Trong bảy tháng năm 2025, mặc dù kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương đã quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025. Tình hình kinh tế – xã hội tháng Bảy và bảy tháng năm 2025 của nước ta duy trì xu hướng tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát; các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo đà tăng trưởng cho các tháng và quý tiếp theo. Một số nét chính về kinh tế – xã hội tháng Bảy và bảy tháng năm 2025 của nước ta như sau:

  1. Điểm sáng và tích cực

(1) Diện tích gieo cấy lúa thu đông đạt khá, chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định; Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung trồng rừng, khai thác gỗ; nuôi trồng thủy sản tiếp tục đạt kết quả tích cực, nhất là cá tra và tôm nước lợ.

Đến ngày 20/7/2025 các địa phương phía Nam đã gieo cấy được 313,4 nghìn ha lúa thu đông sớm, tăng 20,8 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định nhờ chi phí đầu tư thấp, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có. Tính đến cuối tháng 7/2025, đàn gia cầm tăng 3,9% so với cùng thời điểm năm trước.

Sản xuất lâm nghiệp bảy tháng năm 2025 đạt nhiều kết quả khả quan. Tính chung bảy tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 164,4 nghìn ha, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 53,9 triệu cây, tăng 2,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 13,2 triệu m3, tăng 7,6%.

Nuôi trồng thủy sản tăng khá. Tính chung bảy tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 3.182,3 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tra ước đạt 1.036,9 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú ước đạt 155,0 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm thẻ chân trắng đạt 506,1 nghìn tấn, tăng 7,2%.

(2) Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Bảy ước tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 9,3%. Tính chung bảy tháng năm 2025, IIP tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 10,3%, là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ các năm 2020-2024[1].

(3) Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch tiếp tục duy trì tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 23,8% và luân chuyển tăng 13,3%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,1% và luân chuyển tăng 12,8%. Tính chung bảy tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 21,5% và luân chuyển tăng 13,7%; vận chuyển hàng hóa tăng 13,7% và luân chuyển tăng 13,6%.

Khách quốc tế đến Việt Nam trong bảy tháng năm 2025 đạt 12,23 triệu lượt khách, tăng 22,5% và là số lượng khách đến nước ta đạt mức cao nhất của bảy tháng trong nhiều năm qua.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa bảy tháng năm 2025 ước đạt 514,70 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 262,44 tỷ USD, tăng 14,8%; nhập khẩu đạt 252,26 tỷ USD, tăng 17,9%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 10,18 tỷ USD.

(4) Đầu tư từ ngân sách Nhà nước được tập trung đẩy mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bảy tháng năm 2025 có nhiều tín hiệu tích cực, các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào phát triển kinh tế của Việt Nam. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện bảy tháng năm 2025 ước đạt 378,3 nghìn tỷ đồng, bằng 40,7% kế hoạch năm và tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 bằng 38,6% và tăng 2,4%). Đây là số vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện cao nhất của cùng kỳ trong giai đoạn 2017-2025[2].

 Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/7/2025 đạt 24,09 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước[3]. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 13,6 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, là mức thực hiện cao nhất của bảy tháng trong giai đoạn 2021-2025[4].

(5) Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong bảy tháng năm 2025 tăng cao nhờ “động lực” của Nghị quyết 68. Tính từ đầu năm đến nay, số doanh nghiệp gia nhập thị trường (174 nghìn doanh nghiệp) gấp 1,2 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (144,4 nghìn doanh nghiệp); trong đó số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 66,3 nghìn doanh nghiệp, gấp 1,5 lần cùng kỳ năm 2024.

(6) Vốn đăng ký bổ sung từ khu vực doanh nghiệp vào nền kinh tế tăng cao. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong bảy tháng năm 2025 đạt hơn 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 93,7% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó số vốn tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt hơn 2,4 nghìn tỷ đồng, gấp gần 2,9 lần.

(7) Lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Bảy tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước, bình quân bảy tháng năm 2025 tăng 3,26%, thấp hơn mức tăng 4,12% của cùng kỳ năm 2024. Lạm phát cơ bản tăng 3,18%.

  1. Hạn chế, tồn tại

(1) Trong tháng Bảy, dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, chủ yếu bùng phát tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tái phát từ ổ dịch cũ. Cả nước phát sinh 571 ổ dịch tại 30 tỉnh, thành phố trên cả nước. Số lợn chết và tiêu hủy trong tháng là gần 73,5 nghìn con.

(2) Tiêu dùng trong nước tăng trưởng tích cực nhưng chưa có sự đột phá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bảy tháng năm 2025 đạt 3.993,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước (8,9%) nhưng thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2022, 2023 và những năm chưa xảy ra đại dịch Covid-19[5].

(3) Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tiếp tục có mức tăng thấp dần. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Bảy năm 2025 đạt 42,3 tỷ USD, tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất kể từ tháng Tư năm 2025[6]. Thặng dư cán cân thương mại hàng hóa bảy tháng năm nay đạt 10,18 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với mức thặng dư 16,50 tỷ USD và 14,63 tỷ USD của cùng kỳ năm 2023 và năm 2024.

(4) Doanh nghiệp còn gặp khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh. Mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng trưởng ấn tượng nhưng quy mô vốn của các doanh nghiệp vẫn chưa bứt phá. Trong bảy tháng năm 2025, mức vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới chỉ đạt 8,6 tỷ đồng, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước và là mức vốn bình quân một doanh nghiệp thành lập mới thấp nhất so với cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2021-2025[7].

(5) Tăng trưởng của khách quốc tế đến nước ta đạt thấp so với cùng kỳ năm trước. Trong bảy tháng năm 2025, khách quốc tế đến nước ta đạt 12,23 triệu lượt khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng 51,0% của bảy tháng năm 2024. Đây là một thách thức lớn đối với mục tiêu đạt từ 22 – 23 triệu lượt khách quốc tế đến nước ta trong năm 2025.

(6) Tình hình dịch bệnh, thiên tai, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp. Trong bảy tháng năm 2025, cả nước có 110,1 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi (11 người tử vong); 43,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (05 người tử vong); gần 33,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng. Bên cạnh đó, thiên tai làm 144 người chết và mất tích, 100 người bị thương; 109,4 nghìn ha lúa và 16,1 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; gần 16,0 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hại; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 5.614,0 tỷ đồng, gấp 2,5 lần cùng kỳ năm 2024. Bình quân một ngày trong bảy tháng năm 2025, trên địa bàn cả nước xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người, bị thương 34 người.

  1. Kiến nghị

Với những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế nêu trên, trong năm tháng cuối năm, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Trong khi đó, kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn; biến động nhanh và khó lường; dịch bệnh thiên tai khó dự báo. Để tạo đà tăng trưởng cho các tháng, quý tiếp theo, hướng đến thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:

Một là, kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; nâng cao tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Liên tục cập nhật các kịch bản về tăng trưởng, lạm phát, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả, hài hòa các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô nhằm duy trì sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.

Hai là, có giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời hơn để tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trong những tháng tiếp theo của năm 2025, đặc biệt các dự án quan trọng quốc gia. Có chính sách ưu đãi, cạnh tranh, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi để thu hút các dự án lớn, dự án công nghệ cao.

Ba là, triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và phân phối hàng hóa qua nền tảng số, hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp để khơi thông thị trường trong nước; đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Bốn là, tăng cường giám sát, phát hiện sớm dịch tả lợn châu Phi và kịp thời tiêu huỷ lợn mắc bệnh, nghi mắc bệnh; tăng cường quản lý hoạt động chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ các sản phẩm thịt lợn, nhất là tại các cơ sở giết mổ và tăng cường kiểm dịch động vật tại các chốt kiểm dịch, cửa khẩu, bến cảng; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, buôn bán lợn và sản phẩm lợn không rõ nguồn gốc, không có giấy kiểm dịch, đặc biệt là lợn bệnh.

Năm là, đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế; thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử; đổi mới nội dung, phương thức xúc tiến, quảng bá du lịch.

Sáu là, thực hiện có hiệu quả và kịp thời các chính sách an sinh xã hội; trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời; phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh; chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở./.

CỤC THỐNG KÊ

[1] Tốc độ tăng/giảm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bảy tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2020-2025 lần lượt là: 4,2%; 9,7%; 9,5%; -1,2%; 9,5%; 10,3%.

[2] Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước bảy tháng các năm 2017-2025 lần lượt là: 139,0 nghìn tỷ đồng; 152,4 nghìn tỷ đồng; 159,6 nghìn tỷ đồng; 199,7 nghìn tỷ đồng; 212,3 nghìn tỷ đồng; 238,4 nghìn tỷ đồng; 294,8 nghìn tỷ đồng; 301,7 nghìn tỷ đồng; 378,3 nghìn tỷ đồng.

[3] Trong đó, có 920 lượt dự án được điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm đạt 9,99 tỷ USD, gấp 1,95 lần cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm trước có 786 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm đạt 5,11 tỷ USD).

[4] Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện bảy tháng các năm 2021-2025 lần lượt là: 10,5 tỷ USD; 11,49 tỷ USD; 11,58 tỷ USD; 12,55 tỷ USD; 13,6 tỷ USD.

[5] Tốc độ tăng/giảm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bảy tháng các năm 2018-2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 11,3%; 10,9%; -3,1%; -4,8%; 17,1%; 11,5%; 8,9%; 9,3%.

[6] Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ tháng Tư đến tháng Bảy năm 2025 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 19,8%; 17,0%; 16,4%; 16,0%.

[7] Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới bảy tháng các năm trong giai đoạn 2021-2025 lần lượt là: 14,1 tỷ đồng; 11,3 tỷ đồng; 9,3 tỷ đồng; 9,0 tỷ đồng; 8,6 tỷ đồng.


Bức tranh kinh tế thành phố Hà Nội sáu tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định, đặc biệt là xung đột địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, biến động mạnh của giá năng lượng và nguyên vật liệu đầu vào, kinh tế thành phố Hà Nội trong sáu tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của Thành phố trong điều hành kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đồng thời củng cố vai trò đầu tàu kinh tế của Thủ đô trong vùng và cả nước. (13/07/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm