1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
a) Nông nghiệp
Lúa mùa: Vụ mùa năm 2026 cả nước gieo cấy được 1.369,9 nghìn ha, giảm 40,4 nghìn ha so với vụ mùa năm trước. Trong đó các địa phương miền Bắc đạt 945,3 nghìn ha, giảm 32,7 nghìn ha; các địa phương miền Nam đạt 424,6 nghìn ha, giảm 7,7 nghìn ha. Tính đến ngày 20/10/2026, cả nước thu hoạch được 955,2 nghìn ha lúa mùa, chiếm 69,7% diện tích gieo cấy và bằng 102,9% cùng kỳ năm trước. Trong đó, miền Bắc đạt 673,2 nghìn ha, chiếm 71,2% và bằng 105,6%; miền Nam đạt 282,0 nghìn ha, chiếm 66,4% và bằng 97,0%.
Lúa thu đông: Tính đến ngày 20/10/2026, cả nước gieo cấy được 696,2 nghìn ha lúa thu đông, bằng 90,9% cùng kỳ năm trước.
Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng một số cây tăng so với cùng kỳ năm trước nhờ thời tiết thuận lợi.
Chăn nuôi: Chăn nuôi lợn đạt kết quả tích cực; chăn nuôi gia cầm tăng trưởng khá; chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, chi phí đầu tư lớn, thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế thấp.
b) Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng Mười ước đạt 34,0 nghìn ha, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 4,8 triệu cây, tăng 0,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.727,8 nghìn m3, tăng 10,2%; diện tích rừng bị thiệt hại là là 95,3 ha, gấp 2,3 lần. Tính chung mười tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 249,8 nghìn ha, giảm 2,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 76,1 triệu cây, tăng 1,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 21.664,7 nghìn m3, tăng 6,1%; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.250,8 ha, tăng 20,2%.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản tháng Mười ước đạt 959,6 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 8.850,5 nghìn tấn, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 5.515,7 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 3.334,8 nghìn tấn, tăng 0,9%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng Mười tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của mười tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua.
Chỉ số sản xuất công nghiệp mười tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 33 địa phương; riêng Sơn La giảm 5,0%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2026 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm trước.
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng Mười, cả nước có gần 12,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 8,7% so với tháng trước nhưng giảm 29,9% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 11,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với tháng trước nhưng giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2025; có 4.726 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 28,7% nhưng giảm 22,1%; có 8.032 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,3% nhưng tăng 18,6%; có 7.513 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 5,1% nhưng tăng 65,6%.
Tính chung mười tháng năm 2026, cả nước có hơn 243,6 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 24,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 182,0 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong mười tháng năm 2026 đạt gần 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2025.
4. Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tháng Mười đạt 121,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, bằng 69,0% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 64,3% và tăng 30,7%).
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[1] tính đến ngày 31/10/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74,0% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam mười tháng năm 2026 ước đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong mười tháng năm 2026 có 132 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,87 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước; có 34 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,54 tỷ USD, gấp 4,3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 3,41 tỷ USD, gấp 3,1 lần so với cùng kỳ năm trước.
5. Thu, chi ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước tháng Mười ước đạt 251,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách nhà nước mười tháng năm 2026 ước đạt 2.438,9 nghìn tỷ đồng, bằng 96,4% dự toán năm và tăng 11,0% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách nhà nước tháng Mười ước đạt gần 235,0 nghìn tỷ đồng. Tính chung mười tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước ước đạt 2.108,7 nghìn tỷ đồng, bằng 66,8% dự toán năm và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Mười ước đạt 695,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 6.618,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,7% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,4%).
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[2]
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[3] tháng Mười sơ bộ đạt 122,03 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 47,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười xuất siêu 7,31 tỷ USD, sau khi xuất siêu 1,30 tỷ USD trong tháng Chín, đây là tháng thứ hai liên tiếp ghi nhận xuất siêu trong năm 2026.
Tính chung mười tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay, cho thấy quy mô hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục được mở rộng mạnh mẽ. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng 27,5%; nhập khẩu tăng 37,4%[4]. Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 12,07 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa tháng Mười đạt 64,67 tỷ USD, tăng 8,7% so với tháng trước và tăng 51,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 499,24 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2%, chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33,0%, chiếm 81,2%.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu mười tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 452,74 tỷ USD, chiếm 90,7%.
Nhập khẩu hàng hóa đạt 57,36 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 43,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 511,31 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 131,76 tỷ USD, tăng 23,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 379,55 tỷ USD, tăng 43,2%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu mười tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa mười tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 159,40 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 212,46 tỷ USD.
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Mười xuất siêu 7,31 tỷ USD. Tính chung mười tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 12,07 tỷ USD[5] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,49 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 37,83 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,76 tỷ USD.
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười tăng 0,20% so với tháng trước; tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mười tháng năm 2026, CPI tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.
Chỉ số giá vàng tháng Mười giảm 2,85% so với tháng trước; giảm 2,94% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,77% so với tháng 12/2025. Bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười giảm 0,26% so với tháng trước; giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 1,32% so với tháng 12/2025. Bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước.
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 646,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,9% so với tháng trước và 29,6 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 0,3%. Tính chung mười tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 5.917,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước và 290,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 11,7%.
Vận tải hàng hóa tháng Mười ước đạt 313,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,0% so với tháng trước và 64,2 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 3,9%. Tính chung mười tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.882,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước và 573,4 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 13,1%.
đ) Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng Mười[6] đạt 1,85 triệu lượt người, tăng 4,9% so với tháng trước, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026 đạt 19,5 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên là nhờ tình hình an ninh, an toàn, trật tự xã hội được đảm bảo; chính sách thị thực thuận lợi, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý. Bên cạnh đó, hai đêm diễn của nhóm nhạc Big Bang tại Hà Nội trong tháng Mười đã góp phần thu hút khách quốc tế đến Việt Nam.
7. Một số tình hình xã hội
Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tình hình đời sống dân cư trong tháng Mười nhìn chung duy trì ổn định. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm trước là 96,8%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,2%.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay (đến ngày 25/10/2026), Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 18,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 887,4 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 59,1 nghìn nhân khẩu.
Tri ân người có công: Tính đến ngày 26/10/2026, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã tìm kiếm, quy tập được 3.895 hài cốt liệt sĩ, trong đó 2.583 hài cốt được tìm kiếm, quy tập trong nước, 242 hài cốt tại Lào và 1.070 hài cốt tại Cam-pu-chia.
Y tế: Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 123,3 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (19 người tử vong ); hơn 98,9 nghìn người mắc tay chân miệng (11 người tử vong); 5.284 người sốt phát ban nghi sởi; 292 trường hợp viêm não vi rút (01 người tử vong); 38 người viêm màng não do não mô cầu (05 người tử vong); 57 người tử vong do bệnh dại.
Hoạt động văn hóa, thể thao: Trong tháng Mười, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, lễ hội, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được tổ chức tại nhiều địa phương, gắn với các hoạt động kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2026), 50 năm ngày Việt Nam gia nhập UNESCO, hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) năm 2026. Thể thao Việt Nam tiếp tục ghi nhận những kết quả tích cực tại các đấu trường quốc tế. Đoàn Thể thao Việt Nam giành tổng cộng 25 huy chương (03 huy chương vàng, 03 huy chương bạc và 19 huy chương đồng), xếp thứ 20 toàn đoàn tại Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 20 (ASIAD 20).
Tai nạn giao thông[7]: Trong mười tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 12.815 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7.886 người và bị thương 7.485 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,9%; số người chết giảm 10,0%; số người bị thương giảm 26,3%. Bình quân một ngày trong mười tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người, bị thương 25 người.
Thiệt hại do thiên tai[8]: Thiệt hại do thiên tai trong tháng Mười chủ yếu do mưa lốc, giông sét. Tính chung mười tháng năm nay, thiên tai làm 85 người chết và mất tích, 100 người bị thương; hơn 104,0 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 11,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 4.157,9 tỷ đồng, giảm 93,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ: Tính chung mười tháng năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 15.633 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 12.542 vụ với tổng số tiền phạt 225,0 tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước. Trên địa bàn cả nước xảy ra 2.477 vụ cháy, nổ, làm 89 người chết và 119 người bị thương, thiệt hại ước tính 713,1 tỷ đồng, gấp hơn 2,3 lần cùng kỳ năm trước./.
[1] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 01/11/2026.
[2] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).
[3] Số liệu ước tính trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Mười do Cục Hải quan cung cấp ngày 01/11/2026.
[4] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa mười tháng năm 2025 đạt 763,72 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 391,61 tỷ USD, tăng 16,4%; nhập khẩu đạt 372,11 tỷ USD, tăng 18,8%.
[5] Một số mặt hàng nhập siêu cao: Điện tử, máy tính và linh kiện 65,84 tỷ USD; xăng dầu 9,06 tỷ USD; chất dẻo 8,78 tỷ USD; than các loại 7,51 tỷ USD; dầu thô 7,26 tỷ USD; sản phẩm hóa chất 5,02 tỷ USD; hóa chất 4,83 tỷ USD.
[6] Kỳ báo cáo từ ngày 26/9/2026-25/10/2026.
[7] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam (Bộ Xây dựng) ngày 23/10/2026.
[8] Tổng hợp Báo cáo từ 34 Sở Nông nghiệp và Môi trường, kỳ báo cáo từ ngày 22/9/2026-23/10/2026.

Những tín hiệu tích cực của thị trường lao động trong 9 tháng năm 2026
Thị trường lao động Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 có nhiều chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động và số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân tháng của người lao động được cải thiện; tình trạng thiếu việc làm, lao động phi chính thức và lao động không sử dụng hết tiềm năng có xu hướng giảm. Đáng chú ý, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ, đồng thời việc làm trong các ngành kinh tế số tiếp tục được mở rộng. (12/10/2026)
Phát triển y học cổ truyền Việt Nam gắn với chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước
Y học cổ truyền không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khỏe và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, cần bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc, biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. (10/08/2026)
Hoàn thiện quy định về phổ biến thông tin thống kê quốc gia
Thông tin thống kê đầy đủ, chính xác, kịp thời và minh bạch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2026/NĐ-CP tiếp tục góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ biến thông tin thống kê quốc gia, nâng cao hiệu quả công bố, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Chuẩn hóa chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia phục vụ công tác quản lý và điều hành
Dữ liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2026/NĐ-CP góp phần tiếp tục hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê cấp quốc gia; nâng cao chất lượng cung cấp, tổng hợp và sử dụng thông tin thống kê trong giai đoạn mới. (21/05/2026)
Thống kê nơi vùng biên
18 năm làm nghề, anh Nguyễn Văn Toàn, Trưởng Thống kê cơ sở Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên không thể quên những lần cùng ăn, cùng ngủ với đồng bào dân tộc Lào, dân tộc Mông, dân tộc Thái. (06/05/2026)
Ngành thống kê hội nhập, tính toán GDP theo chuẩn quốc tế
Sự hỗ trợ của Uỷ ban Thống kê Liên Hợp quốc, UNDP, WB, ADB, IFC, ILO những năm sau đổi mới đã thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành thống kê, nâng chất lượng số liệu thống kê Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế. (05/05/2026)