Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động với những bất định về địa chính trị, thương mại quốc tế, giá năng lượng và chi phí đầu vào. Trong nước, cùng với việc Chính phủ triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại, đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục có những chuyển biến tích cực, tạo thêm dư địa cho cộng đồng doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Bức tranh doanh nghiệp 9 tháng năm 2026 cho thấy những tín hiệu đan xen. Một mặt, số doanh nghiệp thành lập mới, quy mô vốn đăng ký và số doanh nghiệp đang hoạt động tiếp tục tăng; sản xuất công nghiệp và thị trường tiêu dùng duy trì đà tăng trưởng; niềm tin của doanh nghiệp sản xuất về những tháng cuối năm có xu hướng cải thiện, tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở chiều ngược lại, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường vẫn ở mức cao, trong đó nhóm doanh nghiệp nhỏ và khu vực dịch vụ tiếp tục chịu nhiều sức ép.
1. Số lượng doanh nghiệp tiếp tục mở rộng, quy mô vốn đăng ký có xu hướng tăng
Trong 9 tháng năm 2026, cả nước có 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới đạt khoảng 1.884,0 nghìn tỷ đồng, tăng 32,7%; vốn đăng ký bình quân đạt 12,6 tỷ đồng/doanh nghiệp, tăng 28,5%. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt hơn 5,0 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Điểm đáng chú ý là tốc độ tăng vốn đăng ký cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng số doanh nghiệp thành lập mới. Trong đó, số doanh nghiệp thành lập mới thuộc nhóm có quy mô vốn từ 100 đến 1.000 tỷ đồng tăng 29,3%; nhóm từ 50 đến 100 tỷ đồng tăng 8,9%. Điều này cho thấy bên cạnh sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp mới gia nhập thị trường cũng được cải thiện. Đây là tín hiệu tích cực đối với khả năng hình thành thêm các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính lớn hơn để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Xét theo ngành kinh tế, khu vực công nghiệp và xây dựng có 36,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 1,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 17,0%; trong khi khu vực dịch vụ có 111,2 nghìn doanh nghiệp, tương đương 74,3% tổng số doanh nghiệp thành lập mới nhưng gần như ổn định so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu này cho thấy sự gia tăng tương đối rõ nét của lực lượng doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, xây dựng và nông nghiệp.
2. Sản xuất công nghiệp và thị trường tạo thêm động lực cho doanh nghiệp
Sự cải thiện của hoạt động doanh nghiệp diễn ra đồng thời với đà tăng trưởng khá của nền kinh tế. Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3%, riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9% và tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng công nghiệp.
Kết quả sản xuất công nghiệp cũng tạo nền tảng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cho thấy sản phẩm tiêu thụ tăng khá, phản ánh nhu cầu thị trường đối với sản phẩm công nghiệp được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất. Ở góc độ doanh nghiệp, kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý III/2026 phản ánh khá rõ sự cải thiện này. Có 79,9% số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh quý III tốt hơn hoặc ổn định so với quý II, trong đó 34,2% đánh giá tốt hơn và 45,7% cho rằng ổn định. Chỉ có 20,1% doanh nghiệp đánh giá tình hình khó khăn hơn. Đáng chú ý, triển vọng quý IV còn tích cực hơn khi có 83,9% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn hoặc ổn định.
Diễn biến về đơn hàng cũng cho thấy triển vọng tương đối tích cực. Trong quý III/2026, có 31,9% doanh nghiệp cho biết số lượng đơn hàng mới tăng, 48,3% ổn định và 19,8% giảm. Sang quý IV, tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến đơn hàng mới tăng lên 37,3%, trong khi tỷ lệ dự kiến giảm xuống còn 14,4%. Đối với đơn hàng xuất khẩu, tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến tăng trong quý IV đạt 30,8%, cao hơn mức 24,8% thực tế ghi nhận trong quý III.
Những tín hiệu này cho thấy nhu cầu thị trường đang từng bước cải thiện và tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng công suất, mở rộng sản xuất trong những tháng cuối năm. Khối lượng sản xuất cũng được kỳ vọng tích cực hơn khi tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến tăng sản lượng trong quý IV đạt 39,0%, cao hơn mức 35,3% ghi nhận trong quý III.
Tuy nhiên, sự cải thiện diễn ra chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp. Chi phí sản xuất vẫn là yếu tố cần được lưu ý khi 31,3% doanh nghiệp chế biến, chế tạo cho biết chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tăng trong quý III. Bên cạnh đó, 45,2% doanh nghiệp kiến nghị cần giảm lãi suất cho vay của ngân hàng và 40,7% đề nghị ổn định giá nguyên vật liệu, năng lượng. Điều này cho thấy khả năng tiếp cận vốn và chi phí đầu vào vẫn là những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.
3. Đầu tư và sức mua trong nước tiếp tục mở rộng, tạo động lực tăng trưởng cho doanh nghiệp
Cùng với sản xuất công nghiệp, hoạt động đầu tư và thị trường trong nước tiếp tục được mở rộng, tạo thêm động lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, là mức cao nhất của 9 tháng các năm, kể từ năm 2022. Đây là nguồn lực quan trọng bổ sung cho năng lực sản xuất và tạo thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó, hoạt động thương mại và dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2026 tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,8%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 16,7%; du lịch lữ hành tăng 17,9%.
Sức mua trong nước được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, lưu trú, ăn uống, du lịch và các ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Đồng thời, sự tăng trưởng của đầu tư và xây dựng cũng tạo nhu cầu đối với các doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, dịch vụ vận tải và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Có thể thấy, ba yếu tố gồm sản xuất công nghiệp, đầu tư và thị trường trong nước đang là những động lực quan trọng hỗ trợ hoạt động doanh nghiệp trong 9 tháng năm 2026. Đây cũng là cơ sở để cộng đồng doanh nghiệp duy trì kỳ vọng tích cực hơn về những tháng cuối năm.
4. Áp lực rút lui khỏi thị trường giảm nhưng sức chống chịu của doanh nghiệp nhỏ còn hạn chế
Bên cạnh những tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Trong 9 tháng năm 2026, có 223,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, giảm 3,2% so với cùng kỳ; trong khi 172,0 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, giảm 1,7%. Như vậy, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập vẫn cao hơn số doanh nghiệp rút lui khoảng 51,9 nghìn doanh nghiệp, tương đương cao hơn 30,2%. Điểm tích cực là số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn giảm 9,7% và số doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể giảm 37,0%. Mặc dù số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng 118,8% nhưng nguyên nhân là một phần số doanh nghiệp hoàn tất giải thể trong kỳ có thể là những trường hợp đã phát sinh từ trước và đến nay mới hoàn tất quá trình thanh lý tài sản, nghĩa vụ thuế, công nợ và các thủ tục liên quan. Vì vậy, không nên đồng nhất mức tăng số doanh nghiệp giải thể với mức tăng tương ứng của khó khăn phát sinh mới trong khu vực doanh nghiệp.
Đáng chú ý, áp lực rút lui vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, cho thấy nhóm doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn là nhóm dễ bị tổn thương trước biến động của sức cầu, chi phí đầu vào, khả năng tiếp cận vốn và áp lực cạnh tranh.
Xét theo ngành, khu vực dịch vụ có 129,5 nghìn doanh nghiệp rút lui, chiếm khoảng 75,2% tổng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Riêng ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 67,3 nghìn doanh nghiệp rút lui, chiếm khoảng 39,1%. Đây là nhóm ngành tập trung nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, đồng thời chịu tác động trực tiếp từ sức mua, chi phí mặt bằng, cạnh tranh về giá và sự thay đổi nhanh chóng của phương thức tiêu dùng. Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ vẫn đối mặt với sức ép đáng kể trong việc duy trì hoạt động và thích ứng với những thay đổi của thị trường.
Như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn cần được theo dõi sát khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp những tháng cuối năm.
5. Triển vọng cuối năm tích cực hơn nhưng cần củng cố sức chống chịu
Nhìn tổng thể, hoạt động doanh nghiệp trong quý III và 9 tháng năm 2026 đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện đáng kể. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng; quy mô vốn đăng ký bình quân được nâng lên; số doanh nghiệp đang hoạt động tiếp tục tăng; sản xuất công nghiệp, đầu tư và sức mua trong nước đều duy trì tốc độ tăng khá. Những yếu tố này tạo nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục mở rộng sản xuất, kinh doanh trong quý IV.
Đáng chú ý, kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh cho thấy kỳ vọng của doanh nghiệp về quý IV tích cực hơn quý III. Có 83,9% doanh nghiệp chế biến, chế tạo dự báo hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn hoặc ổn định; tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến đơn hàng mới tăng cũng cao hơn quý III. Khu vực doanh nghiệp FDI có mức độ lạc quan cao nhất với 85,5% doanh nghiệp dự báo hoạt động quý IV tốt hơn hoặc ổn định; khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 83,3% và khu vực ngoài nhà nước đạt 83,1%.
Tuy nhiên, triển vọng này vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố bên ngoài như biến động thương mại quốc tế, giá năng lượng, chi phí nguyên vật liệu, yêu cầu về tiêu chuẩn sản phẩm, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đối với khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc nâng cao khả năng tiếp cận vốn, cải thiện năng lực quản trị và mở rộng thị trường tiếp tục có ý nghĩa quan trọng.
Từ thực tế 9 tháng năm 2026, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần tiếp tục chuyển mạnh từ hỗ trợ gia nhập thị trường sang hỗ trợ duy trì, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động. Cùng với việc cải thiện môi trường kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ, cần chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng, công nghệ và thị trường; tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh, ứng dụng chuyển đổi số, nâng cao năng suất và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động, cần tăng cường nắm bắt nguyên nhân và tháo gỡ những vướng mắc về vốn, thị trường, thủ tục và chi phí để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng phục hồi trở lại. Đồng thời, việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng tốt hơn sức mua trong nước sẽ góp phần nâng cao khả năng chống chịu, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp.

Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026
Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

