Thị trường lao động chín tháng năm 2026 khả quan. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đạt được phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện.
a) Lực lượng lao động
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý III/2026 ước đạt 54,1 triệu người, cao hơn 278,4 nghìn người so với quý trước và cao hơn 709,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,5%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với quý trước nhưng thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,8 triệu người, cao hơn 697,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý III/2026 là 30,4%, cao hơn 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,9%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy chất lượng nguồn lao động ngày càng được cải thiện.
b) Lao động có việc làm
Lao động có việc làm quý III/2026 đạt gần 53,0 triệu người, cao hơn 292,3 nghìn người, tương ứng tăng 0,6% so với quý trước và cao hơn 706,4 nghìn người, tương ứng tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị đạt 20,8 triệu người, cao hơn 140,2 nghìn người so với quý trước và cao hơn 491,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn đạt 32,1 triệu người, cao hơn 152,1 nghìn người và cao hơn 215,2 nghìn người.
Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý III/2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người (chiếm 25,1%), cao hơn 24,5 nghìn người so với quý trước và thấp hơn 38,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 18,0 triệu người (chiếm 33,9%), cao hơn 150,0 nghìn người và cao hơn 394,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,7 triệu người (chiếm 41,0%), cao hơn 117,7 nghìn người và cao hơn 350,4 nghìn người.
Hình 1. Số người có việc làm phân theo khu vực kinh tếcác quý giai đoạn 2024-2026
Tính chung chín tháng năm 2026, lao động có việc làm đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người (tương ứng tăng 1,3%) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người, chiếm 39,3%; khu vực nông thôn đạt 32,0 triệu người, chiếm 60,7%. Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm chín tháng năm 2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người, thấp hơn 147,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người, cao hơn 447,4 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người, cao hơn 384,1 nghìn người.
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Trong quý III/2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 60,6%, thấp hơn 1,1 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Theo khu vực kinh tế, tỷ lệ lao động phi chính thức trong khu vực công nghiệp và xây dựng là 41,9%, khu vực dịch vụ là 52,7%, thấp hơn 1,4 điểm phần trăm so với quý trước ở cả hai khu vực; trong khi khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản không thay đổi, ở mức 98,7%.
Tính chung chín tháng năm 2026, số lao động có việc làm phi chính thức là 32,4 triệu người, chiếm 61,5% tổng số lao động có việc làm, thấp hơn 2,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ lao động phi chính thức tiếp tục giảm, cho thấy cơ cấu việc làm tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực. Tuy nhiên, việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn, nhất là trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, cho thấy việc giảm tỷ lệ lao động phi chính thức và thúc đẩy việc làm chính thức, bền vững vẫn là một vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.
c) Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[1]
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III/2026 là 617,3 nghìn người, thấp hơn 144,2 nghìn người so với quý trước và thấp hơn 78,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III/2026 là 1,31%, thấp hơn 0,31 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 0,67%; khu vực nông thôn là 1,74%.
Hình 2. Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động các quý giai đoạn 2024-2026
Tính chung chín tháng năm 2026, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 721,3 nghìn người, thấp hơn 43,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn 0,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,05%; khu vực nông thôn là 1,86%.
d) Thu nhập bình quân của người lao động
Thu nhập bình quân của người lao động quý III/2026 đạt 9,2 triệu đồng/tháng, cao hơn 215,5 nghìn đồng so với quý II/2026 và cao hơn 823,8 nghìn đồng (tương ứng tăng 9,9%) so với cùng kỳ năm 2025.
Thu nhập bình quân của người lao động chín tháng năm 2026 đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng (tương ứng tăng 9,1%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,2 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,8 triệu đồng; lao động ở khu vực thành thị là 10,7 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 8,0 triệu đồng/tháng.
Đối với lao động làm công hưởng lương, tính chung chín tháng năm 2026, thu nhập bình quân đạt 10,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 738,3 nghìn đồng (tương ứng tăng 7,9%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 10,6 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 9,6 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực thành thị là 11,2 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực nông thôn là 9,2 triệu đồng/tháng.
đ) Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[2]
Trong quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị là 2,72%, tiếp tục duy trì dưới 3,0%[3], thấp hơn mức mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Điều này phản ánh thị trường lao động khu vực thành thị tiếp tục được duy trì ổn định.
Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,55%, khu vực nông thôn là 1,99%.
Hình 3. Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động các quý giai đoạn 2024-2026
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý III/2026 là 9,07%, cao hơn 0,40 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,10 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 12,49%; khu vực nông thôn là 7,12%. Trong quý III/2026, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên, cao hơn 195,1 nghìn người so với quý trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) chín tháng năm 2026 là 8,87%; trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,97%, khu vực nông thôn là 7,68%.
e) Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[4]
Quý III/2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,63% (tương ứng khoảng 1,9 triệu người). Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,92%[5].
g) Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý III/2026 là hơn 4,2 triệu người, không thay đổi đáng kể so với quý trước và cao hơn 400 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025, trong đó có 86,8% lao động ở khu vực nông thôn. Tính chung chín tháng năm 2026, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là hơn 4,1 triệu người, cao hơn 272,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó, lao động nữ chiếm 65,4%; lao động ở khu vực nông thôn chiếm 88,6%.
[1] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.
[2] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.
[3] Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị quý III các năm giai đoạn 2022-2026 lần lượt là: 2,79%; 2,78%; 2,29%; 2,76% và 2,72%.
[4] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.
[5] Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ này đạt mức cao kỷ lục là 10,4% vào quý III/2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R
Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)


