BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

Trong chín tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định, diễn biến nhanh và khó dự báo. Xung đột quân sự kéo dài tại Nga – U-crai-na và Trung Đông, cạnh tranh chiến lược gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ và các biện pháp điều chỉnh chính sách thương mại, tiền tệ của các nền kinh tế lớn đã tác động lớn đến chuỗi cung ứng, nguồn cung năng lượng, giá nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí vận tải và thương mại quốc tế. Áp lực lạm phát gia tăng trở lại, trong khi nợ công toàn cầu tăng cao. Thiên tai, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. An ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng tiếp tục đặt ra nhiều thách thức. Tuy nhiên, làn sóng đầu tư vào hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn diễn ra mạnh mẽ, tạo động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, các tổ chức quốc tế có những điều chỉnh khác nhau về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)[1], Liên hợp quốc (UN)[2] điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới cao hơn so với dự báo đưa ra trước đó với mức tăng 0,1 điểm phần trăm nhưng đều thấp hơn nhiều so với năm 2025. Cụ thể, OECD dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 đạt 2,9% (thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với năm 2025), UN dự báo đạt 2,6% (thấp hơn 0,3 điểm phần trăm). Riêng Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)[3] điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2026 thấp hơn 0,1 điểm phần trăm, đạt 3,0%, là mức cao nhất trong số các tổ chức quốc tế nêu trên nhưng vẫn thấp hơn mức tăng của năm 2025 khoảng 0,5 điểm phần trăm.

Đối với khu vực Đông Nam Á[4], các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế năm 2026 của từng nền kinh tế, trong đó Việt Nam được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 7,5-8,2%[5]; In-đô-nê-xi-a từ 5,0-5,2%; Ma-lai-xi-a từ 4,7-4,9%; Phi-li-pin từ 3,3-4,1%; Xin-ga-po từ 4,8-5,0% và Thái Lan từ 1,9-2,4%.

Trong nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Việc hoàn thiện và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã góp phần mở rộng không gian phát triển, tăng cường liên kết vùng, tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời thúc đẩy phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Nhờ đó, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế – xã hội quý III và chín tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục đạt được kết quả tích cực, quan trọng trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Cụ thể như sau:

1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP, GRDP)

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81%[6] của quý II. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.

 Về sử dụng GDP quý III/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.

GDP chín tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất, sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chín tháng năm 2026 tăng 4,02%. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%; ngành thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá nhờ các động lực tăng trưởng được mở rộng, một số dự án có quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chín tháng năm 2026 tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu với tốc độ tăng 11,36%, đóng góp 33,85%; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.

Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống tiếp tục tăng trưởng tích cực; nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước duy trì ở mức cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ chín tháng năm 2026 tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành dịch vụ có mức tăng và đóng góp đáng kể gồm: Ngành vận tải, kho bãi tăng 11,03%, đóng góp 7,21%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 11,99%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%, đóng góp 5,27%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%, đóng góp 2,69%.

Về cơ cấu nền kinh tế, trong chín tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; khu vực dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,33%; 37,47%; 43,05%; 8,15%).

Về sử dụng GDP chín tháng năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.

Về tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP) chín tháng, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, trong đó Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%; tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81%; Ninh Bình 11,31%. Một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp: Sơn La 5,59%; Vĩnh Long 7,32%; Cà Mau 7,37%; Đồng Tháp 7,44% do sự sụt giảm của sản xuất điện và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này. Nhìn chung, tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý III và 9 tháng năm 2026 đạt kết quả tích cực. Năng suất và sản lượng lúa đều tăng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu được duy trì; nuôi trồng thủy sản duy trì tăng trưởng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao.

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo trồng lúa hè thu của cả nước năm nay ước đạt 1.861,6 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước[7]. Trong đó, miền Bắc đạt 158,8 nghìn ha, giảm 14,0 nghìn ha; miền Nam đạt 1.702,8 nghìn ha, giảm 22,8 nghìn ha (vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.219,0 nghìn ha, giảm 20,1 nghìn ha). Năng suất gieo trồng lúa hè thu cả nước ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; sản lượng lúa hè thu ước đạt gần 11,0 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước.

Tính đến ngày 20/9/2026, cả nước đã gieo cấy được 1.337,1 nghìn ha lúa mùa, giảm 45,0 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước[8], trong đó miền Bắc đạt 944,6 nghìn ha, giảm 33,9 nghìn ha; miền Nam đạt 392,5 nghìn ha, giảm 11,1 nghìn ha.

Tính đến ngày 20/9/2026, các địa phương đã gieo sạ được 474,1 nghìn ha lúa thu đông, giảm 130,7 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước.

Cũng đến thời điểm trên, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 803,5 nghìn ha ngô, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước; 68,4 nghìn ha khoai lang, bằng 98,4%; 23,7 nghìn ha đậu tương, bằng 100,4%; 132,7 nghìn ha lạc, bằng 97,6%; 907,7 nghìn ha rau các loại, bằng 100,2%; 93,5 nghìn ha đậu các loại, bằng 96,5%.

Tính chung chín tháng năm 2026, sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp chủ yếu như sau: Dừa đạt gần 2,1 triệu tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước; chè búp đạt 990,1 nghìn tấn, tăng 5,1%; điều đạt 323,9 nghìn tấn, tăng 4,8%; hồ tiêu đạt 273,4 nghìn tấn, tăng 4,8%; cao su đạt 955,1 nghìn tấn, tăng 3,9%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả chủ yếu: Sầu riêng đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước; mít đạt hơn 1,0 triệu tấn, tăng 8,7%; xoài đạt 1,0 triệu tấn, tăng 4,7%; chuối đạt hơn 2,3 triệu tấn, tăng 4,0%.

 Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Chăn nuôi lợn chịu tác động đan xen của các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Giá lợn hơi xuất chuồng có xu hướng tăng[9], tạo điều kiện để người chăn nuôi duy trì sản xuất và tái đàn. Trong khi đó, giá thức ăn chăn nuôi tăng trong chín tháng, làm gia tăng chi phí đầu vào, gây áp lực đến hiệu quả chăn nuôi. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ khả năng thích ứng tương đối tốt với biến động của thị trường, chu kỳ nuôi ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng cơ bản ổn định. Các mô hình chăn nuôi trang trại khép kín và liên kết doanh nghiệp góp phần nâng cao khả năng kiểm soát dịch bệnh.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung chín tháng năm 2026 ước đạt 215,8 nghìn ha, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm trước (Quý III/2026 ước đạt 70,6 nghìn ha, giảm 1,2%); số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 71,3 triệu cây, tăng 1,6% (Quý III/2026 ước đạt 19,9 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm 2025); sản lượng gỗ khai thác đạt 18,9 triệu m3, tăng 5,3% (Quý III/2026 đạt 7,1 triệu m3, tăng 6,0%).

Diện tích rừng bị thiệt hại[10] chín tháng năm 2026 là 1.146,9 ha, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó do cháy rừng là 733,0 ha, tăng 132,9%; do chặt, phá, lấn chiếm rừng trái pháp luật là 413,9 ha, giảm 39,5%.

c) Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản chín tháng năm 2026 ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước (Quý III/2026 đạt 2.851,8 nghìn tấn, tăng 4,3%), bao gồm: Cá đạt 5.410,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1.376,4 nghìn tấn, tăng 7,1%; thủy sản khác đạt 1.103,6 nghìn tấn, tăng 5,8%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng chín tháng năm 2026 ước đạt 4.860,6 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2026 đạt 1.822,9 nghìn tấn, tăng 6,1%), bao gồm: Cá đạt 3.053,7 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 1.279,4 nghìn tấn, tăng 7,6%; thủy sản khác đạt 527,5 nghìn tấn, tăng 10,4%.

Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm 2026 ước đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước (quý III/2026 ước đạt 1.028,9 nghìn tấn tăng 1,4%), bao gồm: Cá đạt 2.357,2 nghìn tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 97,0 nghìn tấn, tăng 1,7%; thủy sản khác đạt 576,1 nghìn tấn, tăng 1,9%.

3. Sản xuất công nghiệp trong quý III/2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng hai con số, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước[11]. Tính chung chín tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay[12], trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%.

Tính chung chín tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,0%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,3%), đóng góp 10,0 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 6,3%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3% (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,6%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 8,0% (cùng kỳ năm 2025 giảm 0,4%), đóng góp 1,3 điểm phần trăm.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chín tháng năm 2026 tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2026 ước tăng 4,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước.

4. Số lượng đăng ký doanh nghiệp trong chín tháng đầu năm 2026 tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Chín, cả nước có gần 11,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 175,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 75,5 nghìn lao động. So với tháng Tám, giảm 4,9% về số doanh nghiệp, giảm 7,2% về vốn đăng ký nhưng tăng 25,0% về số lao động. So với cùng kỳ năm trước, giảm 31,1% về số doanh nghiệp, tăng 6,0% về số vốn đăng ký nhưng giảm 22,2% về số lao động.

Tính chung chín tháng năm 2026, cả nước có gần 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884,0 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký hơn 733,1 nghìn lao động, tăng 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 32,7% về vốn đăng ký nhưng giảm 16,1% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong chín tháng năm 2026 đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong chín tháng năm 2026 đạt hơn 5,0 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có gần 74,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 14,0% so với cùng kỳ năm 2025). Tính chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong chín tháng năm 2026 lên hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Tính chung chín tháng năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 89,8 nghìn doanh nghiệp, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước; 33,5 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 37,0%; hơn 48,7 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 118,8%. Bình quân một tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

 Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 cho thấy: Có 34,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý II/2026; 45,7% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,1% số doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn[13]. Dự kiến quý IV/2026, có 39,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2026; 44,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 16,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

5. Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì xu hướng tăng trưởng khá nhờ sức mua trong nước được cải thiện; vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân; các chương trình kích cầu du lịch, sự kiện, lễ hội được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tiêu dùng, thu hút khách du lịch.

Quý III/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.039,0 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hành khách tăng 15,9% về vận chuyển và tăng 11,5% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 18,1% về vận chuyển và tăng 15,1% về luân chuyển; doanh thu hoạt động viễn thông tăng 8,0%; khách quốc tế đến Việt Nam tăng 13,8%.

Tính chung chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,2%).


Vận tải hành khách chín tháng năm 2026 ước đạt 5.300,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 262,0 tỷ lượt khách.km, tăng 11,9%; trong đó, quý III/2026 ước đạt 1.914,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 91,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%.

Vận tải hàng hóa chín tháng năm 2026 ước đạt 2.580,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 510,1 tỷ tấn.km, tăng 12,8%; trong đó, quý III/2026 ước đạt 941,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 184,3 tỷ tấn.km, tăng 15,1%.

­­­­Doanh thu hoạt động viễn thông chín tháng năm 2026 ước đạt 380,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,86% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,94%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng Chín ước đạt 114,1 triệu thuê bao, giảm 7,9% so với cùng thời điểm năm trước (số thuê bao di động là 111,1 triệu thuê bao, giảm 8,6%). Số thuê bao truy cập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Chín ước đạt 25,0 triệu thuê bao, giảm 0,04% so với cùng thời điểm năm trước.

Khách quốc tế đến Việt Nam[14] chín tháng năm 2026 đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 14,7 triệu lượt người, chiếm 83,2% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 2,7 triệu lượt người, chiếm 15,4% và tăng 29,9%; bằng đường biển đạt 243,4 nghìn lượt người, chiếm 1,4% và tăng 27,7%.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh[15] chín tháng năm 2026 đạt 4,3 triệu lượt người, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm trước.

6. Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay cơ bản ổn định, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác; thị trường bảo hiểm duy trì ổn định, thị trường chứng khoán đạt dấu mốc quan trọng khi chính thức được Tổ chức xây dựng và quản lý chỉ số chứng khoán toàn cầu (FTSE Russell) nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn đầu tư.

Tính đến thời điểm 28/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% (cùng thời điểm năm trước tăng 9,99%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,89% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,37%).

Tổng doanh thu phí bảo hiểm chín tháng năm 2026 ước đạt 175,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%, trong đó: Doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 101,7 nghìn tỷ đồng, giảm 5,2%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 74,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%.

Về thị trường chứng khoán, tính đến ngày 30/9/2026, chỉ số VN-Index đạt 1.768,62 điểm, giảm 0,9% so với cuối năm 2025; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 10.306,94 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3%.

7. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong chín tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 11,6%). Mức tăng trưởng tích cực này phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành vĩ mô, sự quyết liệt trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công, niềm tin của khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài, tạo động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2026. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất chín tháng của các năm từ 2022 đến nay.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành chín tháng năm 2026, ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% (quý III/2026 ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% ) so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 931,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,0% tổng vốn, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,0% tổng vốn, tăng 14,0%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,0% tổng vốn và tăng 14,5%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[16] tính đến ngày 30/9/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn đăng ký cấp mới có 3.108 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký; Vốn đăng ký điều chỉnh có 948 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 14,15 tỷ USD, tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước; Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.335 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,97 tỷ USD, tăng 44,0% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.

8. Thu ngân sách Nhà nước[17] chín tháng năm 2026 tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước tăng 14,5%, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước chín tháng năm 2026 ước đạt 2.187,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán năm và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa ước đạt 1.880,3 nghìn tỷ đồng, bằng 85,5% dự toán năm, chiếm 86,0% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Tính chung chín tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.873,7 nghìn tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ[18] chín tháng năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng khá.

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[19]

Trong tháng Chín, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, cán cân thương mại tháng Chín đã xuất siêu trở lại sau chín tháng liên tiếp nhập siêu, với mức xuất siêu 1,27 tỷ USD. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 24,5%; nhập khẩu tăng 36,7%[20]. Cán cân thương mại hàng hóa chín tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước. Quý III/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 17,0% so với quý II/2026. Tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6,0% so với tháng trước. Quý III/2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 170,33 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,8% so với quý II/2026. Tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Chín xuất siêu 1,27 tỷ USD. Tính chung chín tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD[21] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 14,86 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Quý III/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,71 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 11,82 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,3% so với quý trước.

Tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 26,10 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 13,06 tỷ USD (chiếm 50,0% tổng kim ngạch), tăng 17,4%; dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD (chiếm 29,9%), tăng 29,5%.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ chín tháng năm 2026 ước đạt 34,31 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,39 tỷ USD), tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 16,40 tỷ USD (chiếm 47,8% tổng kim ngạch), tăng 35,1%; dịch vụ du lịch đạt 10,85 tỷ USD (chiếm 31,6%), giảm 2,2%.

Nhập siêu dịch vụ chín tháng năm 2026 là 8,21 tỷ USD.

10. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,62% so với tháng trước chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. So với tháng 12/2025, CPI tháng Chín tăng 4,20%; tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước.

CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với quý III/2025. Bình quân chín tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Trong mức tăng 0,62% của CPI tháng Chín so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng[22] và 02 nhóm có chỉ số giá giảm.[23]

CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với quý III/2025.

Bình quân chín tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản[24] tháng Chín tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân chín tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI bình quân chung[25].

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng Chín tăng 2,38% so với tháng trước; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 4,04% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Chín giảm 0,69% so với tháng trước; gỉảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước; giảm 1,07% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.

c) Chỉ số giá sản xuất

Trong chín tháng năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp do căng thẳng địa chính trị, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, làm gia tăng rủi ro đối với nguồn cung năng lượng và hoạt động vận tải quốc tế. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2026 đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh tác động của biến động giá trên thị trường quốc tế và sự phục hồi của hoạt động sản xuất, tiêu dùng trong nước.

Trong quý III/2026, chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản ước giảm 1,16% so với quý trước nhưng tăng 4,20% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,47% và tăng 4,75%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ giảm 0,13% nhưng tăng 4,14%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất giảm 0,13% nhưng tăng 4,57%.

Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,37%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,02%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%.

II. TÌNH HÌNH XÃ HỘI

1. Thị trường lao động chín tháng năm 2026 khả quan. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân tháng của người lao động đều tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đạt được phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện.

 Trong quý III/2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính là 54,1 triệu người, cao hơn 278,4 nghìn người so với quý trước và cao hơn 709,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 30,4%, cao hơn 0,6 điểm phần trăm và cao hơn 1,1 điểm phần trăm. Tính chung chín tháng năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,8 triệu người, cao hơn 697,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,9%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm.

Lao động có việc làm quý III/2026 là 53,0 triệu người, cao hơn 292,3 nghìn người so với quý trước và cao hơn 706,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, lao động có việc làm là 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động[26] quý III/2026 là 1,31%, thấp hơn 0,31 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn 0,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập bình quân của người lao động quý III/2026 là 9,2 triệu đồng/tháng, cao hơn 215,5 nghìn đồng so với quý II/2026 và cao hơn 823,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động là 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng (tương ứng tăng 9,1%) so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động[27] quý III/2026 là 2,22%. Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,55%; khu vực nông thôn là 1,99%.

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng[28] quý III/2026 là 3,63% (tương ứng khoảng 1,9 triệu người). Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,92%[29].

Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý III/2026 là 4,2 triệu người, cao hơn 400 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là 4,1 triệu người, cao hơn 272,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

2. Trong chín tháng năm 2026, tình hình đời sống dân cư được duy trì ổn định, an sinh xã hội được cải thiện. Chính phủ và địa phương triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các chính sách hỗ trợ đối với người có công, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và các nhóm dân cư gặp khó khăn.

Theo kết quả điều tra lao động và việc làm quý III/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên và không thay đổi so với cùng kỳ năm 2025 là 96,8% (tăng 0,3 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo quý trước và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Tính đến ngày 25/9/2026[30], trong chín tháng đầu năm nay tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng là gần 69,3 nghìn tỷ đồng, trong đó: thăm hỏi, động viên và tặng quà cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 với số tiền gần 32,4 nghìn tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là hơn 3,2 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là hơn 33,3 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất, bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 246,6 tỷ đồng. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội đã cấp phát gần 35,1 triệu thẻ BHYT, sổ, thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.

Cũng trong chín tháng năm nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân gần 18,1 nghìn tấn gạo, trong đó: gần 9,1 nghìn tấn gạo hỗ trợ cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán Bình Ngọ cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 887,4 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho khoảng 59,1 nghìn nhân khẩu.

Đối với công tác tri ân người có công: “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027) đang được các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương quyết liệt triển khai.

Theo số liệu của Chiến dịch 500 ngày đêm[31] tính đến ngày 23/9/2026, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tiếp tục đạt nhiều kết quả: Có 2.803 hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập, trong đó có 1.773 hài cốt liệt sĩ trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 856 hài cốt tại Cam-pu-chia; có 199.908 mộ liệt sĩ được lấy mẫu hài cốt phục vụ giám định, xác định danh tính (đạt 94,78% tiến độ), trong đó có 139.016 mộ đủ điều kiện lấy mẫu (đạt 69,35%), 60.892 mộ chưa đủ điều kiện lấy mẫu; có 99.443 mẫu hài cốt liệt sĩ của các địa phương đã được tiếp nhận, lưu trữ và bảo quản. Cùng với công tác tìm kiếm, quy tập, các địa phương và lực lượng chức năng đã tổ chức 18 lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ, đón 893 hài cốt liệt sĩ về an táng theo quy định.

3. Giáo dục và đào tạo

Về kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT): Toàn quốc có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi, tăng 61.642 thí sinh so với năm 2025 (trong đó có 1.213.695 thí sinh dự thi, đạt tỷ lệ 99,18%), được tổ chức tại 2.478 điểm thi với 54.409 phòng thi; có 74 thí sinh bị đình chỉ thi, trong đó 69 trường hợp mang điện thoại vào phòng thi và 05 trường hợp sử dụng tài liệu trong quá trình thi[32].

Về tình hình khai giảng năm học mới 2026-2027, sáng ngày 05/9/2026, các cơ sở giáo dục trên cả nước đồng loạt tổ chức lễ khai giảng năm học mới theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Lễ khai giảng được kết nối từ điểm cầu trung tâm tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Khương, tỉnh Lào Cai, tới các tỉnh, thành phố trong cả nước. Năm học 2026-2027, cả nước có gần 27 triệu học sinh, sinh viên bước vào năm học mới[33]. Chủ đề năm học 2026-2026 là “Đổi mới tư duy – Chuyển biến mạnh mẽ – Kết quả thực chất”.

Về giáo dục phổ thông: Cả nước có 25.365 trường[34]; 18,75 triệu học sinh[35] và 843.966 giáo viên trực tiếp giảng dạy[36].

Bên cạnh đó, giáo dục phổ thông còn có 3.084 trường liên cấp[37], chiếm khoảng 12,2% mạng lưới trường phổ thông, phần lớn thuộc khu vực công lập (chiếm 88,3%).

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính chung chín tháng năm 2026, cả nước có hơn 94,2 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (14 người tử vong); 74,2 nghìn người mắc bệnh tay chân miệng (11 người tử vong); 5.143 người mắc sốt phát ban nghi sởi (không có người tử vong); 242 người mắc viêm não vi rút (01 người tử vong); 34 người mắc viêm màng não do não mô cầu (05 người tử vong) và 54 người tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/9/2026 là gần 257,8 nghìn người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 120,4 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, tính chung chín tháng năm nay, cả nước xảy ra 62 vụ ngộ độc thực phẩm làm 3.137 người bị ngộ độc (9 người tử vong).

5. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa luôn được quan tâm; thể thao phong trào được duy trì, thể thao thành tích cao có những thành tích đáng ghi nhận.

Về hoạt động văn hóa, trong tháng Chín và quý III/2026, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tiếp tục diễn ra sôi động góp phần quảng bá giá trị văn hóa, di sản và sản phẩm du lịch của các địa phương. Một số hoạt động nổi bật gồm: Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 diễn ra tại Hà Nội từ ngày 11-20/9 với chủ đề “Dòng chảy di sản – Heritage Flow”; khởi động Ngày hội Sáng tạo nội dung số Việt Nam – Vietnam iContent 2026 tại Hà Nội vào ngày 18/9; tuần phim “Hiền tài và Hào khí Thăng Long” diễn ra tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia Hà Nội từ ngày 23-28/9; cùng các hoạt động văn hóa, lễ hội Trung thu tại nhiều địa phương, tiêu biểu như: Lễ hội “Trung thu Thành cổ – Sơn Tây xứ Đoài” 2026 diễn ra tại Hà Nội từ ngày 29/8 đến 26/9; Lễ hội Thành Tuyên diễn ra tại Tuyên Quang từ ngày 19-25/9; lễ hội mùa Thu Festival Huế diễn ra tại thành phố Huế từ tháng 08-09/2026 và Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc mùa Thu năm 2026 diễn ra tại Hải Phòng từ ngày 26/9-04/10.

Về thể thao thành tích cao, trong tháng Chín, Đoàn Thể thao Việt Nam tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 20 (ASIAD 20) tại Nhật Bản với 498 thành viên, trong đó có 348 vận động viên. Tính đến 8h00 ngày 02/10/2026, Đoàn Thể thao Việt Nam giành 22 huy chương, gồm 02 Huy chương Vàng (Karate, nội dung Kata đồng đội nữ và cầu mây đôi nữ), 01 Huy chương Bạc Wushu (nội dung Tán thủ) và 19 Huy chương Đồng.

6. Số vụ tai nạn giao thông[38] chín tháng năm nay giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước

Tính chung chín tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 11.549 vụ tai nạn giao thông, làm 7.166 người chết và 6.720 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,8%, số người chết giảm 9,4% và số người bị thương giảm 26,3%. Bình quân 1 ngày trong chín tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm 26 người chết và 25 người bị thương.

7. Thiên tai, ô nhiễm môi trường và cháy, nổ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của người dân ở một số địa phương

Thiệt hại do thiên tai[39]: Trong chín tháng năm nay, thiên tai làm 80 người chết và mất tích, 96 người bị thương; hơn 81,0 nghìn ha lúa và gần 17,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 2.797 con gia súc và 295,7 nghìn con gia cầm bị chết; 10,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong chín tháng năm nay ước tính 4.076,5 tỷ đồng, giảm 77,4% so với cùng kỳ năm 2025.

Bảo vệ môi trường[40]: Trong chín tháng năm 2026 các cơ quan chức năng đã phát hiện 14.055 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 11.182 vụ với tổng số tiền phạt hơn 206,6 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước.

Cháy nổ[41]: Cũng trong chín tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.255 vụ cháy, nổ, làm 75 người chết và 105 người bị thương, thiệt hại ước tính 673,0 tỷ đồng, gấp gần 2,6 lần cùng kỳ năm trước./.

[1] OECD (Tháng 9/2026), “Báo cáo sơ bộ Triển vọng Kinh tế OECD tháng 9/2026: Vượt qua những cú sốc liên tiếp”,  https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-outlook-interim-report-september-2026_f751d02b-en.html, truy cập ngày 25/9/2026.

[2] UN (Tháng 9/2026), “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới cập nhật tháng 9/2026”, https://desapublications.un.org/publications/world-economic-situation-and-prospects-2026-september-update, truy cập ngày 25/9/2026.

[3] IMF (Tháng 7/2026), “Nền kinh tế toàn cầu trong dòng chảy giao thoa của chiến tranh và công nghệ”, https://www.imf.org/en/publications/weo/issues/2026/07/08/world-economic-outlook-update-july-2026, truy cập ngày 25/9/2026.

[4] AMRO (Tháng 9/2026), “Báo cáo Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3: Bản cập nhật sơ bộ tháng 7/2026”, https://www.amro-asia.org/quarterly-update-of-the-asean3-regional-economic-outlook-areo-july-2026, truy cập ngày 25/9/2026.

[5] AMRO, ADB và IMF dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2026 lần lượt đạt 7,5%; 7,8% và 8,2%.

[6] So với số ước tính, giá trị tăng thêm sơ bộ quý II/2026 của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,82 điểm phần trăm, tính chung sáu tháng tăng 0,65 điểm phần trăm, đây là khu vực có mức thay đổi lớn nhất và đóng góp chủ yếu vào thay đổi GDP. Mức thay đổi chủ yếu do cập nhật đầy đủ hơn kết quả sản xuất thực tế, trong đó ngành xây dựng tăng đáng kể nhờ bổ sung khối lượng thi công thực tế từ các dự án hạ tầng và bất động sản; khai khoáng tăng do cập nhật sản lượng khai thác; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do bổ sung kết quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI quy mô lớn. Một số ngành như sản xuất xe có động cơ, cung cấp nước và xử lý rác thải, sản xuất và phân phối điện thay đổi giảm. Đối với khu vực dịch vụ, giá trị tăng thêm sơ bộ quý II tăng 0,21 điểm phần trăm, làm mức tăng 6 tháng tăng 0,16 điểm phần trăm. Mức thay đổi chủ yếu do cập nhật kết quả thực tế cao hơn số ước tính ở các ngành vận tải, tài chính – ngân hàng, lưu trú và ăn uống, bất động sản và một số ngành dịch vụ; ở chiều ngược lại, thông tin và truyền thông, hành chính và dịch vụ hỗ trợ, bán buôn và bán lẻ thay đổi giảm.

[7] Diện tích lúa hè thu giảm do chuyển đổi 10,9 nghìn ha sang trồng cây hằng năm khác, cây lâu năm và thủy sản; chuyển sang gieo cấy vụ khác do chậm tiến độ 4,9 nghìn ha; chuyển sang mục đích phi nông nghiệp 3,3 nghìn ha; ảnh hưởng của thời tiết 3,9 nghìn ha và bỏ hoang không gieo cấy 13,8 nghìn ha.

[8] Diện tích lúa mùa giảm chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa  hiệu quả thấp sang trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, phục vụ xây dựng công trình công cộng, khu công nghiệp. Ngoài ra, một số diện tích vụ mùa không gieo cấy được do điều kiện sản xuất khó khăn, ảnh hưởng của thời tiết và nguồn nước.

[9] Chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi lợn bình quân chín tháng năm 2026 tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý III tăng 0,7%.

[10] Số liệu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 15/9/2026.

[11] Trong đó IIP sơ bộ tháng Bảy tăng 15,4%; sơ bộ tháng Tám tăng 13,5%; ước tính tháng Chín tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước.

[12] Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng các năm 2019-2026 so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng: 9,6%; 2,5%; 3,9%; 9,3%; 0,2%; 8,4%; 9,0%; 12,3%.

[13] Chỉ số tương ứng của quý II/2026: Có 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý I/2026; 43,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

[14] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Quản lý xuất nhập cảnh,
Bộ Công an.

[15] Là công dân Việt Nam ra khỏi lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam.

[16] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 02/10/2026.

[17] Số liệu nhận từ Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ Tài chính, số liệu cập nhật đến ngày 30/9/2026.

[18] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).

[19] Số liệu sơ bộ trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Chín do Cục Hải quan cung cấp ngày 01/10/2026.

[20] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2025 đạt 680,92 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 348,90 tỷ USD, tăng 16,0%; nhập khẩu đạt 332,03 tỷ USD, tăng 18,8%.

[21] Một số mặt hàng nhập siêu cao: Điện tử, máy tính và linh kiện 65,28 tỷ USD; xăng dầu 8,26 tỷ USD; chất dẻo 7,67 tỷ USD; than các loại 6,80 tỷ USD; dầu thô 5,97 tỷ USD; sản phẩm hóa chất 4,47 tỷ USD; hóa chất 4,35 tỷ USD.

[22] Gồm: (i) Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép; (ii) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; (iii) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác; (iv) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; (v) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; (vi) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; (vii) Nhóm đồ uống và thuốc lá; (viii) Nhóm giáo dục; (ix) Nhóm giao thông.

[23] Gồm Nhóm thông tin và truyền thông và nhóm chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.

[24] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

[25] Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, giá dịch vụ y tế biến đọng làm  CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

[26] Người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là những người làm việc thực tế dưới 35 giờ một tuần, mong muốn và sẵn sàng làm thêm giờ.

[27] Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên mà trong thời kỳ tham chiếu có đầy đủ cả 03 yếu tố: Hiện không làm việc, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc. Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động.

[28] Lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đủ công việc (hay còn gọi là lao động không sử dụng hết tiềm năng) bao gồm những người thất nghiệp, thiếu việc làm và một nhóm ngoài lực lượng lao động sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc hoặc có tìm việc nhưng chưa sẵn sàng làm việc ngay. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là tỷ số giữa lao động có nhu cầu làm việc nhưng không được đáp ứng đầy đủ công việc so với tổng số lao động có nhu cầu làm việc trong nền kinh tế.

[29] Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam thường dao động ở mức 4,0%. Tỷ lệ này đạt mức cao kỷ lục là 10,4% vào quý III/2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

[30] Theo báo cáo của Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp, cập nhật đến ngày 25/9/2026.

[31]https://baochinhphu.vn/chien-dich-500-ngay-dem-tim-kiem-quy-tap-duoc-2803-hai-cot-liet-si-10226092315331124.htm

[32]https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/ket-thuc-coi-thi-ky-thi-tot-nghiep-thpt-nam-2026-an-toan-nghiem-tuc-trong-boi-canh-nhieu-thach-thuc-moi-273.html

[33]https://baochinhphu.vn/thu-tuong-nam-hoc-2026-2027-se-mo-ra-giai-doan-phat-trien-moi-cua-giao-duc-viet-nam-102260905095614179.htm

[34] Trong đó: có 24.546 (chiếm 96,8%) trường công lập và 819 trường ngoài công lập (chiếm 3,2%). Theo cấp học: tiểu học có 11.706 trường; trung học cơ sở có 8.186 trường và trung học phổ thông có 2.389 trường

[35] Trong đó: tiểu học có 8,67 triệu học sinh, trung học cơ sở có 6,99 triệu học sinh và trung học phổ thông có 3,09 triệu học sinh.

[36] Gồm: 393.639 giáo viên tiểu học, 298.486 giáo viên trung học cơ sở và 151.841 giáo viên trung học phổ thông.

[37] Gồm: 2.443 trường tiểu học và trung học cơ sở, 397 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 244 trường ba cấp).

[38] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 23/9/2026.

[39] Tổng hợp Báo cáo từ 34 Sở Nông nghiệp và Môi trường, kỳ báo cáo từ ngày 22/8/2026-23/9/2026.

[40] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được các
Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp.

[41] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/9/2026.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm