Trong chín tháng năm 2026, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, tình hình kinh tế – xã hội tháng Chín và chín tháng năm 2026 của nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, các ngành, lĩnh vực đạt được nhiều kết quả quan trọng, tháng sau tốt hơn tháng trước, quý sau tốt hơn quý trước, tạo đà tăng trưởng cho những tháng cuối của năm 2026. Một số nét chính về kinh tế – xã hội tháng Chín và chín tháng năm 2026 của nước ta như sau:

  1. Tăng trưởng kinh tế
  2. a) Kết quả đạt được

Trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế chín tháng năm 2026 của nước ta đạt mức tăng trưởng khá, quý sau cao hơn quý trước nhờ hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội và điều hành, quản lý vĩ mô của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, ngành và địa phương. Tốc độ tăng GDP chín tháng năm 2026 ước đạt 9,01% so với cùng kỳ năm trước (tăng trưởng sơ bộ quý I đạt 8,15%; quý II đạt 8,81%; quý III đạt 9,95%) cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm 2025 (7,80%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Về tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (GRDP) chín tháng năm 2026, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, trong đó Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%; tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81%; Ninh Bình 11,31%. Tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Trong số 22 địa phương trên cả nước chưa đạt tăng trưởng GRDP chín tháng năm 2026 từ 10% trở lên, có một số địa phương đạt mức tăng dưới 8%. Một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp: Sơn La 5,59%; Vĩnh Long 7,32%; Cà Mau 7,37%; Đồng Tháp 7,44% do sự sụt giảm của sản xuất điện và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này. Đáng lưu ý, hai cực tăng trưởng kinh tế lớn của cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt đạt mức tăng 8,85% và 9,06%, qua đó tạo áp lực nhất định đối với mục tiêu tăng trưởng trên 10% năm 2026 của cả nước.

  1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

        Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chín tháng năm 2026 đạt nhiều kết quả tích cực. Năng suất và sản lượng lúa tăng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng cây lâu năm tăng khá; chăn nuôi lợn và gia cầm tăng trưởng ổn định. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu được duy trì; nuôi trồng thủy sản duy trì tăng trưởng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao.

  1. Kết quả đạt được

Năng suất lúa hè thu năm 2026 ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước; sản lượng đạt gần 11,0 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn. Sản lượng thu hoạch cây lâu năm chín tháng năm 2026 tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước nhờ cơ cấu lại cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật[1].

Giá lợn hơi có xu hướng tăng[2], khuyến khích người nuôi tái đàn. Tổng đàn lợn tại thời điểm cuối tháng Chín ước tăng 5,4% so với cùng thời điểm năm trước; đàn gia cầm tăng 3,1%, trong đó đàn gà tăng 3,5%. Tính chung chín tháng năm 2026, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 4,28 triệu tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi đạt 2,02 triệu tấn, tăng 5,3%.

Số cây lâm nghiệp trồng phân tán chín tháng năm 2026 ước đạt 71,3 triệu cây, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 18,9 triệu m3, tăng 5,3%.

Sản lượng thủy sản chín tháng năm 2026 ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng đạt 4.860,6 nghìn tấn, tăng 5,9%, trong đó cá tra đạt 1.431,6 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm thẻ chân trắng đạt 940,8 nghìn tấn, tăng 8,3%. Sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9%.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Tính đến ngày 20/9/2026, diện tích gieo cấy lúa hè thu giảm 36,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước; diện tích gieo cấy lúa mùa giảm 45,0 nghìn ha do chuyển đổi một phần diện tích sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc thu hồi đất phục vụ công trình công cộng; diện tích gieo cấy lúa thu đông giảm 130,7 nghìn ha do xuống giống muộn để tránh mưa bão và ảnh hưởng của triều cường. Ngoài ra, diện tích gieo trồng một số cây hằng năm giảm do điều kiện thời tiết không thuận lợi và hiệu quả kinh tế thấp so với các cây trồng khác[3]. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục giảm do cơ giới hóa nông nghiệp, diện tích chăn thả thu hẹp, chi phí đầu tư lớn và chu kỳ nuôi dài[4].

  1. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp duy trì xu hướng tăng trưởng ở mức hai con số. Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng năm 2026 ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của chín tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua[5].

  1. a) Kết quả đạt được

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước, tính chung chín tháng năm 2026 tăng 12,3%; trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số IIP chín tháng năm nay tăng ở 34 địa phương trên cả nước, trong đó 15 địa phương tăng trên 13,0%. Một số địa phương có IIP chín tháng tăng cao: Hà Tĩnh 40,2%; Ninh Bình tăng 25,0%; Thái Nguyên tăng 23,2%; Phú Thọ và Nghệ An cùng tăng 21,5%; Bắc Ninh tăng 20,2%; Quảng Ninh tăng 18,6% … Với kết quả này, ngành Công nghiệp cần phải nỗ lực hơn nữa để chỉ số IIP có thể đạt mục tiêu tăng từ 12-14% đặt ra trong Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) chín tháng năm 2026 tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, chỉ cao hơn 0,3 điểm phần trăm so với mức tối thiểu của mục tiêu cần đạt (12-14%). Đáng lưu ý, 18 địa phương có IIP tăng dưới 13,0%, trong đó một số trung tâm công nghiệp lớn có mức tăng thấp hơn mục tiêu chung như Thành phố Hồ Chí Minh (tăng 10,9%) và Hà Nội (tăng 9,0%).

  1. Thương mại, dịch vụ

Hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì xu hướng tăng trưởng khá nhờ sức mua trong nước được cải thiện; vận tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân; các chương trình kích cầu du lịch, sự kiện, lễ hội được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tiêu dùng, thu hút khách du lịch.

  1. Kết quả đạt được

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2026 ước đạt 2.039,0 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hành khách tăng 15,9% và luân chuyển hành khách tăng 11,5%; vận chuyển hàng hóa tăng 18,1% và luân chuyển hàng hóa tăng 15,1%. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8% (cùng kỳ năm trước tăng 7,2%); vận chuyển hành khách tăng 17,4% và luân chuyển tăng 11,9%; vận chuyển hàng hóa tăng 15,8% và luân chuyển tăng 12,8%.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2026 sơ bộ đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 24,5%; nhập khẩu tăng 36,7%. Đặc biệt, cán cân thương mại tháng Chín đã xuất siêu trở lại sau chín tháng liên tiếp nhập siêu, với mức xuất siêu 1,27 tỷ USD. Với kết quả đạt được trong chín tháng qua, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2026 có khả năng vượt mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 01 (15-16%).

Khách quốc tế đến Việt Nam trong chín tháng năm 2026 đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta đạt mức cao nhất của chín tháng trong nhiều năm qua.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng năm 2026 duy trì tăng trưởng 2 con số nhưng chỉ cao hơn mục tiêu tối thiểu đặt ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP. Trong đó, bán lẻ hàng hóa tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của dịch vụ lưu trú và ăn uống 16,7%. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào tăng cao đã ảnh hưởng đến mức tăng thực của chỉ tiêu này, do đó, ngành Dịch vụ cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2026 có thể đạt mục tiêu tăng 13-15% đặt ra trong Nghị quyết số 01/2026/NQ-CP.

Cán cân thương mại hàng hóa chín tháng năm 2026 sơ bộ nhập siêu 19,42 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD); trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 14,86 tỷ USD, nguy cơ cán cân thương mại hàng hóa năm 2026 nhập siêu ngày càng rõ nét và tạo áp lực lớn lên thị trường ngoại hối, tỷ giá.

Khách quốc tế đến Việt Nam chín tháng năm 2026 đạt khoảng 71% mục tiêu (đón 25 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2026 theo Nghị quyết số 01/NQ-CP). Để đạt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách trong năm 2026, bình quân mỗi tháng trong 3 tháng cuối năm, khách quốc tế đến nước ta phải đạt ít nhất 2,4 triệu lượt người. Áp lực trong các tháng còn lại là rất lớn, đòi hỏi ngành Du lịch cần có các giải pháp bứt phá, đồng bộ để bảo đảm hoàn thành mục tiêu đề ra.

  1. Vốn đầu tư

Thu hút đầu tư chín tháng năm 2026 tiếp tục khởi sắc, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế được cải thiện và niềm tin của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam tiếp tục được củng cố.

  1. a) Kết quả đạt được

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội chín tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó quý I đạt 748,9 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6%; quý II đạt 1.069,5 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6%; quý III đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7%. Tính đến ngày 30/9/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4 % so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn đăng ký mới đạt 29,24 tỷ USD, gấp 2,4 lần.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước chín tháng năm 2026 tăng 19,0% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 29,2% của cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ vốn thực hiện mới đạt gần 60% kế hoạch năm, cho thấy áp lực thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là rất lớn với khoảng 40% kế hoạch vốn phải thực hiện trong ba tháng cuối năm 2026.

  1. Doanh nghiệp

Hoạt động đăng ký doanh nghiệp chín tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực, phản ánh kỳ vọng của doanh nghiệp đối với triển vọng sản xuất, kinh doanh ngày càng cải thiện.

  1. a) Kết quả đạt được

Trong chín tháng năm 2026, cả nước có gần 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 1.884,0 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% về số doanh nghiệp và tăng 32,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong chín tháng năm 2026 đạt 12,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm 2025; tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong chín tháng năm 2026 đạt hơn 5,0 triệu tỷ đồng, tăng 6,1%.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Trong chín tháng năm 2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm 14,0%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tăng mạnh 118,8%, cho thấy quá trình sàng lọc và tái cơ cấu doanh nghiệp tiếp tục diễn ra mạnh mẽ.

  1. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước; bình quân chín tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP (khoảng 4,5%). Đây là các mức tăng cao nhất của tháng Chín và bình quân chín tháng trong nhiều năm qua[6], cho thấy áp lực điều hành giá những tháng cuối năm 2026 là rất lớn.

Chi phí sản xuất đầu vào tăng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chín tháng năm 2026 tăng 4,37% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nguyên, nhiên liệu vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%. Đây là mức tăng cao nhất của chín tháng trong giai đoạn 2023-2026[7].

  1. Một số tình hình xã hội

Thị trường lao động tiếp tục chuyển biến tích cực; việc làm, thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với cùng kỳ năm trước; công tác bảo đảm an sinh xã hội được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ, kịp thời và hiệu quả.

  1. a) Kết quả đạt được

Trong chín tháng năm 2026, lao động có việc làm đạt hơn 52,7 triệu người, tăng 683,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,06 triệu đồng/tháng, tăng 752,8 nghìn đồng; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,9%, tăng 0,8 điểm phần trăm.

Tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ đời sống Nhân dân được các cấp, các ngành tăng cường thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân khoảng 18,1 nghìn tấn gạo. Tình hình giao thông có nhiều cải thiện khi giảm cả về số vụ tai nạn giao thông, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm trước.

  1. b) Vấn đề cần lưu ý, nguyên nhân

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên có xu hướng tăng. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên chín tháng năm 2026 là 8,87%, tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất của chín tháng các năm trong giai đoạn 2020-2026[8], cho thấy việc tạo việc làm và hấp thụ lao động trẻ vẫn còn khó khăn, nhất là trong bối cảnh yêu cầu về kỹ năng và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm và cháy, nổ diễn biến phức tạp. Tính chung chín tháng năm 2026, cả nước có hơn 94,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (14 trường hợp tử vong); 74,2 nghìn người mắc tay chân miệng (11 trường hợp tử vong); 5,1 nghìn người sốt phát ban nghi sởi; 54 người tử vong do bệnh dại; 62 vụ ngộ độc thực phẩm với 3,1 nghìn người bị ngộ độc (09 người tử vong); 2.255 vụ cháy, nổ, làm 75 người chết và 105 người bị thương, thiệt hại ước tính 673,0 tỷ đồng, gấp gần 2,6 lần cùng kỳ năm trước.

  1. Giải pháp

Trong ba tháng cuối năm, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều bất ổn; tình hình kinh tế, chính trị, quân sự diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; dịch bệnh thiên tai có thể diễn biến bất thường. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:

Một là, kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, giá cả và ổn định thị trường; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới nhất là xung đột tại Trung Đông, xung đột Nga – U-crai-na, biến động giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá…; kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế cả nước và địa phương, kịch bản lạm phát. Điều hành giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa, tiền tệ; định hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo.

Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, phát triển chuỗi giá trị bền vững. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.

Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục, mặt bằng và các điều kiện sản xuất, kinh doanh để đưa nhanh các năng lực sản xuất mới vào hoạt động; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, ưu tiên các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lõi; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.

Bốn là, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế – xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải, hạ tầng chiến lược, các công trình có sức lan tỏa cao, nhất là đường sắt, đường bộ, hàng không, năng lượng, nông nghiệp, hạ tầng số quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.Năm là, hỗ trợ và nâng cao năng lực xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển dịch vụ logistics, giảm chi phí vận chuyển; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản; kiểm soát nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được.

Sáu là, tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Bảy là, tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành dịch vụ, khai thác hiệu quả tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế. Tăng cường xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa và đổi mới sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường khách quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kết nối giao thông và hàng không, tạo thuận lợi cho khách du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu đón khách quốc tế năm 2026.

Tám là, tăng cường phòng, chống dịch bệnh, chủ động ứng phó thiên tai, mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn; bảo đảm an toàn sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo ổn định và từng bước nâng cao đời sống thực chất của Nhân dân./.

 

CỤC THỐNG KÊ

 [1] Sản lượng hồ tiêu chín tháng năm 2026 ước đạt 273,4 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; cao su đạt 955,1 nghìn tấn, tăng 3,9%; chè búp đạt 990,1 nghìn tấn, tăng 5,1%; điều đạt 323,9 nghìn tấn, tăng 4,8%; dừa đạt gần 2,1 triệu tấn, tăng 6,6%. Một số cây ăn quả có sản lượng tăng khá: Chuối đạt hơn 2,3 triệu tấn, tăng 4,0%; sầu riêng đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 13,8%; mít đạt hơn 1,0 triệu tấn, tăng 8,7%; xoài đạt 1,0 triệu tấn, tăng 4,7%.

[2] Chỉ số giá sản phẩm chăn nuôi lợn bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý III tăng 0,7%.

[3] Tính đến ngày 20/9/2026, diện tích gieo trồng rau, đậu các loại giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; ngô giảm 0,4%; khoai lang giảm 1,6%; lạc giảm 2,4%.

[4] Tổng đàn trâu cả nước cuối tháng Chín ước giảm 6,4%; đàn bò giảm 1,6% so với cùng thời điểm năm trước.

[5] Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng các năm 2019-2026 so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng: 9,6%; 2,5%; 3,9%; 9,3%; 0,2%; 8,4%; 9,0%; 12,3%.

[6] Tốc độ tăng CPI tháng Chín so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2026 lần lượt là: 3,34%; 3,40%; 3,98%; 1,98%; 2,98%; 2,06%; 3,94%; 3,66%; 2,63%; 3,38%; 5,08%. Tốc độ tăng CPI bình quân chín tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2026 lần lượt là: 2,10%; 3,79%; 3,57%; 2,50%; 3,85%; 1,82%; 2,73%; 3,16%; 3,88%; 3,27%; 4,52%.

[7] Tốc độ tăng/giảm chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chín tháng so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: -0,99%; 0,67%; 2,23%; 4,37%. Tốc độ tăng/giảm chỉ số giá sản xuất nguyên, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất chín tháng so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2023-2026 lần lượt là: -0,88%; 2,65%; 4,09%; 5,12%.

[8] Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên chín tháng các năm 2020-2026 lần lượt là: 7,77%; 7,90%; 7,86%; 7,63%; 7,91%; 8,37%; 8,87%.


Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước

Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)

Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia

Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành

Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)

Thống kê nơi vùng biên

18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)

Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế

Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)

Chuyện những người lính thống kê hành quân vào chiến khu R

Đầu những năm 70 thế kỷ trước, khi chiến trường miền Nam còn rực lửa thì nhiều người lính - cán bộ thống kê đã nhận lệnh đi B, lên đường vào chiến khu R (Tây Ninh) để vừa chiến đấu, vừa chuẩn bị tiếp quản miền Nam sau giải phóng. (21/04/2026)

Xem thêm