Trong quý I/2026, thị trường lao động tiếp tục duy trì ổn định. Quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với quy luật của quý có Tết Nguyên đán. Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với cả quý trước và cùng kỳ năm trước, góp phần nâng cao đời sống. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm được kiểm soát; tỷ lệ lao động phi chính thức giảm so với cùng kỳ năm trước.

Lực lượng lao động

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I/2026 ước tính là 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước và tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2026 là 68,3%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I/2026 là 29,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lao động có việc làm

Lao động có việc làm quý I/2026 ước tính là 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người, tương ứng giảm 0,4% so với quý trước và tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị là 20,6 triệu người, chiếm 39,2%, giảm 122,2 nghìn người so với quý trước và tăng 587,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 60,8%, giảm 111,2 nghìn người và tăng 69,3 nghìn người.

Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý I/2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người, chiếm 25,3%, giảm 104,6 nghìn người so với quý trước và giảm 187,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,7 triệu người, chiếm 33,7%, giảm 133,9 nghìn người và tăng 417,9 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,5 triệu người, chiếm 41,0%, tăng 5,1 nghìn người và tăng 426,2 nghìn người.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản)[1] vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý I/2026 là 62,2%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Xét theo khu vực, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức trong khu vực thành thị là 48,4%; khu vực nông thôn là 71,1%. Xét theo giới tính, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ở nam là 65,6% và ở nữ là 58,3%.

Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[2]

Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2026 là 786,7 nghìn người, tăng 2,7 nghìn người so với quý trước và giảm 10,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,68%, gần như không thay đổi so với quý trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị là 1,27%; khu vực nông thôn là 1,95%.

Trong quý I/2026, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 380,9 nghìn người, chiếm tỷ trọng cao nhất với 48,4% và giảm 18,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ là 268,6 nghìn người, chiếm 34,1% và tăng 52,8 nghìn người; khu vực công nghiệp và xây dựng là 137,2 nghìn người, chiếm tỷ trọng thấp nhất với 17,4% và giảm 44,3 nghìn người.

Thu nhập bình quân của lao động[3]

Trong quý I/2026, thu nhập bình quân của người lao động quý I/2026 tiếp tục được cải thiện, đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329 nghìn đồng (tương ứng 3,8%) so với quý trước và tăng 706 nghìn đồng (tương ứng 8,5%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,7 triệu đồng/tháng; lao động khu vực thành thị là 10,7 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng/tháng. Mức tăng thu nhập của người lao động cùng với lạm phát được kiểm soát góp phần cải thiện thu nhập thực và nâng cao đời sống của người lao động.

Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương quý I/2026 là 10,0 triệu đồng/tháng, tăng 6,6%, tương ứng tăng 622 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 10,5 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 9,5 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực thành thị là 11,2 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực nông thôn là 9,1 triệu đồng/tháng.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[4]

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2026 là 2,21%, hầu như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị quý I năm nay là 2,46%, tiếp tục duy trì dưới 3,0%[5], thấp hơn mức mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Điều này phản ánh thị trường lao động khu vực thành thị tiếp tục được duy trì ổn định.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2026 là 8,86%, giảm nhẹ 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị là 10,7%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở khu vực nông thôn là 7,8%, tăng 1,5 điểm phần trăm.

Trong quý I/2026, thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là gần 1,6 triệu người, chiếm 11,4% tổng số thanh niên, tăng 172,6 nghìn người so với quý trước và tăng 212,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực thành thị là 8,9%; khu vực nông thôn là 13,0%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 12,8%; nam là 10,0%.

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[6]

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam trong thời gian qua thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng quý I/2026 là 4,2%. Trong đó, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của khu vực thành thị là 3,9%; khu vực nông thôn là 4,3%.

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý I/2026 là hơn 3,8 triệu người, tương đương so với cùng kỳ năm trước. Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 93,9% và tập trung ở nữ giới, chiếm 65,0%. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng yêu cầu cao về tay nghề, kỹ năng, cơ hội để nhóm lao động này tìm kiếm được công việc tốt là rất khó khăn.

[1] Lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong khu vực hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) là những người có việc làm và thuộc một trong các trường hợp sau: (i) lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công; (ii) người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực phi chính thức (iii) người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc; (iv) xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; (v) lao động trong khu vực hộ nông nghiệp.

[2] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động gồm những người có việc làm mong muốn làm thêm giờ; sẵn sàng làm thêm giờ; thực tế làm dưới 35 giờ/tuần.

[3] Trong Điều tra lao động việc làm, thu nhập của người lao động là số tiền công/tiền lương hoặc lợi nhuận nhận được từ công việc (bao gồm tiền làm thêm giờ, tiền thưởng, tiền phụ cấp nghề và tiền phúc lợi khác) trong tháng trước thời điểm điều tra. Thu nhập bình quân một lao động đang làm việc là tổng thu nhập của tất cả lao động đang làm việc so với tổng số lao động đang làm việc.

[4] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.

[5] Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị quý I các năm giai đoạn 2022-2026 lần lượt là: 2,88%; 2,66%; 2,64%, 2,38% và 2,46%.

[6] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm