Sáng này 03/10/2026, Cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội Quý III và 9 tháng năm 2026 dưới sự chủ trì của Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Tham dự họp báo có các Phó Cục trưởng, Lãnh đạo và chuyên viên các đơn vị thuộc Cục Thống kê cùng đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí.

Họp báo được kết nối trực tuyến với 34 Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Cục trưởng Nguyễn Thị Hương chủ trì họp báo

Báo cáo tại Họp báo, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương cho biết, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế – xã hội quý III và chín tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục đạt được kết quả tích cực, quan trọng trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Cụ thể:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.

 Về sử dụng GDP quý III/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.

GDP chín tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Về cơ cấu nền kinh tế, trong chín tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; khu vực dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,33%; 37,47%; 43,05%; 8,15%).

Về sử dụng GDP chín tháng năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.

Về tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP) chín tháng, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, trong đó Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%; tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81%; Ninh Bình 11,31%. Một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp: Sơn La 5,59%; Vĩnh Long 7,32%; Cà Mau 7,37%; Đồng Tháp 7,44% do sự sụt giảm của sản xuất điện và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này. Nhìn chung, tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý III và 9 tháng năm 2026 đạt kết quả tích cực. Năng suất và sản lượng lúa đều tăng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu được duy trì; nuôi trồng thủy sản duy trì tăng trưởng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao.

Sản xuất công nghiệp trong quý III/2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng hai con số, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng chín tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%.

Tính chung chín tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,0%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,3%), đóng góp 10,0 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 6,3%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3% (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 8,0% (cùng kỳ năm 2025 giảm 0,4%), đóng góp 1,3 điểm phần trăm.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín giảm 0,5% so với tháng trước nhưng tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,1%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2026 ước tăng 4,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.

Toàn cảnh Họp báo

Tính chung chín tháng năm 2026, cả nước có gần 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884,0 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 733,1 nghìn lao động, tăng 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 32,7% về vốn đăng ký nhưng giảm 16,1% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong chín tháng năm 2026 đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong chín tháng năm 2026 đạt hơn 5,0 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 74,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 14,0%. Tính chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong chín tháng năm 2026 đạt hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Tính chung chín tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 89,8 nghìn doanh nghiệp, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước; 33,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 37,0%; hơn 48,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 118,8%. Bình quân một tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 cho thấy: Có 34,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý II/2026; 45,7% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

Dự kiến quý IV/2026, có 39,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2026; 44,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 16,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng Chín duy trì tốc độ tăng khá cao với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 ước tăng 3,3% so với quý trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,8%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 16,7%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 17,9%, doanh thu dịch vụ khác tăng 13,4%, cho thấy các ngành dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực thương mại, dịch vụ và nền kinh tế.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 11,6% cùng kỳ chín tháng năm 2025, mức tăng này phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành vĩ mô, sự quyết liệt trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công và niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân cùng các nhà đầu tư nước ngoài, tạo động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất chín tháng của các năm từ 2022 đến nay.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,40 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD, chiếm 3,4%.

Tính chung chín tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 24,5%; nhập khẩu tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa chín tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,62% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Chín tăng 4,20% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với quý III/2025. Bình quân
chín tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

CPI tháng Chín tăng 0,62% so với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm có chỉ số giá tăng; 02 nhóm có chỉ số giá giảm.

CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,32%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,24%; giáo dục tăng 3,44%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,55%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,18%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,58%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,90%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,59%; giao thông tăng 7,73%.

CPI bình quân chín tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,69 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, tác động tăng 1,52 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,06%, tác động tăng 0,6 điểm phần trăm; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,61%, tác động tăng 0,17 điểm phần trăm; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,74%, tác động tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 3,35%, tác động tăng 0,20 điểm phần trăm; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,84%, tác động tăng 0,15 điểm phần trăm; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,78%, tác động tăng 0,09 điểm phần trăm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,05%, tác động tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm thuốc, dịch vụ y tế tăng 1,12%; nhóm thông tin, truyền thông tăng 0,12%.

Lạm phát cơ bản tháng Chín tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân chín tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Thị trường lao động chín tháng năm 2026 khả quan. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đạt được phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện.

Bên cạnh việc công bố các số liệu thống kê kinh tế – xã hội, Cục Thống kê cũng đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đầy tăng trưởng kinh tế quý tiếp theo:

Một là, kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, giá cả và ổn định thị trường; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới nhất là xung đột tại Trung Đông, xung đột Nga – U-crai-na, biến động giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá…; kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế cả nước và địa phương, kịch bản lạm phát. Điều hành giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; định hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo.

Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, phát triển chuỗi giá trị bền vững. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.

Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục, mặt bằng và các điều kiện sản xuất, kinh doanh để đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào hoạt động; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, ưu tiên các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả  của doanh nghiệp.

Bốn là, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế – xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, hạ tầng chiến lược, các công trình có sức lan tỏa cao, nhất là đường sắt, đường bộ, hàng không, năng lượng, nông nghiệp, hạ tầng số quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.

Năm là, hỗ trợ và nâng cao năng lực xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển dịch vụ logistics, giảm chi phí vận chuyển; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản; kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.

Sáu là, tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.

Bảy là, tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành dịch vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế. Tăng cường xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa và đổi mới sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường khách quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kết nối giao thông và hàng không, tạo thuận lợi cho khách du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu đón khách quốc tế năm 2026.

Tại buổi họp bảo, Cục trưởng và Lãnh đạo các đơn vị chuyên môn đã trả lời thỏa đáng câu hỏi của phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí./.

 


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm