BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

Trong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán khi xung đột vũ trang tại Trung Đông căng thẳng kéo dài, đe dọa đến hòa bình, an ninh toàn cầu; tác động tiêu cực tới chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, dịch vụ vận tải và thương mại thế giới. Bên cạnh đó, thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng; thách thức đối với đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng… ngày càng gia tăng. Quá trình chuyển đổi số, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ cao, chuyển đổi xanh và chuyển dịch chuỗi giá trị tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tạo ra cơ hội và thách thức đối với các nền kinh tế. Lạm phát toàn cầu gia tăng trở lại, điều kiện thị trường tài chính thắt chặt hơn, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng suy giảm.

Nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với dự báo đưa ra trước đó. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[1], Liên hợp quốc (UN)[2], Fitch Ratings (FR)[3] cùng điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm 0,2 điểm phần trăm; trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)[4], Ngân hàng Thế giới (WB)[5] điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra trước đó. Cụ thể, IMF, OECD, UN, WB và FR dự báo tăng trưởng của thế giới năm 2026 lần lượt đạt 3,1%, 2,8%, 2,5%, 2,5% và 2,4%.

Các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á[6] năm 2026 nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,5-7,2%[7]; In-đô-nê-xi-a từ 4,7-5,2%; Ma-lai-xi-a từ 4,2-4,7%; Phi-li-pin từ 3,2-4,4%; Xin-ga-po từ 3,0-3,5% và Thái Lan từ 1,5-1,8%.

Cùng với việc theo dõi chặt chẽ những biến động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Đặc biệt, việc vận hành, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính đã tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng, góp phần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Kinh tế – xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta theo các ngành, lĩnh vực đạt được kết quả rất tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực còn nhiều bất ổn. Cụ thể như sau:

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP)

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước[8]. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, đóng góp 5,65% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07%; khu vực dịch vụ tăng 7,87%, đóng góp 44,28%.

GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%). Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,83% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98%, đóng góp 0,27%; ngành thủy sản tăng 4,88%, đóng góp 1,56%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ của đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%, đóng góp 5,14%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,54%; ngành khai khoáng tăng 6,67%, đóng góp 1,60%. Ngành xây dựng tăng 9,51%, đóng góp 6,85%.

Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,73%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%, đóng góp 13,51%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%, đóng góp 2,73%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%, đóng góp 4,71%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%, đóng góp 1,81%.

Về cơ cấu nền kinh tế sáu tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,61%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; khu vực dịch vụ chiếm 43,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,28%; 36,82%; 43,59%; 8,31%).

Về sử dụng GDP sáu tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 15,20%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 26,44%.

2. Sản xuất nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 duy trì tăng trưởng ổn định. Sản xuất lúa đông xuân tăng cả về năng suất và sản lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản lượng cây ăn quả đạt khá, công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị nông sản và mở rộng thị trường xuất khẩu. Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, an toàn sinh học; sản lượng thịt lợn hơi và sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu tích cực. Nuôi trồng và khai thác thủy sản ổn định do tăng cường ứng dụng công nghệ cao và thời tiết khá thuận lợi

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932,1 nghìn ha, giảm 37,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước[9]. Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.037,2 nghìn ha, giảm 13,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.894,9 nghìn ha, giảm 24,4 nghìn ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.251,0 nghìn ha, giảm 14,4 nghìn ha. Năng suất lúa đông xuân cả nước ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng lúa vụ đông xuân năm 2026 ước đạt gần 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn.

Tính đến ngày 20/6/2026, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.712,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.144,1 nghìn ha, bằng 94,4%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng nhiều cây ăn quả tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: sầu riêng đạt 603,3 nghìn tấn, tăng 12,7%; mít đạt 512,0 nghìn tấn, tăng 10,3%; dứa đạt 461,6 nghìn tấn, tăng 8,0%; xoài đạt 757,8 nghìn tấn, tăng 3,8%; thanh long đạt 625,0 nghìn tấn, tăng 3,0%; nhãn đạt 231,6 nghìn tấn, tăng 2,3%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Dừa đạt 1.332,7 nghìn tấn, tăng 7,3%; chè búp đạt 566,0 nghìn tấn, tăng 4,0%; cao su đạt 439,6 nghìn tấn, tăng 3,9%; điều đạt 323,4 nghìn tấn, tăng 4,6%; hồ tiêu đạt 267,3 nghìn tấn, tăng 5,0%.

Chăn nuôi trâu, bò trong sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục có xu hướng giảm[10]. Chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển tốt, dịch bệnh được kiểm soát. Đàn lợn phát triển ổn định do chăn nuôi nông hộ chuyển mạnh sang bán công nghiệp, liên kết với doanh nghiệp, nhiều địa phương đẩy mạnh chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng giống có năng suất cao; đồng thời khu vực doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn tiếp tục duy trì sản xuất.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 145,7 nghìn ha, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 51,6 triệu cây, tăng 2,7%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11.767,7 nghìn m3, tăng 4,5%.

Diện tích rừng bị thiệt hại[11] của cả nước sáu tháng đầu năm là 347,0 ha, giảm 59,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 286,9 ha, giảm 49,2%; diện tích rừng bị cháy là 60,1 ha, giảm 78,8%.

c) Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2026 ước đạt 2.739,9 nghìn tấn, tăng 3,9%), bao gồm: cá đạt 3.497,9 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 774,1 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 682,2 nghìn tấn, tăng 4,7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng sáu tháng đầu năm ước đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.984,0 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 702,5 nghìn tấn, tăng 8,1%; thủy sản khác đạt 306,6 nghìn tấn, tăng 9,1%. Riêng sản lượng cá tra đạt 935,4 nghìn tấn, tăng 5,0 %; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 494,3 nghìn tấn, tăng 9,5%; sản lượng tôm sú đạt 167,6 nghìn tấn, tăng 4,3%; sản lượng cá rô phi sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,4%.

Sản lượng thủy sản khai thác sáu tháng đầu năm ước đạt 1.961,1 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2026 ước đạt 1.059,5 nghìn tấn, tăng 1,0%), bao gồm: Cá đạt 1.513,9 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 71,6 nghìn tấn, tăng 1,3%; thủy sản khác đạt 375,6 nghìn tấn, tăng 1,3%.

3. Sản xuất công nghiệp trong quý II/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay[12], trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sáu tháng đầu năm 2026 tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân sáu tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).

5. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong sáu tháng đầu năm 2026 tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Sáu, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 286,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 82,5 nghìn lao động, giảm 1,1% về số doanh nghiệp, tăng 1,9% về vốn đăng ký và tăng 8,8% về số lao động so với tháng 5/2026. So với cùng kỳ năm trước, giảm 31,0% về số doanh nghiệp, tăng 62,0% về số vốn đăng ký và giảm 39,8% về số lao động.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký hơn 1.352,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 515,3 nghìn lao động, tăng 22,5% về số doanh nghiệp, tăng 64,8% về vốn đăng ký và giảm 12,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong sáu tháng đầu năm 2026 lên hơn 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

  Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 85,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước; gần 41,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 21,0%; gần 24,0 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 94,7%. Bình quân một tháng có 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy: Có 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) tốt hơn so với quý I/2026; 43,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình SXKD ổn định và 20,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[13]. Dự kiến quý III/2026, có 39,4% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2026; 44,0% số doanh nghiệp cho rằng tình hình SXKD sẽ ổn định và 16,6% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

5. Hoạt động thương mại, vận tải, du lịch sáu tháng đầu năm nay duy trì tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước; chính sách thị thực thuận lợi, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch được đẩy mạnh cùng với đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường khách quốc tế đã thu hút khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục ttăng so với cùng kỳ năm trước

Quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách tăng 23,2% về vận chuyển và tăng 12,6% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 12,1% về vận chuyển và tăng 9,9% về luân chuyển; khách quốc tế đến Việt Nam[14] ước đạt 5,49 triệu lượt người[15], tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (năm 2025 tăng 7,4%).

        Vận tải hành khách sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 170,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,2%; trong đó, quý II/2026 ước đạt 1810,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 86,0 tỷ lượt khách.km, tăng 12,6%.

        Vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 321,2 tỷ tấn.km, tăng 10,0%; trong đó, quý II/2026 ước đạt 810,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 166,3 tỷ tấn.km, tăng 9,9%.

        Khách quốc tế đến Việt Nam sáu tháng đầu năm nay đạt 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 10,1 triệu lượt người, chiếm 82,6% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,9 triệu lượt người, chiếm 15,7% và tăng 37,5%; bằng đường biển đạt 209,0 nghìn lượt người, chiếm 1,7% và tăng 15,2%.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh[16] sáu tháng đầu năm 2026 đạt 2.685,8    nghìn lượt người, giảm 33,9% so với cùng kỳ năm trước.

6. Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, hài hòa với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng; thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định; thị trường chứng khoán hoạt động ổn định với tổng mức huy động vốn tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước

Tính đến thời điểm 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% (cùng thời điểm năm trước tăng 6,11%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,3%).

Tổng doanh thu phí bảo hiểm sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%, trong đó doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 68,8 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5%; bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 49,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%.

Trên thị trường chứng khoán, hoạt động giao dịch trong sáu tháng đầu năm 2026 tương đối ổn định nhờ kinh tế tăng trưởng khá, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện, cải cách về chính sách cùng với việc nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp đã tạo thêm động lực thu hút dòng vốn và mở rộng cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp. Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán (chưa bao gồm vốn chào bán trái phiếu riêng lẻ) sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 173.753 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến ngày 30/06/2026, chỉ số VNIndex đạt 1.860,01 điểm, tăng 4,23% so với cuối năm 2025; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 10.572,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%.

7. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 10,5% cùng kỳ sáu tháng năm 2025, mức tăng này phản ánh hoạt động đầu tư tiếp tục được mở rộng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong nửa đầu năm 2026. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành sáu tháng đầu năm ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% (quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1%)  so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 508,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,1% tổng vốn và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8% và tăng 12,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 13,5%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[17] tính đến ngày 30/6/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: 2.013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17,39 tỷ USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và tăng 87,2% về số vốn đăng ký; có 541 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 11,04 tỷ USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có    lượt với tổng giá trị góp vốn 6,22 tỷ USD, tăng 89,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 413 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,15 tỷ USD và 1.033 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,07 tỷ USD.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.

8. Thu ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2025 do thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên nhưng vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 6/2026 ước đạt 205,0 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62,0% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 1.352,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước; thu từ dầu thô ước đạt 31,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% và tăng 26,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, bằng 66,0% dự toán năm và tăng 22,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 6/2026 ước đạt 292,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ[18] sáu tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[19]

Trong tháng Sáu, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,0%; nhập khẩu tăng 33,4%[20]. Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 50,79 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước. Quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,8% so với quý I/2026. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 53,43 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước. Quý II/2026, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 156,6 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 23,7% so với quý I/2026. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Sáu nhập siêu 2,64 tỷ USD. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD[21] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD).

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 17,42 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,24 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước và giảm 10,3% so với quý trước), trong đó dịch vụ du lịch đạt 9,0 tỷ USD, tăng 18,1%; dịch vụ vận tải đạt 5,1 tỷ USD, tăng 34,0%.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 22,96 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2026, kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 11,81 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước), trong đó dịch vụ vận tải đạt 10,25 tỷ USD, tăng 32,2%; dịch vụ du lịch đạt 8,05 tỷ USD, tăng 12,7%.

Nhập siêu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 là 5,4 tỷ USD.

10. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Sáu tăng 3,21% so với tháng 12/2025 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước

a) Chỉ số giá tiêu dùng

CPI tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước, trong đó: có 04 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng. CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026, tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản[22] tháng Sáu tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 4,50% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung[23].

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng Sáu giảm 8,46% so với tháng Năm; tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; giảm 2,72% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 58,12% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Sáu tăng 0,11% so với tháng trước; tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,17% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 1,75%.

II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Thị trường lao động ổn định trong sáu tháng đầu năm 2026. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, cho thấy thị trường lao động tiếp tục có những chuyển biến tích cực.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2026 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 175,6 nghìn người so với quý trước và tăng 693,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2026 là 29,8%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,7 triệu người, tăng 690,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,7%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lao động có việc làm quý II/2026 ước tính là 52,7 triệu người, tăng 170,2 nghìn người so với quý trước và tăng 688,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm là 52,6 triệu người, tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[24] quý II/2026 là 1,62%, thấp hơn 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2026 là gần 9,0 triệu đồng/tháng, giảm 53 nghìn đồng so với quý I/2026[25] và tăng 720 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 đạt gần 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 2,23%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,47%, khu vực nông thôn là 2,05%.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

 Đời sống của hộ dân cư trong sáu tháng đầu năm 2026 được cải thiện hơn so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong quý II/2026 tăng lên so với cùng kỳ năm 2025 là 29,8%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không thay đổi là 66,7%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,5%. So với quý I/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên giảm 2,0 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi tăng 2,7 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết giảm 0,7 điểm phần trăm. So với quý II/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên giảm 3,0 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi tăng 2,9 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết tăng 0,1 điểm phần trăm.

Tính đến ngày 22/6/2026[26], lãnh đạo trung ương và địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, các nhà hảo tâm đã tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho các nhóm đối tượng với tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đạt hơn 46,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 9,4 nghìn tỷ đồng (tăng 25,2%) so với cùng kỳ năm trước. Chi tiết cho từng nhóm đối tượng cụ thể như sau: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng hơn 22,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP hơn 21,9 nghìn tỷ đồng, tăng 45,8%; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội hơn 2,5 nghìn tỷ đồng, giảm 8,3%; hỗ trợ bất thường khác phát sinh tại địa phương gần 199,3 tỷ đồng, giảm 38,9%. Có gần 35,7 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ hoặc thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong sáu tháng đầu năm nay (tính đến ngày 25/6/2026), Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân khoảng 17,9 nghìn tấn gạo, trong đó: hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.

Về tri ân người có công, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027) đang được các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương quyết liệt triển khai. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị sơ kết sáu tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ sáu tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, trong sáu tháng đầu năm, đã tìm kiếm, quy tập được 1.255 hài cốt liệt sĩ; đồng thời triển khai lấy mẫu hài cốt chưa xác định thông tin đối với 12.127 mộ liệt sĩ[27]. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước tiếp tục triển khai các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026)[28].

3. Giáo dục và đào tạo[29]

Tính đến 30/6/2026, cả nước có 14.820 trường mầm non; 25.067 trường phổ thông, bao gồm: 11.678 trường tiểu học; 8.124 trường trung học cơ sở; 2.245 trường trung học phổ thông và 3.020 trường phổ thông có nhiều cấp học.

Trong năm học 2025-2026, số giáo viên mầm non là 372,0 nghìn người, số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 829,8 nghìn người, bao gồm: 392,2 nghìn giáo viên tiểu học, 295,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở và 142,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông.

Cũng trong năm học 2025-2026, cả nước có 4,85 triệu trẻ em đi học mầm non, 18,5 triệu học sinh phổ thông, bao gồm: 8,64 triệu học sinh tiểu học; 6,93 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,90 triệu học sinh trung học phổ thông.

Về kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 đã thành công tốt đẹp, bám sát kế hoạch, đảm bảo tính an toàn, nghiêm túc và cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra với 1.213.695 thí sinh thực tế dự thi, đạt tỷ lệ 99,18%. Kỳ thi được tổ chức tại 2.478 điểm thi với 54.409 phòng thi trên phạm vi cả nước.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm[30]

Từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 55,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (07 trường hợp tử vong); 54,8 nghìn người mắc tay chân miệng (10 trường hợp tử vong); 4.393 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 154 trường hợp viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 31 trường hợp viêm màng não do não mô cầu (04 trường hợp tử vong) và 34 người tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/6/2026 là 256,8 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS là 118,9
nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Sáu xảy ra 11 vụ với 462 người bị ngộ độc (02 người tử vong). Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 (từ ngày 18/12/2025-17/6/2026), cả nước xảy ra 47 vụ với 1.866  người bị ngộ độc (07 người tử vong).

5. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa luôn được quan tâm; thể thao phong trào được duy trì, thể thao thành tích cao có những thành tích đáng ghi nhận

Trong quý II/2025 các hoạt động văn hóa trên cả nước diễn ra sôi nổi, gắn với các ngày lễ lớn của đất nước và nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Điểm nhấn của quý là chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; các hoạt động kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5; Bên cạnh đó, một số các hoạt động văn hóa khác cũng được tổ chức rộng khắp trên cả nước[31].

Về thể thao thành tích cao, một số hoạt động thể thao diễn ra trong quý II/2026 như: đội tuyển U17 Việt Nam vô địch Giải U17 Đông Nam Á 2026 (11-23/4 tại In-đô-nê-xi-a); Giải Vô địch các đội mạnh Kickboxing toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội (2-11/4); Giải Vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia diễn ra tại Huế (18-23/4); và Cuộc đua xe đạp Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra từ 3-30/4; đội tuyển U17 Việt Nam giành quyền tham dự FIFA U17 World Cup Qatar 2026; đội tuyển Judo Việt Nam giành Nhất toàn đoàn tại Giải vô địch Judo Đông Nam Á (19-24/5 tại Bắc Ninh); đội tuyển Taekwondo Việt Nam có 2 vận động viên giành suất dự ASIAD 2026. Đồng thời, nhiều giải vô địch quốc gia được tổ chức như Giải Cử tạ các Câu lạc bộ quốc gia (16-24/5 tại Ninh Bình), Giải Bơi – Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia (20-30/5 tại Đồng Tháp) và Giải vô địch Bóng chuyền bãi biển 2×2 (01-9/5 tại Đà Nẵng).

6. Số vụ tai nạn giao thông[32] trong tháng Sáu và 6 tháng đầu năm nay giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước

Trong tháng Sáu (từ 15/5-14/6/2026), cả nước xảy ra 1.273 vụ tai nạn giao thông, làm chết 786 người và bị thương 747 người. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giao thông giảm 15,1%; số người chết giảm 12,6%; số người bị thương giảm 20,4%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 7.755 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4.832 người và bị thương 4.509 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,6%; số người chết giảm 9,3%; số người bị thương giảm 27,6%. Bình quân một ngày trong sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người, bị thương 25 người.

7. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương

Thiệt hại do thiên tai[33]: trong sáu tháng đầu năm nay, thiên tai làm 28 người chết và mất, 65 người bị thương; 31,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hại; hơn 6,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong sáu tháng đầu năm nay ước tính 1.123,1 tỷ đồng, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng trong tháng Sáu thiệt hại do thiên tai làm 09 người chết và mất tích, 18 người bị thương; gần 777,0 ha lúa và hoa màu bị hư hại; 728 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 184,3 tỷ đồng, giảm 88,1% so với kỳ năm trước.

Bảo vệ môi trường[34]: trong sáu tháng đầu năm nay, các cơ quan chức năng đã phát hiện 9.640 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 7.824 vụ với tổng số tiền phạt 144,5 tỷ đồng, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước.

Cháy nổ[35]: trong tháng (từ 15/5-14/6/2026), cả nước xảy ra 272 vụ cháy, nổ, làm 4 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 186,6 tỷ đồng, gấp gần 2,8 lần tháng trước và gấp gần 8,2 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.517 vụ cháy, nổ, làm 54 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính 534,5 tỷ đồng, tăng 98,9% so với cùng kỳ năm trước.

[1] IMF (Tháng 4/2026), “Triển vọng kinh tế thế giới: Nền kinh tế toàn cầu trong bóng tối của chiến tranh”, https://www.imf.org/en/publications/weo/issues/2026/04/14/world-economic-outlook-april-2026, truy cập ngày 25/6/2026.

[2] UN (Tháng 5/2026), “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới giữa năm 2026”, https://desapublications.un.org/publications/world-economic-situation-and-prospects-mid-2026, truy cập ngày 25/6/2026.

[3] FR (Tháng 6/2026), “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 6/2026: Tăng trưởng bất chấp những biến động địa chính trị.”, https://www.fitchratings.com/research/sovereigns/global-economic-outlook-june-2026-04-06-2026, truy cập ngày 25/6/2026.

[4] OECD (Tháng 6/2026), “Báo cáo Triển vọng Kinh tế OECD tháng 6/2026: Chịu áp lực”,  https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-outlook-volume-2026-issue-1_2d1956f0-en.html, truy cập ngày 25/6/2026.

[5] WB (Tháng 6/2026), “Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 6/2026: Vượt qua triển vọng đầy bất trắc”,  https://openknowledge.worldbank.org/bitstreams/8e6bcf71-89a1-443b-bbe9-6c39a496d7ab/download, truy cập ngày 25/6/2026.

  [6] AMRO (Tháng 01/2026), “Bản cập nhật hàng quý Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3”, https://amro-  asia.org/asean3-regional-economic-outlook-areo/, truy cập ngày 26/3/2026.

  [7] ADB và AMRO dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2026 cùng đạt 7,2%;  IMF dự báo đạt 7,1%; WB dự báo đạt 6,8%; OECD dự báo đạt 6,5%.

[8] Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh được tính theo năm gốc 2020.

[9] Nguyên nhân do các địa phương chuyển diện tích đất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng, vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn, hoặc chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, đất thương mại, dịch vụ,…

[10] Do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao.

[11] Số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến 15/6/2026.

[12] Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng các năm 2019-2026 so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng là: 9,4%; 2,8%; 9,0%; 8,4%; -1,4%; 8,0%; 8,7%; 10,8%.

[13] Chỉ số tương ứng của quý I/2026: 69,9% doanh nghiệp đánh giá tình hình SXKD tốt hơn và giữ ổn định (23,8% tốt lên và 46,1% giữ ổn định); 30,1% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn.

[14] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Quản lý xuất nhập cảnh,
Bộ Công an.

[15] Kỳ báo cáo từ ngày 26/5/2026-25/6/2026.

[16] Là công dân Việt Nam ra khỏi lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam.

[17] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 30/6/2026.

[18] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).

[19] Số liệu sơ bộ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu do Cục Hải quan cung cấp ngày 02/7/2026.

[20] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2025 đạt 432,41tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 220,18tỷ USD, tăng 14,6%; nhập khẩu đạt 212,23 tỷ USD, tăng 17,9%.

[21] Một số mặt hàng nhập siêu cao: Điện tử, máy tính và linh kiện 38,9 tỷ USD; xăng dầu 5,2 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu 5,0 tỷ USD; than các loại 4,5 tỷ USD; kim loại thường khác 4,4 tỷ USD; dầu thô 3,9 tỷ USD; hóa chất 3,2 tỷ USD, sản phẩm hóa chất 2,9 tỷ USD.

[22] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

[23] Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

[24] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.

[25] Do trong quý I người lao động có thêm thu nhập từ các khoản thưởng Tết.

[26] Theo báo cáo từ địa phương.

[27] https://baochinhphu.vn/quyet-tam-tim-kiem-quy-tap-3000-hai-cot-liet-si-trong-nam-2026-102260625130946331.htm (truy cập lúc 17h30, ngày 27/6/2026)

[28] Ngày 11/6/2026, Chủ tịch nước ban hành Quyết định số 885/QĐ-CTN tặng quà nhân dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026) với 2 mức quà tặng là 600.000 đồng và 300.000 đồng cho các đối tượng. Bộ Nội vụ đã trình dự thảo điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp lên 3.012.000 đồng (tăng 8% so với mức 2.789.000 đồng) áp dụng từ ngày 01/07/2026. Theo đó, các khoản trợ cấp, phụ cấp hằng tháng cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng sẽ tăng để đảm bảo đời sống.

[29] Theo số liệu ước tính của Bộ Giáo dục và Đào tạo

[30] Theo báo cáo của Bộ Y tế.

[31] Như: chuỗi trải nghiệm nghề truyền thống tại khu phố cổ Hà Nội; các triển lãm như “Sơn ta sử tích”, “Dòng chảy sơn mài Việt – Từ di sản đến đương đại”, “Từ Dó mà ra”; cùng sự kiện “Dệt mới sắc xưa” tổ chức tại Bảo tàng Hà Nội; các chương trình quy mô lớn như “Giao hưởng non sông”, “Âm vang Tổ quốc” các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương và Tuần Văn hóa – Du lịch Đất Tổ; Lễ hội Làng Sen tại Nghệ An và Đồng Tháp, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng, Tuần Du lịch Ninh Bình…

[32] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 23/6/2026.

[33] Tổng hợp Báo cáo từ 34 Sở Nông nghiệp và Môi trường, kỳ báo cáo từ ngày 22/5/2026-23/6/2026.

[34] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Thống kê cấp tỉnh tổng hợp.

[35] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/6/2025.


Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026

Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)

Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Xem thêm