Trong mười tháng năm 2026, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình kinh tế – xã hội tháng Mười và mười tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, nhiều ngành, lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng, tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026. Một số nét chính về kinh tế – xã hội tháng Mười và mười tháng năm 2026 của nước ta như sau:
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng Mười, các địa phương tập trung tập trung thu hoạch lúa mùa và gieo cấy lúa thu đông; quy mô đàn lợn, đàn gia cầm tiếp tục được mở rộng; sản lượng gỗ khai thác tăng, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ phục vụ chế biến; nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, trong đó sản lượng cá tra và tôm nước lợ tăng khá.
- a) Kết quả đạt được
Tính đến ngày 20/10/2026, cả nước gieo cấy được 1.369,9 nghìn ha lúa hè mùa; diện tích lúa đã thu hoạch đạt 955,2 nghìn ha, chiếm 69,7% diện tích gieo cấy. Tổng đàn lợn cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Mười ước tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước; đàn gia cầm tăng 3,5% do nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng ổn định, người chăn nuôi mở rộng quy mô đàn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường dịp cuối năm.
Số cây lâm nghiệp trồng phân tán mười tháng năm 2026 ước đạt 76,1 triệu cây, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 21,7 triệu m3, tăng 6,1%.
Sản lượng thủy sản tháng Mười ước đạt 959,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 8.850,5 nghìn tấn, tăng 4,0%, trong đó: Sản lượng nuôi trồng đạt 5.515,7 nghìn tấn, tăng 5,9%, trong đó cá tra đạt 1.540,4 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm thẻ chân trắng đạt 1.064,6 nghìn tấn, tăng 8,2%. Sản lượng khai thác đạt 3.334,8 nghìn tấn, tăng 0,9%.
- b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Tính đến ngày 20/10/2026, diện tích gieo cấy lúa mùa giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, một số diện tích không gieo cấy được do điều kiện sản xuất khó khăn; diện tích gieo cấy lúa thu đông giảm 9,1% do lịch xuống giống muộn nhằm tránh mưa bão và triều cường. Giá lợn hơi có xu hướng giảm[1], trong khi giá thức ăn chăn nuôi và các chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, làm giảm lợi nhuận của người chăn nuôi. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chi phí chăn nuôi cao và chu kỳ nuôi dài[2].
- Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tiếp tục đà tăng trưởng hai con số, với động lực quan trọng từ ngành chế biến, chế tạo và việc đưa một số năng lực sản xuất mới vào vận hành. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười ước tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước; tính chung mười tháng năm 2026 ước tăng 12,4%, là mức tăng cao nhất của mười tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua.
- a) Kết quả đạt được
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước, tính chung mười tháng năm 2026 tăng 12,4%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 13,0%. Chỉ số IIP mười tháng năm 2026 tăng ở 33 địa phương trên cả nước; trong đó, 11 địa phương có chỉ số IIP tăng từ 15,0% trở lên. Một số địa phương đạt mức tăng cao: Hà Tĩnh (42,1%); Ninh Bình (25,7%); Thái Nguyên (23,0%); Nghệ An (21,2%); Bắc Ninh (20,4%); Quảng Ninh (19,7%). Với kết quả này, ngành Công nghiệp cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để chỉ số IIP đạt mục tiêu tăng trưởng 12-14% đặt ra trong NQ số 01/2026/NQ-CP.
b)Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Chỉ số IIP mười tháng năm 2026 chỉ cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với mức tối thiểu của mục tiêu cần đạt. Cùng với đó, 16 địa phương có chỉ số IIP tăng dưới 13,0%; riêng Sơn La giảm 5%, làm ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng chung của cả nước.
- Thương mại và du lịch
Hoạt động thương mại, dịch vụ mười tháng năm 2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng hai con số. Các chương trình kích cầu, xúc tiến du lịch cùng các sự kiện, lễ hội được triển khai, góp phần thúc đẩy tiêu dùng, thu hút khách quốc tế đến Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa mười tháng năm 2026 vượt một nghìn tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
- a) Kết quả đạt được
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước đạt 695,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 6.618,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%. Với kết quả này, để đạt mục tiêu tăng 13-15% trong năm 2026 theo Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP, hoạt động thương mại và dịch vụ cần tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ trong hai tháng cuối năm.
Vận chuyển hành khách tháng Mười ước tăng 16,4% và luân chuyển tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa tăng 17,4% về vận chuyển và luân chuyển. Tính chung mười tháng năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 16,7% và luân chuyển tăng 11,7%; vận chuyển hàng hóa tăng 15,5% và luân chuyển tăng 13,1%.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa mười tháng năm 2026 sơ bộ đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 27,5%; nhập khẩu tăng 37,4%. Cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười sơ bộ xuất siêu 7,31 tỷ USD, là tháng thứ hai liên tiếp xuất siêu trong năm 2026 (tháng Chín xuất siêu 1,30 tỷ USD). Với kết quả đạt được trong mười tháng qua, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2026 có khả năng vượt xa mục tiêu đặt ra trong NQ số 01 (15-16%).
Khách quốc tế đến Việt Nam mười tháng năm 2026 ước đạt 19,5 triệu lượt khách, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta cao nhất của mười tháng các năm trong nhiều năm qua.
- b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng mười tháng năm 2026 tiếp tục duy trì mức tăng hai con số nhưng chỉ cao hơn mục tiêu tối thiểu đặt ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP khoảng 0,5 điểm phần trăm; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7%, chỉ cao hơn 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (7,4%), cho thấy sức mua thực của nền kinh tế chưa cải thiện mạnh.
Cán cân thương mại hàng hóa mười tháng năm 2026 sơ bộ nhập siêu 12,07 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD); trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,76 tỷ USD. Mặc dù mức nhập siêu mười tháng đã được thu hẹp (chín tháng sơ bộ xuất siêu 19,38 tỷ USD), nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu vẫn hiện hữu và tạo áp lực lớn lên thị trường ngoại hối, tỷ giá.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong mười tháng năm 2026 đạt hơn 78% mục tiêu đặt ra (đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026 theo NQ số 01). Áp lực trong các tháng còn lại là rất lớn, trung bình mỗi tháng trong 02 tháng cuối năm, khách quốc tế đến nước ta phải đạt hơn 2,7 triệu lượt người, đòi hỏi ngành Du lịch tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá tại các thị trường trọng điểm, phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp nhằm thu hút khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu.
- Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tiếp tục tăng khá, phản ánh nỗ lực đẩy mạnh đầu tư công của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- a) Kết quả đạt được
Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước tháng Mười ước đạt 121,6 nghìn tỷ đồng, bằng 10,7% kế hoạch năm và tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,0% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến ngày 31/10/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam ước đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 30,73 tỷ USD, gấp 2,2 lần; vốn đăng ký điều chỉnh đạt 16,13 tỷ USD, tăng 33,2%.
- b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước mười tháng năm 2026 tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 30,7% của mười tháng năm 2025. Tỷ lệ vốn thực hiện mới đạt 69,0% kế hoạch năm, cho thấy áp lực thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong các tháng còn lại là rất lớn với khoảng 31% kế hoạch vốn phải thực hiện trong 02 tháng cuối năm 2026.
- Doanh nghiệp
Quy mô vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới được mở rộng, phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp đối với triển vọng sản xuất, kinh doanh ngày càng cải thiện.
- a) Kết quả đạt được
Trong mười tháng năm 2026, tổng số vốn của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 2.138,8 nghìn tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13,2 tỷ đồng, tăng 34,8%; tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,6%.
- b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Trong mười tháng năm 2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm 12,5% so với cùng kỳ năm 2025, dẫn đến số doanh nghiệp gia nhập thị trường giảm 4,8%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng mạnh 109,8%, cho thấy quá trình sàng lọc và tái cơ cấu doanh nghiệp tiếp tục diễn ra mạnh mẽ.
- Chỉ số giá
- a) Kết quả đạt được
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười ước tăng 0,20% so với tháng trước và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mười tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước.
- b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước là mức cao nhất của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2021-2026[3] và cao hơn mục tiêu đặt ra trong NQ số 01/2026/NQ-CP (khoảng 4,5%). Điều này cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, dư địa điều hành giá bị thu hẹp.
- Một số tình hình xã hội
Tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ đời sống Nhân dân được các cấp, các ngành tăng cường thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 18,1 nghìn tấn gạo, góp phần ổn định đời sống, bảo đảm an sinh xã hội.
Tình hình giao thông có nhiều cải thiện khi giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm và cháy, nổ diễn biến phức tạp. Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 123,3 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (19 người tử vong); hơn 98,9 nghìn người mắc tay chân miệng (11 người tử vong); 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.312 người bị ngộ độc thực phẩm (09 người tử vong); 57 người tử vong do bệnh dại; 2.477 vụ cháy, nổ, làm 89 người chết và 119 người bị thương, thiệt hại ước tính 713,1 tỷ đồng, gấp hơn 2,3 lần cùng kỳ năm trước.
- Kiến nghị
Trong hai tháng cuối năm, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, biến động nhanh và khó lường, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Để phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026, đồng thời tạo nền tảng tăng trưởng nhanh và bền vững cho năm 2027, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới (xung đột Trung Đông, Nga – U-crai-na, biểu tình bạo lực ở châu Âu), biến động giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá…, kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng cả nước và địa phương, kịch bản lạm phát. Quản lý giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; điều hành đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ; hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng chống chịu của doanh nghiệp. Chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn về thủ tục, mặt bằng và các điều kiện sản xuất, kinh doanh để đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào hoạt động; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, ưu tiên các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, mở rộng thị trường, nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa; bảo đảm cung ứng ổn định năng lượng, nguyên liệu và hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng.
Bốn là, thúc đẩy tiêu dùng trong nước, phát triển thương mại và các ngành dịch vụ. Triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu; phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu. Đồng thời, tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, góp phần duy trì đà tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế; tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển logistics, giảm chi phí vận chuyển và lưu kho; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản; kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.
Sáu là, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với đánh giá hiệu quả đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, hạ tầng chiến lược, các công trình có sức lan tỏa cao, nhất là đường sắt, đường bộ, hàng không, năng lượng, nông nghiệp, hạ tầng số quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia; xác định rõ các dự án có khả năng sớm hoàn thành, đưa vào khai thác; rà soát, có phương án xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài. Thu hút chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Bảy là, tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành dịch vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế. Tăng cường xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường khách quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kết nối giao thông và hàng không, tạo thuận lợi cho khách du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu đón khách quốc tế năm 2026.
Tám là, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, chủ động phòng, chống dịch bệnh, thiên tai. Triển khai kịp thời, hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, nhất là đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương. Tăng cường giám sát, phát hiện sớm và kiểm soát dịch bệnh; bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng, chống cháy, nổ và nâng cao hiệu quả bảo đảm an toàn giao thông. Chủ động xây dựng, triển khai phương án ứng phó với mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan; tăng cường phòng, chống cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, góp phần bảo đảm ổn định đời sống và sản xuất của Nhân dân.
CỤC THỐNG KÊ
[1] Giá thịt lợn hơi giảm 2,5% so với tháng trước.
[2] Tổng số trâu cả nước cuối tháng Mười ước giảm 6,2%; đàn bò giảm 1,4% so với cùng thời điểm năm trước.
[3] Chỉ số giá tiêu dùng mười tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2021-2026 lần lượt là: 1,81%; 2,89%; 3,20%; 3,78%; 3,27%; 4,57%.

Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026
Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)