Quý III/2026, GDP tăng 9,95%, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP tăng 9,01%, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực lớn nhất, khu vực dịch vụ duy trì đà mở rộng, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ vững vai trò bệ đỡ. Nhìn từ phía cầu, đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước đồng thời tăng tốc đang tạo nên thế “kiềng ba chân” nâng đỡ tăng trưởng kinh tế.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý III và 9 tháng năm 2026 đạt kết quả nổi bật. GDP quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn 1,82 điểm phần trăm so với mức tăng 8,13% của quý III/2025. Tính chung 9 tháng, GDP tăng 9,01%, cao hơn 1,20 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở sự đóng góp của nhiều động lực tăng trưởng. Các khu vực sản xuất và dịch vụ đều duy trì mức tăng khá; đầu tư và tích lũy tài sản tăng mạnh; tiêu dùng cuối cùng tiếp tục cải thiện; hoạt động xuất nhập khẩu duy trì quy mô lớn. Điều này cho thấy nền kinh tế đang có sự phục hồi tương đối đồng bộ cả về phía cung và phía cầu.

Tăng trưởng quý III tiếp tục được nâng lên, tạo nền tảng vững chắc cho 9 tháng

Quý III/2026 ghi nhận mức tăng GDP 9,95%, là bước tăng tốc đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%; khu vực dịch vụ tăng 9,45%, đóng góp tương ứng 5,14%; 51,57%; 43,29% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Tính chung 9 tháng, giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%. Như vậy, tăng trưởng 9 tháng không phụ thuộc vào một ngành hay một khu vực riêng lẻ. Khu vực công nghiệp và xây dựng giữ vai trò dẫn dắt, khu vực dịch vụ trở thành động lực quan trọng thứ hai, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát huy vai trò bệ đỡ, góp phần duy trì ổn định nền kinh tế.

Đây là kết quả đáng chú ý trong bối cảnh nền kinh tế đang đồng thời phải xử lý những tác động từ biến động thương mại quốc tế, giá năng lượng, chi phí sản xuất và những thay đổi nhanh của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là “đầu tàu” của tăng trưởng

Trong các động lực từ phía cung, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục là khu vực có vai trò dẫn dắt.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 11,02%, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.

Đáng chú ý, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vị trí trung tâm trong tăng trưởng công nghiệp. Trong quý III/2026, giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo tăng 12,28%, tính chung 9 tháng tăng 11,36%, đóng góp lần lượt 3,46 và 3,09 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung.

Động lực tăng trưởng được tạo ra từ nhiều ngành sản xuất, trong đó nổi bật là sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất đồ uống; sản xuất kim loại; sản phẩm từ khoáng phi kim loại; phương tiện vận tải; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị.

Sự phục hồi của sản xuất công nghiệp cũng gắn với sự cải thiện của đơn hàng và thị trường. Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III cho thấy 79,9% số doanh nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn hoặc ổn định so với quý II. Sang quý IV, tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình tốt hơn hoặc ổn định tăng lên 83,9%. Đây là tín hiệu cho thấy đà tăng trưởng công nghiệp có cơ sở để tiếp tục duy trì trong những tháng cuối năm.

Cùng với chế biến, chế tạo, ngành xây dựng tăng tốc rõ nét trong quý III với mức tăng 14,22%, đưa mức tăng 9 tháng lên 12,22%. Sự cải thiện của xây dựng gắn với tiến độ đầu tư công, các dự án hạ tầng và sự phục hồi của hoạt động đầu tư, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, máy móc, thiết bị và nhiều ngành kinh tế liên quan.

Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí cũng tăng trưởng khá, góp phần bảo đảm nguồn cung năng lượng cho sản xuất và đời sống. Trong khi đó, khai khoáng tiếp tục duy trì mức tăng tốt, góp phần đáp ứng một phần nhu cầu nguyên liệu, năng lượng trong nước.

Như vậy, sự tăng tốc của khu vực công nghiệp và xây dựng không chỉ trực tiếp đóng góp vào GDP mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất và dịch vụ khác.

Dịch vụ mở rộng cùng với sự phục hồi của sức mua và nhu cầu thị trường

Nếu khu vực công nghiệp và xây dựng là động lực dẫn dắt thì dịch vụ đang trở thành một trụ cột ngày càng quan trọng của tăng trưởng.

Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 tăng 8,69%. Trong đó, vận tải, kho bãi tăng 11,03%; bán buôn, bán lẻ tăng 9,85%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%. Các ngành này đều gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Sự phục hồi của dịch vụ được hỗ trợ rõ nét từ sức mua trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 13,4%, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,8%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 16,7%; doanh thu du lịch lữ hành tăng 17,9%.

Đây là một điểm đáng chú ý của tăng trưởng năm 2026: động lực từ thị trường nội địa đang được củng cố, giúp nền kinh tế giảm bớt sự phụ thuộc vào một chiều động lực từ bên ngoài.

Đặc biệt, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình duy trì xu hướng tăng khá, với mức tăng 9,95% trong quý III và 9,75% trong 9 tháng. Riêng quý III, tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình đóng góp 4,94 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Tiêu dùng gia tăng không chỉ phản ánh sự cải thiện về thu nhập và sức mua mà còn cho thấy sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu. Chi tiêu cho du lịch, nghỉ dưỡng, lưu trú, ăn uống và giải trí tăng lên, trong khi nhu cầu đối với những sản phẩm có chất lượng cao, thân thiện môi trường và ứng dụng công nghệ ngày càng rõ nét. Qua đó, tiêu dùng không chỉ tạo thêm cầu cho hàng hóa và dịch vụ mà còn thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi sản phẩm, mô hình kinh doanh và phương thức cung ứng để đáp ứng nhu cầu mới.

Đầu tư tăng mạnh, tạo lực kéo cho sản xuất và xây dựng

Một trong những điểm nổi bật của tăng trưởng 9 tháng năm 2026 là sự gia tăng mạnh của tích lũy tài sản.

Tính chung 9 tháng năm 2026, tích lũy tài sản tăng 17,88%; riêng quý III tăng tới 21,39%. Đây là mức tăng cao, phản ánh sự cải thiện rõ nét của hoạt động đầu tư và năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò quan trọng, đặc biệt trong các dự án hạ tầng quy mô lớn. Khi tiến độ giải ngân được đẩy nhanh, tác động không chỉ dừng ở ngành xây dựng mà còn lan tỏa sang sản xuất vật liệu, máy móc, thiết bị, vận tải, logistics và các dịch vụ hỗ trợ.

Đồng thời, sự phục hồi của sản xuất và triển vọng thị trường cũng tạo động lực để khu vực tư nhân mở rộng năng lực sản xuất. Đây là mối quan hệ hai chiều: đầu tư tạo thêm năng lực sản xuất và cầu đầu tư; sản xuất và thị trường cải thiện giúp thúc đẩy doanh nghiệp tiếp tục đầu tư.

Một điểm đáng lưu ý là trong 9 tháng năm 2026, tích lũy tài sản lưu động tăng rất mạnh, phản ánh lượng nguyên liệu, linh phụ kiện và hàng hóa phục vụ sản xuất tăng cao. Điều này vừa cho thấy doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn lực cho mở rộng sản xuất, vừa đặt ra yêu cầu theo dõi chặt chẽ hiệu quả sử dụng vốn và khả năng hấp thụ của thị trường.

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng mạnh, trong đó nhập khẩu tăng nhanh hơn

Khu vực đối ngoại tiếp tục là một động lực quan trọng của tăng trưởng.

Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%, trong khi nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng mạnh so với cùng kỳ, phản ánh mức độ sôi động của hoạt động thương mại quốc tế và sự gia tăng nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, đầu tư.

Xuất khẩu tăng mạnh tiếp tục tạo đầu ra cho các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các ngành sản xuất điện tử, máy tính, kim loại, phương tiện vận tải và nhiều nhóm hàng công nghiệp khác.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Một phần quan trọng của nhập khẩu là nguyên liệu, linh kiện và máy móc phục vụ sản xuất, xây dựng và mở rộng năng lực đầu tư. Trong bối cảnh đầu tư và sản xuất tăng mạnh, việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất đầu vào tăng là diễn biến có tính hỗ trợ cho tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn.

Tuy nhiên, xét từ góc độ đóng góp trực tiếp của xuất khẩu ròng vào GDP, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu cũng tạo sức ép nhất định. Điều này cho thấy cần tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa để khi xuất khẩu mở rộng, giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế ngày càng lớn hơn.

Ba động lực liên kết tạo nên tăng trưởng 9 tháng

Nhìn tổng thể từ cả phía cung và phía cầu, có thể nhận diện ba động lực chính đang liên kết và hỗ trợ lẫn nhau trong tăng trưởng kinh tế 9 tháng năm 2026.

Thứ nhất, đầu tư tạo lực kéo cho sản xuất và xây dựng

Đầu tư, đặc biệt là đầu tư công và các dự án quy mô lớn, tạo thêm khối lượng công việc trực tiếp cho ngành xây dựng, đồng thời kích thích nhu cầu đối với vật liệu, máy móc, thiết bị, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ. Qua đó, tác động của đầu tư không chỉ dừng ở lĩnh vực xây dựng mà còn lan tỏa tới nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có liên quan.

Khi hạ tầng được cải thiện, năng lực kết nối vùng và năng lực sản xuất cũng được nâng lên, tạo nền tảng cho tăng trưởng không chỉ trong ngắn hạn mà cả trung và dài hạn.

Thứ hai, công nghiệp và xuất khẩu tạo động lực mở rộng sản xuất

Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là ngành đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng. Đơn hàng và sản lượng cải thiện, cùng với sự gia tăng của xuất khẩu, tạo đầu ra cho sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng công suất.

Đây là động lực có ý nghĩa đặc biệt bởi sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn đến việc làm, thu nhập, logistics, thương mại và các ngành dịch vụ hỗ trợ. Khi sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tiếp tục mở rộng, tác động tích cực có thể lan tỏa sang nhiều khu vực khác của nền kinh tế, qua đó củng cố thêm đà tăng trưởng chung.

Thứ ba, tiêu dùng trong nước tạo điểm tựa cho tổng cầu

Sức mua trong nước duy trì tăng trưởng khá, cùng với sự phục hồi của du lịch, lưu trú, ăn uống, bán lẻ và giải trí, đang trở thành điểm tựa quan trọng cho tổng cầu.

Trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều bất định, sức cầu trong nước của hơn 100 triệu dân nếu được củng cố sẽ giúp nền kinh tế có thêm một “bệ đỡ”, giảm mức độ phụ thuộc vào biến động của cầu bên ngoài.

Ba động lực này có mối quan hệ chặt chẽ: đầu tư mở rộng năng lực sản xuất; sản xuất và xuất khẩu tạo việc làm, thu nhập và đầu ra; thu nhập và niềm tin cải thiện thúc đẩy tiêu dùng; tiêu dùng và đầu tư tiếp tục tạo thêm nhu cầu cho sản xuất. Sự liên kết các động lực từ phía cung và phía cầu đã góp phần củng cố đà tăng trưởng kinh tế trong 9 tháng năm 2026.

Những động lực mới đang hình thành nhưng chưa thay thế các động lực truyền thống

Bên cạnh các động lực truyền thống, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số đang ngày càng có vai trò rõ hơn trong nền kinh tế.

Sự gia tăng đầu tư vào công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện tử và các ngành có hàm lượng công nghệ cao đang mở ra không gian phát triển mới. Việc doanh nghiệp tăng nhập khẩu linh kiện, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ mở rộng sản xuất cũng cho thấy quá trình đầu tư vào năng lực công nghệ đang diễn ra.

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các động lực mới này chủ yếu vẫn đóng vai trò hỗ trợ và tạo nền tảng cho tăng trưởng tương lai, chưa thể thay thế vai trò dẫn dắt của công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng.

Để khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số thực sự trở thành động lực dẫn dắt, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực nghiên cứu – phát triển, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, đồng thời hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh.

Tăng trưởng cao nhưng cần quan tâm hơn đến chất lượng và sức chống chịu

Mức tăng GDP 9,95% trong quý III và 9,01% trong 9 tháng là kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026.

Tuy nhiên, tăng trưởng cao cũng đặt ra những yêu cầu mới về chất lượng tăng trưởng. Nhập khẩu tăng nhanh, chi phí nguyên liệu và năng lượng còn biến động, sức ép từ thị trường quốc tế và yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số ngày càng cao đòi hỏi nền kinh tế phải nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đặc biệt, cần tiếp tục củng cố khu vực doanh nghiệp trong nước, nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị và khả năng hấp thụ công nghệ. Nếu công nghiệp chế biến, chế tạo trong nước có thể tăng tỷ lệ nội địa hóa, nâng cao giá trị gia tăng và kết nối tốt hơn với khu vực FDI, tác động lan tỏa của xuất khẩu và đầu tư tới nền kinh tế sẽ lớn hơn.

Bên cạnh đó, cần duy trì sức cầu trong nước, nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển những ngành có giá trị gia tăng cao. Đây là điều kiện quan trọng để tăng trưởng không chỉ đạt tốc độ cao mà còn bền vững hơn trước các cú sốc từ bên ngoài.


Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026

Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Xem thêm