Trong chín tháng năm 2026, ngành Thủy sản duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều biến động, cạnh tranh thương mại gia tăng, yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe. Sản xuất thủy sản tiếp tục đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người dân. Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của toàn ngành, trong khi khai thác thủy sản tăng chậm hơn. Kết quả này cho thấy xu hướng chuyển dịch ngày càng rõ hơn từ khai thác sang nuôi trồng, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với bảo vệ nguồn lợi và phát triển bền vững.
Sản lượng thủy sản chín tháng năm 2026
so với cùng kỳ năm 2025
Trong quý III/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 2.851,8 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.878,1 nghìn tấn, tăng 3,0%; tôm đạt 560,1 nghìn tấn, tăng 6,5%; thủy sản khác đạt 413,6 nghìn tấn, tăng 7,7%. Sản xuất thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ tại một số thị trường từng bước cải thiện, trong khi yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững ngày càng cao. Tính chung chín tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 5.410,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1.376,4 nghìn tấn, tăng 7,1%; thủy sản khác đạt 1.103,6 nghìn tấn, tăng 5,8%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng năm 2026 ước đạt 4.860,6 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3.053,7 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 1.279,4 nghìn tấn, tăng 7,6%; thủy sản khác đạt 527,5 nghìn tấn, tăng 10,4%. Riêng quý III, sản lượng nuôi trồng đạt 1.822,9 nghìn tấn, tăng 6,1%, trong đó tôm tăng 6,7% và thủy sản khác tăng 12,2%.
Sản lượng thủy sản khai thác quý III/2026 ước đạt 1.028,9 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá đạt 803,1 nghìn tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 33,1 nghìn tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác đạt 192,7 nghìn tấn, tăng 3,0%. Tính chung chín tháng, sản lượng khai thác ước đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9%; trong đó khai thác biển đạt 2.901,6 nghìn tấn, tăng 1,0%.
Theo kế hoạch phát triển số 6034/BNNMT-KHTC ngày 26/8/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng sản lượng thủy sản năm 2026 phấn đấu đạt khoảng 9,88 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 6,13 triệu tấn và khai thác 3,75 triệu tấn. Sau chín tháng, tổng sản lượng thủy sản đạt 7,89 triệu tấn, bằng khoảng 79,9% kế hoạch năm; trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 4,86 triệu tấn, bằng 79,3% và khai thác đạt 3,03 triệu tấn, bằng 80,8% kế hoạch.
Kết quả trên cho thấy sản xuất thủy sản sau chín tháng duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó nuôi trồng tiếp tục là động lực chính, với sản lượng tăng 5,9% so với cùng kỳ; sản lượng khai thác tăng 0,9%. Với tiến độ thực hiện hiện nay, sản xuất thủy sản cần tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong quý IV/2026 để đạt và vượt chỉ tiêu đã đề ra. Đồng thời cần tăng cường kiểm soát tốt dịch bệnh, quản lý môi trường nuôi và tổ chức khai thác theo hướng hiệu quả, bền vững để hoàn thành các mục tiêu năm 2026.
Thị trường tiêu thụ và xuất khẩu tiếp tục tạo động lực cho sản xuất
Hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản tiếp tục có những tín hiệu tích cực khi nhu cầu tại một số thị trường chủ lực được cải thiện. Đối với cá tra, nhu cầu tại Trung Quốc, EU, CPTPP, Nhật Bản và Anh duy trì tương đối thuận lợi, góp phần hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng Chín ước đạt 1,1 tỷ USD, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước; quý III ước đạt gần 3,4 tỷ USD, tăng 9,4%; tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 11,5%. Sự cải thiện của thị trường cùng với giá một số sản phẩm duy trì ở mức phù hợp đã tạo điều kiện để người nuôi duy trì và mở rộng sản xuất. Trong đó, cá tra và tôm tiếp tục giữ vai trò chủ lực, đồng thời cá rô phi đang từng bước được mở rộng sản xuất, tạo thêm nguồn hàng phục vụ chế biến và xuất khẩu.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, xuất khẩu tôm trong tháng Chín đạt 467,1 triệu USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2025; tính chung chín tháng đạt 3,75 tỷ USD, tăng 11,0% và chiếm 41,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Xuất khẩu cá tra tháng Chín đạt 214,3 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2025; tính chung chín tháng đạt khoảng 1,74 tỷ USD, tăng 10,7% và chiếm 12,1% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.
Việc đa dạng hóa đối tượng nuôi, ứng dụng công nghệ và nâng cao giá trị sản phẩm phù hợp với định hướng phát triển thủy sản năm 2026, trong đó ngành đặt mục tiêu tiếp tục đa dạng hóa đối tượng và phương thức nuôi, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích.
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục là động lực tăng trưởng
Kết quả sản xuất chín tháng cho thấy nuôi trồng thủy sản tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng toàn ngành. Sản lượng tăng khá ở các đối tượng nuôi chủ lực như cá tra, tôm thẻ chân trắng và tôm sú; đồng thời, cá rô phi có xu hướng mở rộng tại một số địa phương, góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm. Việc duy trì sản lượng nuôi trồng ở mức cao, cùng với xu hướng mở rộng các mô hình nuôi thâm canh, công nghệ cao, đang góp phần bù đắp mức tăng thấp của khai thác và tạo động lực chủ yếu cho tăng trưởng sản lượng thủy sản chung.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng và tốc độ tăng chín tháng năm 2026
ĐVT: Nghìn tấn

Tăng trưởng thủy sản năm 2026 đang thể hiện rõ xu hướng tăng trưởng dựa trên nuôi trồng, phù hợp với định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng mặt nước, gia tăng giá trị sản phẩm và phát triển thủy sản theo hướng bền vững.
Kết quả nuôi trồng tăng khá nhờ đẩy mạnh áp dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả nuôi. Sản lượng cá tra chín tháng năm 2026 ước đạt 1.431,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; quý III ước đạt 496,2 nghìn tấn, tăng 3,3%; riêng tháng Chín đạt 180,9 nghìn tấn, tăng 1,9%. Sản lượng tăng trong bối cảnh chế biến và xuất khẩu các sản phẩm cá tra tại một số thị trường như Trung Quốc, EU, CPTPP, Nhật Bản và Anh duy trì đà tăng trưởng; giá cá tra nguyên liệu trong quý III/2026 dao động khoảng 28.000-34.000 đồng/kg, tạo điều kiện duy trì sản xuất và bảo đảm lợi nhuận cho người nuôi.
Sản lượng tôm tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ nhờ mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh và ứng dụng công nghệ cao được mở rộng, đồng thời quý III là thời điểm thu hoạch chính vụ. Sản lượng tôm tháng Chín ước đạt 182,0 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 ước đạt 527,0 nghìn tấn, tăng 6,7%; tính chung chín tháng năm 2026 ước đạt 1.279,4 nghìn tấn, tăng 7,6%. Trong đó: Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng Chín ước đạt 134,8 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước; quý III ước đạt 396,6 nghìn tấn, tăng 6,8%; tính chung chín tháng năm 2026 ước đạt 940,8 nghìn tấn, tăng 8,3%. Sản lượng tôm sú ước đạt 31,1 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; quý III ước đạt 93,7 nghìn tấn, tăng 4,6%; tính chung chín tháng năm 2026 ước đạt 261,3 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Cá rô phi tiếp tục là mặt hàng có nhiều tiềm năng phát triển trong phục vụ chế biến và xuất khẩu. Sản lượng cá rô phi chín tháng năm 2026 tăng 10,2% so với cùng kỳ; một số địa phương có sản lượng tăng khá như: An Giang tăng 67,0%; Cà Mau tăng 11,1%; Hải Phòng tăng 6,4%. Kết quả này cho thấy khả năng mở rộng sản xuất cá rô phi tại nhiều vùng sinh thái, đồng thời tạo thêm nguồn nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu.
Những khó khăn đặt ra đối với sản xuất thủy sản
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất thủy sản vẫn tiềm ẩn rủi ro về dịch bệnh, biến động giá cả và chi phí đầu vào. Hoạt động khai thác còn chịu tác động của nguồn lợi thủy sản suy giảm và yêu cầu quản lý ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, việc phát triển sản xuất cần tiếp tục gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững.
Đối với hoạt động khai thác, việc thực hiện các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cùng yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tiếp tục đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý và tuân thủ của người khai thác. Việc tổ chức khai thác hợp lý, kiểm soát hoạt động khai thác và bảo đảm truy xuất nguồn gốc sản phẩm sẽ ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành theo hướng bền vững.
Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu có dấu hiệu chậm lại trong những tháng gần đây, nhất là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đang có xu hướng giảm mạnh. Điều đó cho thấy thị trường xuất khẩu ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn phát triển bền vững; cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu cũng tạo sức ép đối với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ thủy sản Việt Nam.
Một thách thức khác là khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn khác nhau của các thị trường tiềm năng. Các thị trường nhập khẩu này đều có nhiều quy định khắt khe đến nguồn gốc nguyên liệu, công nghệ bảo quản thực phẩm, ô nhiễm môi trường và trách nhiệm trong sản xuất, việc tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết sẽ làm tăng chi phí kiểm soát và hạn chế khả năng nâng cao giá trị sản phẩm.
Hướng phát triển: Từ tăng sản lượng sang tăng giá trị
Trong thời gian tới, cần tiếp tục phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng con giống và kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh, môi trường nuôi. Tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường; hướng dẫn người nuôi điều chỉnh thời vụ, quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, vật tư đầu vào. Đồng thời, đẩy mạnh tổ chức sản xuất theo vùng nguyên liệu tập trung, tăng cường liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, gắn sản xuất với tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Kết quả chín tháng năm 2026 cho thấy ngành Thủy sản đang có nền tảng tăng trưởng tương đối tích cực, động lực tăng trưởng đang có sự thay đổi rõ hơn, nuôi trồng ngày càng đóng vai trò chủ lực, trong khi khai thác cần chuyển mạnh sang nâng cao hiệu quả và bảo vệ nguồn lợi. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng sản lượng mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích, một đơn vị sản phẩm và mỗi chuyến khai thác.
Đối với khai thác thủy sản, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp chống khai thác IUU, nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động tàu cá, quản lý sản lượng khai thác và truy xuất nguồn gốc thủy sản. Từng bước hiện đại hóa đội tàu, nâng cấp hạ tầng cảng cá, khu neo đậu và dịch vụ hậu cần nghề cá; khuyến khích chuyển đổi phương thức khai thác theo hướng nâng cao giá trị, giảm tổn thất sau thu hoạch và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và thị trường tiêu thụ; chủ động đáp ứng các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường của thị trường nhập khẩu. Tăng cường cung cấp thông tin thị trường, dự báo cung cầu và giá cả để người dân, doanh nghiệp chủ động kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và duy trì tăng trưởng bền vững của ngành Thủy sản. Cần chủ động theo dõi diễn biến cung cầu, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và môi trường; đồng thời đa dạng hóa thị trường, tận dụng các hiệp định thương mại tự do và đẩy mạnh chế biến sâu. Phát triển thủy sản trong thời gian tới cần hướng tới xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, qua đó chuyển lợi thế về sản lượng thành giá trị gia tăng và thu nhập thực tế cho người sản xuất.
Nhìn chung trong chín tháng năm 2026, ngành Thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, với nuôi trồng là động lực chủ yếu và một số sản phẩm như tôm, cá tra, cá rô phi có mức tăng tích cực. Giai đoạn cuối năm và những năm tiếp theo, việc duy trì tăng trưởng cần gắn chặt hơn với nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, phát triển thị trường, bảo vệ nguồn lợi và tổ chức lại chuỗi sản xuất theo hướng hiện đại, có trách nhiệm và bền vững.

Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026
Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)
