tấn, tuy giảm so với năm 2020 là 0,2 triệu tấn và giảm 3,3 triệu tấn so với năm 2015 nhưng vẫn tăng so với những năm 2010 trở về trước. Sản lượng lương thực có hạt nói chung đạt mức cao nên mặc dù dân số tiếp tục tăng nhanh, nhưng sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người vẫn tăng từ 301 kg năm 1990 lên 445 kg năm 2000, đạt 513 kg năm 2010, năm 2020 đạt 485 kg và năm 2022 đạt 473 kg. Lương thực sản xuất ra không những vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, vừa tiếp tục củng cố và giữ vững an ninh lương thực, mà còn cho phép nước ta xuất khẩu mỗi năm 5-7 triệu tấn gạo. Sản xuất lương thực đạt được kết quả như trên là do trong 40 năm qua có một số tiến bộ quan trọng đó là năng suất lúa tăng không ngừng qua các năm. Năng suất lúa năm 2000 đạt 42,4 tạ/ha, năm 2010 đạt 53,4 tạ/ha, đến năm 2020 đạt 58,8 tạ/ha và năm 2022 đạt 60 tạ/ha, tăng 17,6 tạ/ha so với năm 2000 và tăng 6,4 tạ so với năm 2010. Diện tích cấy lúa giảm nhưng thay vào đó là sử dụng giống lúa xác nhận kèm quy trình canh tác đa dạng, thích nghi với điều kiện thời tiết nên cho năng suất cao ổn định, đáp ứng yêu cầu thị trường. Tăng tỷ trọng các loại gạo có chất lượng cao, có giá trị xuất khẩu lớn. Năm 2020, gạo trắng thường xuất khẩu chỉ còn khoảng 40% tổng kim ngạch; các loại gạo thơm, chất lượng cao chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu. Việc tái cơ cấu cũng đã thúc đẩy việc lai tạo và chọn giống, lần đầu tiên Việt Nam có giống gạo thơm đạt danh hiệu gạo ngon nhất thế giới là gạo ST25. Ngành lúa gạo đã được cơ cấu lại theo hướng nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững với các mục tiêu: Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng, giá trị dinh dưỡng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; hình thành và nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị lúa gạo; nâng cao thu nhập của nông dân và lợi ích cho người tiêu dùng; xuất khẩu gạo đạt chất lượng và giá trị cao.
Biểu: Sản lượng lương thực có hạt giai đoạn 1990-2022
| Sản lượng lương thực có hạt (Nghìn tấn) | Lương thực có hạt bình quân đầu người (kg) | |||||
| Tổng số | Trong đó: | |||||
| Lúa | Ngô | |||||
| 1990 | 19897.7 | 19225.1 | 671.0 | 301.4 | ||
| 2000 | 34538.9 | 32529.5 | 2005.9 | 444.9 | ||
| 2005 | 39621.6 | 35832.9 | 3787.1 | 480.9 | ||
| 2010 | 44632.2 | 40005.6 | 4625.7 | 513.4 | ||
| 2015 | 50379.5 | 45091.0 | 5287.2 | 546.2 | ||
| 2016 | 48360.2 | 43109.0 | 5246.5 | 518.6 | ||
| 2017 | 47852.2 | 42738.9 | 5109.6 | 507.5 | ||
| 2018 | 48923.4 | 44046.0 | 4874.1 | 512.9 | ||
| 2019 | 48230.9 | 43495.4 | 4731.9 | 499.9 | ||
| 2020 | 47325.5 | 42764.8 | 4558.2 | 485.0 | ||
| 2021 | 48301.0 | 43852.6 | 4446.4 | 490.3 | ||
| Sơ bộ 2022 | 47085.3 | 42660.7 | 4423.2 | 473.4 | ||
Trong mấy năm gần đây, ngành nông nghiệp tiếp tục tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt để thúc đẩy phát triển và cơ cấu lại ngành. Thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả, sức cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững. Chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thủy sản phù hợp theo hướng sản xuất hàng hóa, hiện đại, trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền, thích ứng với biến đổi khí hậu và nhu cầu thị trường trên cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống. Trồng trọt là một trong những lĩnh vực chủ chốt của ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt chiếm từ 64-68% giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp. Cơ cấu cây trồng được chuyển đổi theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả. Trong bối cảnh nông nghiệp đang được đẩy mạnh, trong đó có chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hoá nông sản xuất khẩu và chuyển giao công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, lĩnh vực trồng trọt chú trọng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Do nhiều địa phương chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp và diện tích rừng nghèo kiệt sang trồng các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế cao; đồng thời tăng cường khai thác diện tích đất trống, đồi núi trọc chưa sử dụng, nhất là diện tích đất đồi núi chưa sử dụng ở các tỉnh Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc phát triển cây cao su, chè, điều, hồ tiêu nên diện tích cây lâu năm năm 1990 mới đạt 935,5 nghìn ha, đến năm 2000 đạt 2104 nghìn ha; gấp 2,2 lần năm 1990,bình quân mỗi năm giai đoạn 1990-2020 tăng 8,4% và năm 2010 đạt 2815,1 nghìn ha, tăng 33,8% so với năm 2000; bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2001-2010 tăng 3%, trong đó cây công nghiệp lâu năm đạt 1987,4 nghìn ha, tăng 40,4%, bình quân mỗi năm tăng 3,5%; cây ăn quả 776,3 nghìn ha, tăng 37,4%, bình quân mỗi năm tăng 3,2%.
Đối với nhóm cây ăn quả, đây là nhóm cây trồng đã có bước phát triển nhảy vọt trong những năm qua. Trong khi diện tích lúa và cây công nghiệp hàng năm có xu hướng giảm thì diện tích cây lâu năm tăng lên, đặc biệt là cây ăn quả. Cây ăn quả được tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa mang tính bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Nhiều vùng chuyên canh, vựa cây ăn quả lớn phục vụ xuất khẩu, cho giá trị rất cao đã được hình thành tại nhiều khu vực trên cả nước như ở đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre), khu vực Tây Nguyên, khu vực Bắc Trung Bộ và nhất là sự chuyển biến nhảy vọt của các vựa cây ăn quả lớn tại vùng Trung du miền núi phía Bắc như Sơn La, Bắc Giang. Năm 1990, diện tích cây ăn quả mới chỉ đạt 281,2 nghìn ha, đến năm 2000 đạt 565 nghìn ha, năm 2020 đạt 1135,2 nghìn ha và năm 2022 đạt 1221,4 nghìn ha, gấp 4,3 lần năm 1990. Trong đó, tăng diện tích các loại cây ăn quả có chất lượng và năng suất cao, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu, loại bỏ những cây trồng lâu năm đã già cỗi để tập trung vào cây trồng có giá trị. Hàng loạt các giống cây ăn quả có chất lượng, sạch bệnh đã được đưa vào sản xuất, song song với các nhóm giải pháp kỹ thuật canh tác, thâm canh đồng bộ đã được triển khai tại các vùng cây ăn quả lớn của cả nước… Sản phẩm cây ăn quả không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngoài chinh phục những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia, Niu-di-lân.
Nước ta có thế mạnh về sản xuất cây công nghiệp lâu năm do đất đai, khí hậu và hệ sinh thái cây trồng đa dạng. Cây công nghiệp lâu năm chính gồm: cà phê, cao su, chè, điều, tiêu và dừa, rất thích hợp với nhiều vùng, nhiều địa phương để phục vụ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong giai đoạn vừa qua, đã tập trung hàng loạt các chương trình, dự án nhằm nâng cao năng suất, giá trị bền vững cho cây công nghiệp lâu năm, nhất là chương trình tái canh cà phê cho các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chương trình kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm cho cây hồ tiêu tại các tỉnh phía Nam và giữ gìn vị thế cho cây chè ở các tỉnh phía Bắc. Diện tích cây công nghiệp lâu năm tuy tăng không nhiều nhưng tăng diện tích thực hành nông nghiệp tốt như VietGAP, GlobalGAP… còn những diện tích cây công nghiệp lâu năm già cỗi, năng suất thấp sẽ thay thế rồng mới hoặc tái canh hợp lý bằng các giống có nguồn gốc rõ ràng, có năng suất và chất lượng ổn định. Nhờ đó đến nay, một số nhóm cây công nghiệp chính vẫn căn bản giữ được giá trị và đi vào phát triển bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả đang đang khẳng định tính thiết thực, đúng đắn nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chuyển đổi thành công đã góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại, tăng thu nhập cho nông dân và xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.
Một kết quả quan trọng của ngành nông nghiệp là chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Trong những năm gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều trang trại chăn nuôi với quy mô tương đối lớn. Theo kết quả Điều tra chăn nuôi năm 2010, tại thời điểm 1/7/2010 cả nước có 23.558 trang trại chăn nuôi, tăng 42% so với năm 2006, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng 10.227 trang trại; Đông Nam Bộ 4.089 trang trại; đồng bằng sông Cửu Long 3.281 trang trại. Việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi đã được Nhà nước và người chăn nuôi chú trọng. Một số địa phương đã triển khai mạnh mẽ chương trình, dự án nghiên cứu và phát triển bò sữa, cải tạo đàn bò thịt, nuôi lợn hướng nạc, gà công nghiệp, vịt siêu trọng, siêu trứng. Nhiều địa phương đã tích cực xây dựng, phổ biến và khuyến khích người chăn nuôi áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn GAP6 trong chăn nuôi, góp phần giảm thiểu sự lây lan dịch bệnh gia súc, gia cầm; đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả chăn nuôi. Ngành chăn nuôi có những bước chuyển đổi mạnh mẽ từ số lượng sang chất lượng, từ nông hộ quy mô nhỏ sang chăn nuôi gia trại, trang trại, chăn nuôi hộ theo hình thức công nghiệp quy mô lớn, áp dụng kỹ thuật và công nghệ tiên tiến; khuyến khích chăn nuôi theo hướng hữu cơ, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn để kiểm soát dịch bệnh; chế biến sâu và phát triển thị trường sản phẩm chăn nuôi công nghiệp, đồng thời, chú trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng để liên kết doanh nghiệp với các hộ chăn nuôi và tổ chức sản xuất nhằm tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Ngành lâm nghiệp cũng có nhiều thay đổi, cơ cấu giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp trong tổng giá trị tăng thêm của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản cũng thay đổi theo sự phát triển của cả ngành và của cả nền kinh tế. Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp đã thực hiện theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; sắp xếp các nông, lâm trường quốc doanh và phát triển dịch vụ môi trường rừng đạt kết quả tích cực.
Sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2000-2020 hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra: Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây; diện tích rừng gỗ lớn; diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC; sản lượng gỗ rừng trồng đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; thu dịch vụ môi trường rừng; tỷ lệ che phủ rừng. Các chính sách phát triển lâm nghiệp bền vững cộng với chủ trương cơ cấu lại lâm nghiệp đã được thực hiện hiệu quả, rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ hơn, rừng trồng chuyển theo hướng đa chức năng và phát triển trồng rừng gỗ lớn, gỗ quý và lâm sản ngoài gỗ, năng suất, chất lượng và giá trị từng loại rừng đã được nâng cao; độ che phủ rừng liên tục tăng và hoàn thành chỉ tiêu Quốc hội giao.
Tỷ lệ che phủ rừng liên tục tăng qua các năm, năm 2010 đạt 39,5% lên 40,8% năm 2015 lên 41,9% năm 2019 và đạt 42% năm 2022, bình quân giai đoạn 2010-2015 tăng 0,25%/năm; bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng khoảng 0,2%/năm. Diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2000 mới chỉ đạt 196,4 nghìn ha; năm 2005 đạt 177,3 nghìn ha, đến năm 2015 đạt 276,7 nghìn ha; năm 2022 đạt 306,5 nghìn ha. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung tăng lên, đã đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ. Lợi nhuận của các hộ gia đình chủ rừng tăng thêm từ 25 – 30%.
Ngành lâm nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017) và Đề án tái cơ cấu ngành (Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013). Quá trình triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm, ngành lâm nghiệp tiếp tục gặp những khó khăn nội tại của ngành, trước hết là nguồn vốn ngân sách Nhà nước chưa đáp ứng đủ theo nhu cầu tương ứng với nhiệm vụ được giao; quỹ đất trồng rừng của các địa phương tiếp tục bị thu hẹp, phân bổ phân tán, địa bàn xa, chi phí vận chuyển vật tư, giống cây trồng trong trồng rừng cao; mặt khác, hạn hán, nắng nóng kéo dài gây áp lực lớn trong phòng chống cháy rừng; nạn phá rừng, khai thác trái phép rừng và động vật hoang dã ngày càng tinh vi với quy mô lớn xảy ra ở nhiều địa phương, trong khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng.
Trong 40 năm qua, ngành thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển và trở thành một ngành sản xuất tập trung với các kĩ thuật tiên tiến và hiện đại vừa đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng vừa bảo vệ môi trường và hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác. Ngành thủy sản nước ta được xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại giá trị kinh tế cao đóng góp lớn vào phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản được trú trọng, các ngành, địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, tăng năng suất, chất lượng; quản lý chặt chẽ chất lượng giống, vật tư thủy sản; xử lý, tháo gỡ các rào cản kỹ thuật; giữ vững thị trường truyền thống; phát triển thị trường mới cho tiêu thụ sản phẩm thủy sản… Trong nuôi trồng thủy sản chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng diện tích những loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, có thế mạnh hoặc có khả năng xuất khẩu (tôm sú, tôm thẻ, cá tra…). Hoạt động khai thác thủy sản biển đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Hoạt động khai thác thủy sản biển giúp đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia, đặc biệt ở vùng biển và hải đảo. Việc tăng số lượng tàu đánh bắt xa bờ góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên các vùng biển. Trọng tâm của ngành thủy sản trong những năm qua vẫn là phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản kết hợp với khai thác, hỗ trợ ngư dân. Bên cạnh đầu tư phát triển hạ tầng nuôi trồng thủy sản, hệ thống cảng cá khai thác thủy sản và neo đậu trách bão cho tàu cá khai thác thủy sản tiếp tục được quan tâm. Khai thác thủy sản biển đang giảm dần hoạt động khai thác ven bờ, kém hiệu quả nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản biển. Với mục tiêu phát triển thuỷ sản toàn diện cả về nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, gia tăng giá trị và bền vững, ngành thủy sản đã có những đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Biểu 2: Sản lượng thủy sản
| Tổng số | Khai thác | Nuôi trồng | |
| Nghìn tấn | |||
| 1990 | 890.6 | 728.5 | 162.1 |
| 2000 | 2250.9 | 1660.9 | 590.0 |
| 2010 | 5204.5 | 2472.2 | 2732.3 |
| 2015 | 6727.2 | 3176.5 | 3550.7 |
| 2016 | 6924.4 | 3264.1 | 3660.3 |
| 2017 | 7402.6 | 3463.9 | 3938.7 |
| 2018 | 7885.9 | 3659.8 | 4226.1 |
| 2019 | 8421.3 | 3829.3 | 4592.0 |
| 2020 | 8635.7 | 3896.5 | 4739.2 |
| 2021 | 8826.7 | 3938.8 | 4887.9 |
| Sơ bộ 2022 | 9108.0 | 3874.2 | 5233.8 |
| Tốc độ tăng bình quân | % | ||
| Giai đoạn 1990-2000 | 9.7 | 8.6 | 13.8 |
| Giai đoạn 2001-2010 | 8.7 | 4.1 | 16.6 |
| Giai đoạn 2011-2020 | 4.8 | 3.8 | 5.6 |
Năm 2020, diện tích nuôi thủy sản của cả nước là 1,3 triệu ha và 10 triệu m3 nuôi lồng (7,5 triệu m3 lồng nuôi mặn lợ và 2,5 triệu m3 nuôi ngọt). Sản lượng thủy sản năm 1990 chỉ đạt 890,6 nghìn tấn, năm 2000 đạt 2,25 triệu tấn, năm 2010 đạt 5,2 triệu tấn, đến năm 2022 đạt 9,1 triệu tấn, gấp 10,2 lần năm 1990, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng gấp 32 lần.
Như vậy, trong 40 năm đổi mới nông nghiệp đã phát huy vai trò và sức mạnh của mình, từ nền nông nghiệp lạc hậu sang nền nông nghiệp hàng hóa, phát triển bền vững, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Đưa đất nước từ không cung cấp đủ lương thực thực phẩm thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới và xuất khẩu các mặt hàng nông sản sang gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong giai đoạn kinh tế-xã hội bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, nông nghiệp vẫn trụ vững và duy trì mức tăng trưởng ổn định, đảm bảo an ninh lương thực và an sinh xã hội.

Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026
Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)